Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam (FULL) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN BANG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN
TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 62.38.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH, năm 2017


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Cấp tín dụng là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại (NHTM), là một
kênh quan trọng đáp ứng các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế - xã hội, góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Về
bản chất, cấp tín dụng là hoạt động kinh tế, do vậy nó cũng chịu sự tác động và điều
tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, cấp tín dụng là hoạt động
kinh doanh đặc biệt, liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể, chứa đựng sự rủi ro, dễ
tác động dây chuyền đến các hoạt động kinh tế khác. Chính vì vậy, bảo đảm an toàn
trong hoạt động cấp tín dụng (HĐCTD) của các NHTM Việt Nam là nhu cầu rất cần
thiết, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.

làm luận án tiến sĩ Luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Luận án “Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các
ngân hàng thương mại Việt Nam” có mục đích trước hết là làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM; Đồng thời
phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm an toàn trong HĐCTD
của các NHTM và thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật này, trên cơ sở đó đề
xuất định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp
luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM tại Việt Nam.
Để thực hiện được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
Thứ nhất, phân tích, đánh giá có hệ thống những công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước có liên quan đến pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các
NHTM, trên cơ sở đó tiếp thu những kết quả nghiên cứu đã đạt được, đồng thời tiếp
tục nghiên cứu phát triển những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong
HĐCTD của các NHTM;
Thứ hai, làm sáng tỏ sự tất yếu phải bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các
NHTM thông qua việc phân tích rõ bản chất HĐCTD của các NHTM và những rủi ro
của nó; khái niệm, tiêu chí đánh giá và nội dung của bảo đảm an toàn trong HĐCTD
của các NHTM. Từ đó, làm sáng tỏ khái niệm, vai trò, nội dung cũng như yêu cầu của
pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM;
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật
về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM Việt Nam nhằm phát hiện những hạn
chế, bất cập trong các quy định của pháp luật và những khó khăn, vướng mắc trong
thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM Việt Nam;
Thứ tư, xác định những định hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật và đề
xuất những giải pháp, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp
luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

thời hạn trả nợ; chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ; mua bán nợ, sử dụng dự phòng rủi ro
và một số quy định khác có liên quan).
Thứ tư, tác giả đề tài luận án chỉ nghiên cứu pháp luật về bảo đảm an toàn trong
HĐCTD của các NHTM Việt Nam mà không nghiên cứu pháp luật về bảo đảm an
toàn trong HĐCTD của các tổ chức tín dụng (TCTD) khác như TCTD phi ngân hàng,
tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân
hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về khoa học:
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề lý luận của pháp luật về
bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM. Thông qua việc nghiên cứu, phân tích
sự tất yếu phải bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM; khái niệm, vai trò, nội
dung , yêu cầu cũng như phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm an toàn
trong HĐCTD của các NHTM sẽ đóng góp những luận cứ khoa học cho việc hoàn
thiện pháp luật về đảm bảo an toàn trong HĐCTD của các NHTM Việt Nam nói
riêng và pháp luật ngân hàng Việt Nam nói chung.


Về thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa cho các nhà làm luật tham khảo khi xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về HTNH ở Việt Nam. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn
để các nhà quản lý tham khảo các cách thức tổ chức, quản lý HĐNH, HTNH ở Việt
Nam; Đóng góp các ý kiến để các ngân hàng, các chủ thể có liên quan nâng cao hơn
nữa vấn đề an toàn trong HĐNH, tăng cường hiệu quả hoạt động của mình.

