luận văn nghiệp vụ bao thanh toán (factoring) – thực trạng và giải pháp tại các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 13

i
Luận văn

Nghiệp vụ bao thanh toán (Factoring) – Thực trạng
và giải pháp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
ii

MỤC LỤC

MỤC LỤC
DANH MỤC BANG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH
TOÁN(FACTORING) 4
1.1.Sự ra đời và phát triển của factoring. 4
1.2.Những nội dung cơ bản vềfactoring. 7
1.2.1.Khái niệm vềfactoring. 7
1.2.2.Đặc điểm của factoring. 9
1.2.3.Sự khác nhau cơ bản giữa factoring và một số hình thức tài trợ

2.2. Thực trạng hoạt động factoring tại một số ngân hàng thương mại Việt
Nam. 35
2.2.1. Số lượng các ngân hàng tham gia cung cấp dịch vụ factoring. 35
2.2.2. Quy trình thực hiện factoring tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam. 38
2.2.3. Quy mô, doanh số Factoring. 44
2.3. Rủi ro đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam khi thực hiện
nghiệp vụ factoring. 47
2.3.1.Rủi ro tín dụng. 47
2.3.2.Rủi ro gian lận. 48
2.3.3.Rủi ro thu nợ. 48
2.3.4.Rủi ro thanh khoản. 48
2.3.5.Rủi ro ngoại hối. 48
2.4. Đánh giá chung về tình hình phát triển nghiệp vụ factoring tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam. 48
2.4.1. Kết quả đạt được. 49
2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại. 50
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động
factoring. 52
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO
THANH TOÁN (FACTORING) TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM. 55
3.1. Sự cần thiết phát triển nghiệp vụ factoring tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam. 55
3.2. Triển vọng áp dụng nghiệp vụ factoring tại Việt Nam. 56
3.2.1. Năng lực của các ngân hàng thương mại Việt Nam. 56
iv

Bảng 2.5 : Doanh số factoring xuất nhập khẩu của Vietcombank giai đoạn 2007-
2011. 46
Bảng 2.6 : Doanh số nghiệp vụ factoring nội địa của ngân hàng VIB. 47
Bảng 3.1 : Quy mô vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại Việt Nam. 57
Bảng 3.2. Tỷ lệ CAR một số ngân hàng thương mại Việt Nam. 57
Bảng 3.3. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam và một số ngân hàng
thương mại. 58
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Doanh số bao thanh toán FCI giai đoạn 2007 - 2011. 6
Biểu đồ 1.2: Thị phần về doanh số bao thanh toán của FCI so với toàn thếgiới giai
đoạn 2007 - 2011. 7
Biểu đồ 1.3: Thị phần doanh số factoring các châu lục trên thế giới năm 2011. 25
Biểu đồ 1.4 : Tình hình doanh số factoring của một số nước Asean. 26
Biểu đồ 1.5 : Doanh số factoring của Anh trong năm 2011. 27
Biểu đồ 1.6 : Doanh số factoring của Ý trong giai đoạn 2007 - 2011. 28
Biểu đồ 1.7 : Doanh số factoring của Trung Quốc giai đoạn 2007 – 2011. 29
Biểu đồ 2.2 : Doanh thu Factoring theo nhóm dịch vụ của Việt Nam trong giai đoạn
2008-2011. 45
vi

SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện nghiệp vụ Factoring theo hệ thống một đơn vị bao
thanh toán 15
Sơ đồ 1.2: Quy trình thực hiện nghiệp vụ Factoring theo hệ thống hai đơn vị bao
thanh toán 16
Sơ đồ 2. 1a: Quy trình thực hiện bao thanh toán trong nước của ACB. 39
Sơ đồ 2.1b: Quy trình thực hiện bao thanh toán xuất khẩu của ACB. 40

ngân hàng quốc tế, lĩnh vực này đã dần trở thành một lĩnh vực quan trọng đối với
mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh đó, để gặt hái được những thành công hơn
nữa trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện
nay luôn nỗ lực để đạt được mục tiêu của mình bằng chiến lược đa dạng hóa sản
phẩm, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Bao thanh toán là một sản phẩm được
đưa vào chiến lược phát triển của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam gần đây.
Mặc dù, trên thị trường tài chính ngân hàng quốc tế, bao thanh toán không còn mới
mẻ, nhưng ở Việt Nam, dịch vụ này vẫn còn khá mới lạ và việc phát triển dịch vụ
vẫn còn gặp nhiều khó khăn với lượng doanh số còn khiêm tốn. Với mục tiêu
nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn dịch vụ bao thanh toán, em đã chọn đề tài “Nghiệp
2
vụ bao thanh toán (Factoring) – Thực trạng và giải pháp tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nghiệp vụ bao thanh toán
(Factoring).
Thứ hai, nghiên cứu về thực trạng nghiệp vụ bao thanh toán (Factoring) tại
các ngân hàng thương mại Việt Nam, đánh giá chung về tình hình phát triển, những
thành tựu đạt được, cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện
phát triển nghiệp vụ bao thanh toán (Factoring).
Thứ ba, đề xuất một số những giải pháp và đưa ra một số những kiến nghị
nhằm phát triển dịch vụ bao thanh toán (Factoring) tại các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Dịch vụ bao thanh toán được phổ biến dưới hai hình thức : Factoring và
Forfaiting. Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ tập trung vào một hình
thức của hoạt động bao thanh toán : Factoring trong giai đoạn 2007 - 2011. Vì vậy,

Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Hoàng Hải Ly 4
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH
TOÁN(FACTORING)
1.1.Sự ra đời và phát triển của factoring.
Một số học giả cho rằng nghiệp vụ bao thanh toán bắt nguồn từ khoảng 2000
năm về trước dưới thời đế chế La Mã, xuất phát từ hoạt động đại lý hưởng hoa hồng.
Bên cạnh đó, một số ý kiến khác lại cho rằng Factoring bắt đầu hình thành từ nền

được quyền bán hàng của họ trên cơ sở tín dụng thương mại và hóa đơn thương mại
của chính các đại lý, đồng thời cũng bắt các đại lý phải chịu trách nhiệm về các
khoản tín dụng thương mại này bằng khoản tiền ứng trước để trả cho phí cảng,
thuế, và tiền hàng cho họ.
Thế kỷ 19 đánh đấu một sự biến chuyển mạnh mẽ của factoring thông qua
các đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ, hay trong các ngành công nghiệp điện,
hóa chất, sợi tổng hợp Và khi nền kinh tế Mỹ vững mạnh, các mối quan hệ lệ
thuộc giữa Mỹ và Châu Âu không còn tồn tại nữa, nhu cầu sử dụng các đại lý
thương mại tại thị trường nước ngoài đã giảm xuống. Nhờ vào những nguồn lực
trong nước, và việc áp đặt biểu thuế gắt gao với hàng hóa nước ngoài, nhu cầu nhập
khẩu hàng hóa giảm xuống. Các đại lý bao thanh toán bấy giờ đã điều chỉnh dịch vụ
của mình theo nhu cầu của nền kinh tế, tập trung chủ yếu vào các hoạt động tín
dụng, thu nợ, kế toán Factoring nội địa ra đời, nhằm đáp ứng nhu cầu bán hàng
trong phạm vi biên giới một quốc gia.
Đầu thế kỷ 20, bao thanh toán phát triển rộng hơn sang các ngành công
nghiệp khác, như phụ kiện, đồ may mặc, đồ nội thất Các đại lý bao thanh toán
đưa ra hình thức bao thanh toán mua lại các khoản phải thu dựa trên cơ sở hóa đơn
thương mại . Từ đó, bao thanh toán đã thực sự có một chỗ đứng vững vàng trong
các hoạt động thương mại.
Hiện nay, các đơn vị bao thanh toán tồn tại dưới nhiều hình thức : một phòng
ban của một tổ chức tài chính lớn, hay tồn tại độc lập như một doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ bao thanh toán. Số lượng các factor trên thế giới có xu hướng ngày
càng gia tăng nhanh với mức lãi suất tăng cao. Sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ
bao thanh toán dẫn tới nhu cầu cấp thiết thành lập Hiệp hội bao thanh toán.
Đầu năm 1960, tổ chức các nhà bao thanh toán quốc tế IFG (International
Factor Group) ra đời với gần 70 thành viên là những ngân hàng, đơn vị bao thanh
toán độc lập của 47 quốc gia trên toàn thế giới. Với mục tiêu giúp các đơn vị bao
thanh toán thuận lợi trong quá trình hợp tác, IFG lập ra hệ thống bao thanh toán hai
đơn vị, hay còn gọi là hệ thống dịch vụ bao thanh toán quốc tế.
6