5. Những điểm mới của luận án
Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, đề tài đã nghiên cứu,
phân tích và có một số điểm mới cơ bản như sau:
Về lý luận: khác với những công trình nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài

hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các
NHTM; tiếp thu những kinh nghiệm, chuẩn mực và thông lệ quốc tế về bảo đảm an
toàn HĐNH. Đặc biệt, định hướng cốt lõi là cần bảo đảm hài hòa hóa lợi ích giữa các
chủ thể trong quan hệ tín dụng; bảo đảm sự phù hợp và bền vững trong việc điều chỉnh
bằng pháp luật đối với bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM; chấm dứt sự
lũng đoạn ngân hàng cũng như kiểm soát tốt HĐNH.
Từ đó, đề tài phân tích ba giải pháp chủ yếu là quy định nghĩa vụ của NHTM về
bảo đảm an toàn trong HĐCTD; giám sát chặt chẽ trạng thái an toàn trong HĐCTD
của NHTM và quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm an toàn
trong HĐCTD của NHTM. Trên cơ sở đó, đề tài kiến nghị sửa đổi, bổ sung hệ thống
pháp luật hiện hành tập trung vào Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và Luật Các tổ
chức tín dụng năm 2010 cũng như kiến nghị bảo đảm cơ chế thực hiện pháp luật về
bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM.

6. Kết cấu của luận án
Ngoài lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án
gồm 04 chương như sau:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu;
Chương 2. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt
động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại;
Chương 3. Thực trạng pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng
của các ngân hàng thương mại Việt Nam;
Chương 4. Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng
của các ngân hàng thương mại Việt Nam.


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM là vấn đề rộng và phức tạp, hiện
nay còn có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này. Với mục đích và
trong phạm vi của đề tài luận án, bảo đảm an toàn trong HĐCTD là hoạt động của

Kinh tế: “Giải pháp hoàn thiện quy chế bảo đảm an toàn trong cho vay của các ngân
3

hàng thương mại Việt Nam” , rút ra quan niệm về an toàn trong hoạt động cho vay là
việc NH
thu hồi được đầy đủ và đúng hạn số tiền đã cho vay (cả gốc và lãi). Cùng với đó, an
toàn
1

Vũ Đình Ánh, “An ninh tài chính trong hoạt động ngân hàng”, Tạp chí Tài chính tháng 9 năm 2001.
Lê Thị Thuỳ Vân, “Bảo đảm an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2012-2013
và thách thức chính sách trong những năm tiếp theo”, Tạp chí Ngân hàng, số 1,2 tháng 01 năm 2014.
3
Nguyễn Văn Hưng (2003), Giải pháp hoàn thiện quy chế bảo đảm an toàn trong cho vay của các ngân hàng
thương mại Việt Nam”, luận án tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
2


trong cho vay còn bao hàm cả việc bảo đảm cho sự phát triển ổn định của doanh nghiệp
và của cả nền kinh tế. Như vậy, hai tác giả Nguyễn Văn Hưng và Lê Thị Thuỳ Vân đều
khẳng định khía cạnh quan trọng của an toàn là sự ổn định. Tuy nhiên tác giả Nguyễn
Văn Hưng có đề cập trực tiếp đến an toàn trong cho vay thông qua việc NH thu hồi
được số tiền gốc và lãi cho vay.
Theo quan điểm của tác giả luận án, “an ninh” và “an toàn” là những thuật ngữ
có liên quan mật thiết với nhau, nhiều lúc có thể được sử dụng tương đồng với nhau,
nhưng không đồng nhất với nhau, bởi lẽ cả hai thuật ngữ trên đều chỉ một “trạng thái”
của một chủ thể (hay một hoạt động) nhất định mà không bị nguy hiểm từ các yếu tố
bên trong và bên ngoài tác động vào. Tuy nhiên thuật ngữ an ninh (tiếng Anh là
security) khác với an toàn (tiếng Anh là safety) ở chỗ nó chỉ những mức độ chống lại
hoặc bảo vệ từ các tác nhân nguy hại và được sử dụng khá rộng trong các lĩnh vực của

ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
5
Tạ Chương Lâm (2009), Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại
tại
Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.