2007 : 58% 2008 : 59% 2009 : 59% 2010 : 56% 2011 : 57%
(Nguồn : www.factors-chain.com, Annual Review 2011)
Qua biểu đồ trên, ta có thể thấy đượ sự phát triển của Hiệp hội bao thanh
toán FCI hay sự chiếm ưu thế của FCI trong thị trường bao thanh toán trên toàn thế
giới.
1.2.Những nội dung cơ bản vềfactoring.
1.2.1.Khái niệm về factoring.
Đối với các ngân hàng, tổ chức tín dụng, hay các doanh nghiệp ở những
nước phát triển trên thế giới, khái niệm bao thanh toán đã trở nên phổ biến. Tuy
nhiên, khái niệm này vẫn còn khá mới mẻ với những doanh nghiệp xuất nhập khẩu
ở Việt Nam. Vậy thực chất bao thanh toán là gì và dịch vụ bao thanh toán được
cung cấp nhằm mục đích gì. Để trả lời cho những câu hỏi trên, trước hết cần làm rõ
bằng một số khái niệm về bao thanh toán.
Khái niệm 1 : “Hợp đồng Factoring (Factoring contract) là hợp đồng giữa
đơn vị bán và đơn vị bao thanh toán (Factors), theo đó, người bán có thể chuyển
nhượng cho các đơn vị bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng
mua bán hàn hóa/dịch vụ giữa người bán và người mua hàng. Đơn vị bao thanh toán
phải thực hiện ít nhất 2 trong 4 chức năng sau : (i) tài trợ cho bên bán, bao gồm các
khoản vay và thanh toán trước, (ii) quản lý các khoản liên quan tới các khoản phải
thu, (iii) thu hộ các khoản phải thu, (iv) bảo hiểm rủi ro thanh toán của con nợ”
(Điều 1, công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế 1998 - UNIDROIT
Convention on International Factoring – Ottawa, Canada, 28 May 1998).
Khái niệm 2 : “Hợp đồng Factoring là hợp đồng theo đó người bán có thể
hoặc sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu cho một đơn vị bao thanh toán (factor),
có thể với mục đích nhận tài trợ thương mại hoặc không, để nhận được ít nhất một
8

thực hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ. Trong
9
nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế sẽ có hai đơn vị bao thanh toán, một đơn vị bao
thanh toán tại nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị bao thanh toán tại nước của
nhà nhập khẩu.
2. Người bán hay nhà xuất khẩu (seller, exporter): các doanh nghiệp sản
xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ của khách hàng nhưng
chưa đến hạn thanh toán.
3. Người mua hàng (người mắc nợ) hay nhà nhập khẩu (buyer, debtor,
importer): hay còn gọi là người phải trả tiền, đó chính là người mua hàng hóa hay
nhận các dịch vụ cung ứng
1.2.2.Đặc điểm của factoring.
Về mặt hình thức, bao thanh toán được cung cấp chủ yếu dưới hai loại đó là
factoring và forfaiting. Bản chất của hai loại bao thanh toán này có những đặc điểm
khác nhau nhất định, từ đó quyết định tới mức độ phổ biến của hai loại bao thanh
toán này trong thực tế. Trên thế giới, factoring thường được áp dụng phổ biến hơn
là forfaiting.
Forfaiting có thể hiểu là loại hình bao thanh toán tuyệt đối, tức là một hình
thức tài trợ thương mại của tổ chức tín dụng cho người xuất khẩu theo phương thức
miễn truy đòi. Đối tượng áp dụng của nghiệp vụ forfaiting là các khoản phải thu
trung và dài hạn có nguồn gốc từ các hợp đồng mua bán hàng hóa và dịch vụ với
điều kiện các khoản phải thu phải được bảo lãnh thanh toán bởi một ngân hàng có
uy tín.
Factoring, hay còn gọi là bao thanh toán tương đối,trước hết là một hình thức
cấp tín dụng ngắn hạn của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng. Khi thực hiện nghiệp
vụ factoring, tổ chức tín dụng ứng trước cho khách hàng của mình một khoản tiền
nhất định thấp hơn giá trị thực tế của các khoản phải thu.

và năng lực bên vay vốn.
Hình thức cấ
p tín
dụng
ứng trước cho bên bán hàng (dựa
trên hóa đơn bán hàng).
Cấp vốn cho bên vay (dựa
trên tài sản đảm bảo bên vay)
Thu nợ
Thu nợ từ bên mua hàng. Thu nợ từ bên vay.
Chức năng Theo dõi bán hàng và các khoản
phải thu từ bên mua
Theo dõi, kiểm tra tình hình
sử dụng vốn bên vay.