toàn cho hoạt động ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập với hệ thống tài
6

chính, tiền tệ quốc tế” . Theo tác giả Lê Văn Luyện, đảm bảo an toàn cho HĐNH trong
điều kiện hội nhập với hệ thống tài chính, tiền tệ quốc tế là việc đảm bảo các điều kiện
cần thiết và trợ giúp cho HTNH nâng cao sức cạnh tranh, duy trì được sự phát triển bền
vững, hiệu quả trong quá trình hội nhập quốc tế. Cách tiếp cận này phân tích bảo đảm
an toàn trong HĐNH gắn với yêu cầu của quá trình hội nhập NH, thông qua đó nhấn
mạnh các yếu tố cạnh tranh, phát triển bền vững và hiệu quả trong HĐNH.
Tác giả Kim Thị Huyền, trong luận văn thạc sĩ Luật học “Vấn đề bảo đảm an
toàn trong hoạt động ngân hàng gắn với quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín
7

dụng, cho rằng bảo đảm an toàn trong HĐNH là những quy phạm pháp luật mà Nhà
nước đặt ra nhằm quản lý, xác lập và tăng cường sự an toàn, hiệu quả trong các hoạt
động huy động vốn, cấp tín dụng, kinh doanh ngoại tệ và cung cấp các dịch vụ thanh
toán của các TCTD.
Theo tác giả luận án, nếu coi an toàn trong HĐCTD là trạng thái không bị nguy
hiểm từ các tác nhân bên trong và bên ngoài theo một mức độ rủi ro có thể chấp nhận
được, thì bảo đảm an toàn trong HĐCTD là hoạt động của những chủ thể nhất định
nhằm giữ (hay duy trì) được sự an toàn, bảo vệ cho HĐCTD không bị những thiệt hại
do các tác nhân bên trong và bên ngoài NH tác động vào, đồng thời duy trì được một
mức độ rủi ro có thể chấp nhận được.

nghiên cứu có điểm khác như thế nào so với hai luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Phạm
Thanh Chung và tác giả Tạ Chương Lâm như vừa được đề cập ở trên?
Tuy tên đề tài có những nét tương đồng nhất định liên quan đến pháp luật về bảo
đảm an toàn trong HĐNH, nhưng sự khác biệt trước hết về đối tượng được nghiên cứu:
tác giả Phạm Thanh Chung xác định đối tượng nghiên cứu là pháp luật về bảo đảm an
toàn trong HĐCTD của các tổ chức tín dụng bao gồm các NH, tổ chức tín dụng phi
NH và các loại hình TCTD khác; tác giả Tạ Chương Lâm xác định đối tượng nghiên
cứu là pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐNH của các NHTM. HĐNH bao gồm ba
hoạt động cơ bản nhất là huy động vốn, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản. Như vậy đối tượng nghiên cứu trong hai luận văn của các tác giả trên là
rộng hơn so với đề tài luận án tác giả nghiên cứu. Vì vậy, tác giả đề tài luận án có cơ
hội nghiên cứu sâu hơn về pháp luật bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM. Bên
cạnh đó, nghiên cứu của hai tác giả nêu trên từ khá lâu (tác giả Phạm Thanh Chung
bảo vệ năm 2005 và tác giả Tạ Chương Lâm bảo vệ năm 2009) trong bối cảnh Luật
Ngân hàng nhà nước năm
1997 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 đang có hiệu lực. Nhưng đến nay, hệ
thống pháp luật hiện hành ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi so với thời điểm trước với
sự ra đời của Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 và hàng loạt các văn bản mới có hiệu lực thì
cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm an toàn trong HĐNH có nhiều thay đổi so với trước. Vì
vậy đề tài luận án mà tác giả nghiên cứu có nhiều điểm mới hơn so với các đề tài tương
tự trước đó.
Tóm lại, có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến khía
cạnh bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM. Nội dung các nghiên cứu nêu trên
tập trung vào các vấn đề như: quan niệm về an toàn trong HĐNH cũng như bảo đảm an
toàn trong HĐNH. Tuy vậy, những quan niệm về an toàn và bảo đảm an toàn trong
HĐNH cần tiếp tục phải nghiên cứu chi tiết hơn; một số công trình tiếp cận bảo đảm an
toàn trong HĐCTD của các NHTM ở các khía cạnh cụ thể như hội nhập quốc tế, an
toàn và an ninh tài chính; một số công trình phân tích các khía cạnh bảo đảm an toàn
trong HĐNH từ khá lâu, không bảo đảm tính cập nhật... Mặc dù vậy, các nghiên cứu

NHTM mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, chưa nhận được sự quan tâm thích đáng.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐNH
thông qua việc phân tích vai trò, tác động cũng như mức độ điều chỉnh bằng pháp luật
đối với sự an toàn trong HĐNH, hai giáo sư Jeroen Klomp và Jacob De Haan, trong
9

tác phẩm: “Banking risk and regulation: does one size fit all?” (tạm dịch: rủi ro NH
và sự điều chỉnh của pháp luật: liệu sự điều chỉnh có phù hợp với tất cả ngân hàng?),
đã sử dụng dữ liệu từ hơn 200 ngân hàng từ 21 quốc gia trong Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (tiếng Anh: Organization of Economic Co-operation and
Development - OECD), trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến 2008, nhằm xem xét
ảnh hưởng của các quy định pháp luật và giám sát NH đối với các rủi ro NH. Tác giả
kết luận các quy định pháp luật và giám sát NH có sự ảnh hưởng nhiều đến những NH
có rủi ro cao. Ngược lại, các quy định pháp luật và giám sát NH lại không có ảnh
hưởng lớn đến những NH có rủi ro thấp.
8

Nguyễn Ngọc Lương (2017), Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại ở
Việt Nam, luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
9
Jeroen Klomp, Jacob De Haan, “Banking risk and regulation: does one size fit all?” DNB Working Paper,


11/2011. Jeroen Klomp hiện đang công tác tại Trường Đại học Groningen, Hà Lan; Jacob De Haan là nhà nghiên
cứu về kinh tế ở Munich, Đức. Xem bài viết của các tác giả tại trang web: />%20Paper%20323_tcm46-261983.pdf.


Cùng với hướng nghiên cứu này, các giáo sư Abdelkader Boudriga, Neila Boulila
Taktak và Sana Jellouli có bài viết “Banking supervision and nonperforming loan: a
10

không thể thiếu của pháp luật là một trong những phương tiện quan trọng nhất nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp
nhằm bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM.

10

Abdelkader Boudriga, Neila Boulila Taktak and Sana Jellouli, “Banking supervision and nonperforming loan:
a cross – country analysis”, Journal of Financial Economic Policy, 4/2009. Abdelkader Boudriga là giáo sư
ngành tài chính học tại Trường Đại học Cathage và giáo sư thỉnh giảng Trường Đại học Orleans, Pháp; Neila
Boulila Taktak là giáo sư công tác tại Trường Đại học Tunis, Tunisia; còn Sana Jellouli đang giảng dạy tại
Trường Electronic Commerce, Tunis, Tunisia.
11
Tung-Hao Lee and Shu-Hwa Chih, “Does financial regulation affect the profit efficiency and risk of banks?
Evidence from China’commercial banks” North American Journal of Economics and Finance,
2013.
12
George Hanc, “The future of banking in America, summary and conclusion”, FDIC Banking Review, 16,
2004. Ông nguyên là Phó Chủ tịch Cơ quan Bảo hiểm và Nghiên cứu, Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Hoa
Kỳ.