1.2.3.2. Sự khác nhau giữa factoring với tài trợ các khoản phải thu.
Tiêu chí Bao thanh toán Tài trợ các khoản phải thu
Chủ thể tham
gia
Ba bên gồm : Factor, người mua
hàng, người bán hàng.
Hai bên : ngân hàng (tổ chức
tín dụng) và bán hàng.
Hạn mức tín
dụng
Tùy thuộc vào loại hình bao
thanh toán, dựa trên cơ sở hóa
đơn thương mại.
Tài trợ thường được cấp cho
người xuất khẩu dựa vào từng

cho người mua hàng một hạn mức tín dụng (mục đích để thanh toán tiền hàng), lúc
người mua ký hợp đồng mua bán hàng hóa với người bán, thì giá trị khoản phải thu
phải nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức còn lại của người mua. Khi đó, nếu như không có
tranh chấp giữa người mua và người bán thì khoản phải thu ấy được gọi là khoản
phải thu được bảo hiểm. Cần lưu ý một điều rằng, nếu khoản phải thu có giá trị lớn
hơn hạn mức còn lại của người mua, thì giao dịch mua bán vẫn được thực hiện,
nhưng giá trị khoản phải thu sẽ tăng thêm sẽ không được đơn vị bao thanh toán bảo
hiểm, tức là không thanh toán, nếu người mua mất khả năng thanh toán, hoặc không
thanh toán trong vòng 90 ngày.
(ii) Tài trợ / ứng trước.
Với chức năng này. đơn vị bao thanh toán cam kết sẽ ứng trước cho người
bán một số tiền với tỉ lệ khoảng 70 – 90% giá trị các khoản phải thu đạt tiêu chuẩn.
Khi khoản phải thu được thanh toán, thì người bán sẽ nhận tiếp số tiền còn lại sau
khi đã trừ đi phí và lãi.
(iii) Quản trị sổ sách các khoản phải thu.
Đơn vị bao thanh toán sẽ quản lý hóa đơn, các giấy nhận nợ và các khoản
thanh toán liên quan đến người mua. Khi thích hợp thì đơn vị bao thanh toán sẽ gửi
thông báo cho người mua về việc người bán đã chuyển nhượng các khoản phải thu
cho đơn vị bao thanh toán. Và người mua phải thanh toán tiền cho đơn vị bao thanh
toán. Người bán sẽ nhận các báo cáo hàng kỳ về tình trạng của sổ quản lý các khoản
12
phải thu. Điều này sẽ giúp cho người bán biết được khả năng thanh toán của người
mua.
(iv) Thu nợ các khoản phải thu.
Một trong những vấn đề trong việc sử dụng phương thức thanh toán mở sổ là
người mua không thanh toán cho người bán khi chưa nhận được hàng hóa. Đơn vị
bao thanh toán sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách thay doanh nghiệp đòi nợ nếu

hoạt động bao thanh toán, tham gia vào quy trình bao thanh toán xuất nhập khẩu”.
1.2.5.2.Phân loại theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro thanh toán.
Factoring có truy đòi (with recourse/ recourse Factoring) : là hình thức bao
thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước
cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh
toán khoản phải thu.
Factoring miễn truy đòi (without recourse/ non-recourse Factoring) : là hình
thức bao thanh toán, trong đó đơn vị bao thanh toán chịu mọi rủi ro đối với số tiền
đã ứng trước cho bên bán khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ
thanh toán khoản phải thu.
Trong loại hình bao thanh toán này, đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi
lại số tiền đã ứng trước cho bên mua hàng trong trường hợp bên mua từ chối thanh
toán các khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hoặc vì lý
do khác không liên quan tới khả năng thanh toán của bên mua hàng.
1.2.5.3.Phân loại theo phạm vi áp dụng nghiệp vụ Factoring đối với số
lượng các hóa đơn của một người bán hàng cụ thể.
Factoring toàn bộ (whole Factoring) : là việc thực hiện bao thanh toán cho
toàn bộ các hóa đơn thương mại phát hành ra của một người bán hàng.
Factoring một phần (partial Factoring): là việc thực hiện bao thanh toán cho
một số các hóa đơn phát hàng của người bán hàng đòi tiền một số người mua hàng
cụ thể.
1.2.5.4.Phân loại theo phương thức thực hiện Factoring.
Factoring từng lần : là hình thức đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực
hiện các thủ tục cần thiết và kí kết hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải
thu của khách hàng.
Factoring hạn mức : là hình thức đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa
thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian
nhất định.
14


Nghiệp vụ Factoring theo hệ thống một đơn vị bao thanh toán được thực hiện
với sự tham gia của ba bên bao gồm : người bán (khách hàng của factor), người
15
mua (con nợ của factor), đơn vị bao thanh toán (fator). Quy trình thực hiện nghiệp
vụ này được thể hiện chi tiết qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 : Quy trình thực hiện nghiệp vụ Factoring theo hệ thống một đơn vị
bao thanh toán
(1)
Người bán
(khách hàng)

( 6)
Người mua
(con nợ) (2) (4) (5) (7) (8) (11) (3) (9) (10)