Một trong những vấn đề quan trọng khi nghiên cứu pháp luật về bảo đảm an toàn
trong HĐNH là mức độ điều chỉnh của pháp luật đến sự an toàn HĐNH. Tiến sĩ
Nguyễn Văn Tuyến, trong bài viết “Xác định giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với
giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở
13

Việt Nam” , đã cho rằng, Nhà nước chỉ can thiệp đến bảo đảm an toàn trong hoạt
động của các NHTM ở tầm vĩ mô, nghĩa là thông qua việc xây dựng hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp, tạo cơ sở pháp lý an toàn và hiệu quả cho việc

mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11 năm 2003.
14
Roland Benediker là một nhà nghiên cứu về chính trị và xã hội tại Trung tâm Nghiên cứu quốc tế tại Trường
Đại học California tại Santa Barbara. Từ năm 2009-2013 là Giáo sư thỉnh giảng tại Trung tâm châu Âu của Đại
học Stanford. Đến nay, ông cộng tác, nghiên cứu và giảng dạy tại European University, Đức. Xem bài viết của
ông tại trang web:
al_banking_and_social_finance/
15
Ngô Quốc Kỳ (2003), Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.


ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM là: tính đặc thù về hoạt
động của NHTM, cơ chế quản lý kinh tế và trình độ phát triển kinh tế xã hội. Đó cũng
chính là những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh của pháp luật về bảo đảm an toàn
trong HĐCTD của NHTM. Trong luận án, bên cạnh việc phân tích những nội dung cơ
bản của pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM như cấp tín dụng, huy động vốn và
thanh toán, tác giả còn đánh giá thực trạng bảo đảm an toàn trong HĐNH, thông qua
đó đưa ra giải pháp hoàn thiện bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM, bao gồm
những nội dung cơ bản như dự trữ bắt buộc, dự phòng rủi ro, bảo hiểm tiền gửi, thanh
tra, kiểm tra, giám sát NH.
Có thể nhận thấy, pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM có nội dung rất
rộng, vì nó bao gồm các quy định về huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ
thanh toán qua tài khoản. Với phạm vi của đề tài luận án tiến sĩ, tác giả Ngô Quốc Kỳ
đã cố gắng nghiên cứu khá toàn diện những vấn đề trên. Song cũng vì đó mà tác giả
chưa đi sâu phân tích pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM. Mặt
khác những biện pháp bảo đảm an toàn trong HĐNH mà tác giả đã đề cập bao gồm dự
trữ bắt buộc, dự phòng rủi ro, bảo hiểm tiền gửi, thanh tra, kiểm tra, giám sát NH cần
tiếp tục phải làm sáng tỏ trong mối liên hệ với bảo đảm an toàn trong HĐCTD.
Tóm lại, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước

cứu và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM Việt
Nam. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu từ công trình này, đặc biệt liên quan đến cơ
sở lý luận của pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay; kinh nghiệm xây
dựng pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay tại Anh, Hoa Kỳ, Úc, Nga,
Nhật Bản cũng như những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt
động cho vay của TCTD. Từ đó, luận án tiếp tục làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn
về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM.
Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu bàn về khái niệm, phạm vi, nội dung của
phòng ngừa rủi ro trong HĐNH ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó có hạn chế rủi ro,
quản lý rủi ro, kiểm soát rủi ro và quản trị rủi ro.
Tác giả Lê Thị Ngân Hà, trong luận văn thạc sỹ: “Pháp luật về hạn chế rủi ro
16

trong hoạt động thẩm định cho vay của ngân hàng thương mại” , đã phân tích tương
đối chi tiết những nội dung của hoạt động thẩm định cho vay cũng như rủi ro phát sinh
trong hoạt động này. Tuy không đề cập đến bản chất, nội dung cụ thể của hạn chế rủi
ro tín dụng, nhưng tác giả luận văn đã phân tích các khía cạnh của pháp luật điều chỉnh
hoạt động thẩm định cho vay nhằm hạn chế rủi ro như năng lực chủ thể của bên vay,
khả năng tài chính của bên vay, mục đích sử dụng vốn, phương án sử dụng vốn vay,
thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay.
Tiếp cận tương tự về hạn chế rủi ro nhưng ở góc độ rộng hơn, tác giả Đinh Thị
Thuỳ Nga, trong luận văn thạc sĩ Luật học: “Phân tích pháp luật về các biện pháp hạn
17

chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” , đã
phân tích những rủi ro, hệ quả của rủi ro và các tiêu chí đánh giá độ rủi ro trong hoạt
động cho vay của NHTM. Tuy vậy, tác giả Đinh Thị Thuỳ Nga vẫn chưa làm sáng tỏ
bản chất của hạn chế rủi ro mặc dù đây là vấn đề lý luận quan trọng của vấn đề được
nghiên cứu.
Có một số luận án, luận văn và bài viết về quản lý rủi ro trong HĐNH. Đáng kể

nhận mức độ mạo
hiểm, đồng nghĩa với việc duy trì mức độ rủi ro có thể chấp nhận
được.
Nghiên cứu về kiểm soát rủi ro tín dụng, tác giả Trần Vũ Hải có bài viết “Những
20

vấn đề pháp lý về hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng” . Trên cơ sở đưa ra những nội
dung của Basel về giám sát rủi ro tín dụng, tác giả đã phân tích và đưa ra một số giải
pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về kiểm soát rủi ro tín dụng. Mặc dù
không đưa ra khái niệm kiểm soát rủi ro, nhưng tác giả Trần Vũ Hải cho rằng các quy
định về kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm: hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội
bộ; quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng; quy định về các tỉ lệ bảo đảm an
toàn; quy định về hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nghiên cứu về quản trị rủi ro, tác giả Nguyễn Hữu Đương, trong bài viết “Đẩy
mạnh hoạt động thông tín tín dụng nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại các
21

ngân hàng thương mại Việt Nam” , đã phân tích lý thuyết hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông tin tín dụng; đưa ra kết quả điều tra của Ngân hàng thế giới về hiệu quả
hoạt động của thông tin tín dụng; đánh giá hiệu quả của hoạt động thông tin tín dụng
đối với HĐNH Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động
thông tin tín dụng NH tại Việt Nam nhằm bảo đảm an toàn HĐNH.
18

Lê Thị Huyền Diệu (2010), Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam, luận án tiến sỹ Kinh tế, Học viện Ngân hàng.
19
Trương Thị Anh Tú (2010), Pháp luật về quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng,
luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
20

24

chức tín dụng” , PGS.TS. Lê Thị Thu Thuỷ đã khẳng định rằng, các biện pháp bảo
đảm tiền vay góp phần tạo sự an toàn của các khoản cấp tín dụng, đồng thời nhấn
mạnh, các biện pháp này vừa đóng vai trò là các biện pháp bảo đảm hữu hiệu cho sự
chuyển giao các khoản vốn vừa đem lại sự dễ dàng được vay vốn của những người có
nhu cầu về vốn. Trong nghiên cứu của mình, tiến sỹ Lê Thị Thu Thuỷ cho rằng pháp
luật về các biện pháp bảo đảm tiền vay tiếp tục cần được hoàn thiện theo hướng tạo
thuận lợi hơn nữa cho các chủ thể tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay trong việc tiếp
nhận, xử lý tài
sản bảo đảm, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
TCTD.
Cũng theo hướng nghiên cứu này, TS Phạm Văn Tuyết và TS Lê Kim Giang,
25
trong sách tham khảo “Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay” , đã cho
22

Ross Levine, “The corporate governance of banks: A concise discussion of concept and evidence”, www.
elibrary.worldbank.org/.../10.../1813-9450-340. Ross Levine là một nhà kinh tế học người Mỹ, hiện đang làm
việc tại Trường Đại học California ở Berkeley. Ông cũng là một thành viên cao cấp tại Viện Milken, một thành
viên của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, và là cố vấn của Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Tính đến tháng 2 năm 2013,
ông là 13 nhà kinh tế được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới.
23
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, viết tắt là OECD, là một diễn đàn gồm 34 quốc gia có nền kinh tế thị
trường phát triển nhất thế giới cũng như 70 quốc gia không phải là thành viên. Mục đích của OECD là bàn bạc,
trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác. Trụ sở của OECD ở
Paris, Pháp. Xem thêm bài viết tại trang web: www.oecd.org/dataoecd/43/41/38187317.pdf.
24
Lê Thị Thu Thuỷ (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng, NXB Tư
pháp.