(1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng và ký kết hợp đồng.
(2) Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán tài trợ với tài sản đảm bảo chính là
khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa.
(3) Đơn vị bao thanh toán thẩm định khả năng thanh toán tiền của người mua.
(4) Nếu xét thấy có thể thu được tiền hàng từ người mua theo đúng hạn hợp đồng
mua bán, đơn vị bao thanh toán sẽ thông báo đồng ý tài trợ cho người bán.
(5) Đơn vị bao thanh toán và người bán thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh
toán.
(6) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua

theo ủy quyền của factor xuất khẩu và xam kết thanh toán thay cho bên nhập khẩu
trong trường hợp bên nhập khẩu không có khả năng thanh toán khoản phải thu.
Quy trình thực hiện nghiệp vụ này được thể hiện chi tiết qua sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.2 : Quy trình thực hiện nghiệp vụ Factoring theo hệ thống hai đơn vị
bao thanh toán
(1)

(7) (2) (5) (6) (8) (9) (13) (4) (10) (11)

(3)
(5)
(8)
(12)

Người mua
(người nhập khẩu)
Người bán
(người xuất khẩu)
Đơn vị bao thanh toán
xuất khẩu
Đơn vị bao thanh toán
nhập khẩu
17
(1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng trên hợp đồng mua bán

công việc cần thực hiện. Đơn vị bao thanh toán sẽ thực hiện tất cả những nhiệm vụ
đó cho người bán.
Khi thực hiện bao thanh toán quốc tê, đơn vị bao thanh toán xuất khẩu phải
tạo mối quan hệ với đơn vị bao thanh toán nhập khẩu. Điều này đảm bảo cho các
khoản phải thu được thanh toán đúng hạn thông qua đơn vị bao thanh toán nhập
khẩu. Đây chính là tính ưu việt của bao thanh toán so với các loại hình thanh toán
khác, nó làm giảm nhẹ gánh nặng về khả năng thu hồi tiền cho người bán.
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, việc thiếu thông tin
về thị trường và bên mua, đặc biệt là khả năng thu hồi nợ nhanh là những trở ngại
rất lớn khi phải quyết định bán hàng theo điều kiện trả chậm cho khách hàng nước
ngoài. Đồng thời, hiện nay, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, bên mua
ngày càng đòi hỏi các phương thức thanh toán thuận lợi hơn so với những phương
thức truyền thống. Do vậy, bao thanh toán trở thành một công cụ rất hiệu quả đối
với những nhà xuất khẩu muốn bán hàng theo phương thức trả chậm, mà lại tránh
được rủi ro.
(ii) Lợi thế về tài chính :
Bao thanh toán giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn được nhận vốn từ
ngân hàng dù không có tài sản thế chấp, đồng thời, giúp họ tăng hạn mức tín dụng.
Còn về phía đơn vị bao thanh toán, có thể yên tâm khi biết được vốn của mình được
sử dụng nhằm mục đích gì.
Khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán, các doanh nghiệp được ứng trước một
số tiền của khoản phải thu để quay vòng vốn kinh doanh. Điều này giúp giải quyết
được vấn đề vốn lưu động hạn chế đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước.
1.2.7.2.Lợi ích của các bên khi sử dụng Factoring.
(i) Đối với người bán (người xuất khẩu):
Thứ nhất, cải thiện dòng lưu chuyển tiền tệ nhờ thu được tiền hàng nhanh
hơn. Lượng tiền mặt có sẵn tại doanh nghiệp tăng lên, góp phần thúc đẩy hoạt động

hóa đơn thành tiền mặt nhờ vào dịch vụ factoring. Nhờ đó mà người bán có thể tiếp
tục cung cấp tín dụng thương mại cho người mua mà không cần lo tới rủi ro thanh
khoản nữa. Theo đó, người bán có thể nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ sẵn sàng
chấp nhận kéo dài khoảng thời hạn thanh toán cho các hóa đơn thương mại.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ chuyên môn hóa sản xuất.
Khi chấp nhận bán chịu cho người mua, người bán còn phải dành thời gian
vào việc quản lý khoản phải thu từ người mua. Nếu như người bán sử dụng dịch vụ
factoring, công việc này sẽ được chuyển sang cho đơn vị cung cấp dịch vụ factoring.
Người bán tiết kiệm được thời gian, chi phí để duy trì và điều hành bộ phận chuyên

Trích đoạn Nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động Sự cần thiết phát triển nghiệp vụ factoring tại các ngân hàng thương Năng lực của các ngân hàng thương mại Việt Nam Nhu cầu về dịch vụ factoring ngày càng tăng Giải pháp chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status