giới hạn cho vay; các quy định khác như cho vay hợp vốn, hoán chuyển rủi ro, bảo
hiểm tiền vay.
PGS.TS Phạm Thị Giang Thu và TS Nguyễn Ngọc Lương có bài viết “Hoàn
27

thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng” . Các tác giả
đã phân tích hình thức pháp lý của các quy định về phòng ngừa rủi ro tín dụng và
nguyên tắc xây dựng các quy định phòng ngừa và xử lý rủi ro; tiêu chí tài chính để xác
lập mức dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro; tiêu chí nhận diện khách hàng để thiết lập dự
phòng và xử lý rủi ro; phương pháp phân loại nợ; giới hạn tín dụng. Các tác giả cho
rằng, pháp luật cần đưa ra những quy định cụ thể nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi
ro của TCTD dựa trên việc yêu cầu xây dựng hệ thống lưu trữ, cập nhật và báo cáo
thông tin. Ngoài ra, nội dung bài viết còn bao gồm phân tích pháp luật về tiêu chí tài
chính để xác lập mức dự phòng và xử lý rủi ro, tiêu chí nhận biết khách hàng để thiết
lập dự phòng và xử lý rủi ro, phương pháp phân loại nợ…
Từ những công trình nghiên cứu trên, tác giả có một số nhận định sau đây:

26

Nguyễn Thị Thuỷ (2000), Phòng ngừa rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại bằng biện pháp pháp luật,
luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
27
Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương, “Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ
chức tín dụng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 3/2011.


Thứ nhất, mặc dù có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến bảo đảm an
toàn trong HĐCTD của các NHTM, nhưng hầu hết các nghiên cứu đó chưa chỉ rõ bản
chất, phạm vi, nội hàm của những vấn đề trên. Đặc biệt là chưa làm sáng tỏ mối quan
hệ giữa quản lý rủi ro, quản trị rủi ro, hạn chế rủi ro, kiểm soát rủi ro với phòng ngừa

quản lý tài sản (AMCs), thông qua việc chuyển giao những khoản nợ xấu từ NH cho
công ty quản lý tài sản.
Cũng theo hướng nghiên cứu này, tác giả Phạm Kim Thoa, trong luận văn thạc sỹ
Luật học “Pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt

28

John P. Bonin, Yiping Huang, “Dealing with the bad loans of the Chinese banks”, Jounal of Asean Economics,
197-214, 2001.


29

Nam” , đã phân tích những vấn đề chung về nợ xấu của NHTM nhà nước, đưa ra các
giải pháp xử lý nợ xấu, thành tựu và một số bất cập về pháp luật liên quan đến xử lý
nợ xấu, chỉ ra kinh nghiệm nước ngoài và một số đề xuất về giải pháp hoàn thiện
khung pháp luật về xử lý nợ xấu của NHTM nhà nước. Tác giả Phạm Kim Thoa đã
phân tích, đánh giá khá chi tiết các khía cạnh của pháp luật liên quan đến xử lý nợ xấu
như: pháp luật ngân hàng, pháp luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật doanh nghiệp,
pháp luật về phá sản, pháp luật hôn nhân và gia đình....
Tiến sỹ Huỳnh Thế Du trong bài viết “Đề xuất chính sách xử lý nợ xấu của hệ
30

thống ngân hàng Việt Nam” đã đề xuất một số chính sách xử lý nợ xấu của HTNH
Việt Nam như đẩy mạnh cổ phần hóa, nâng cao hiệu quả và giải pháp thực thi xử lý tài
sản đảm bảo, xử lý dứt điểm nợ xấu. Theo tiến sỹ Huỳnh Thế Du, yếu tố quan trọng
của việc xử lý rủi ro trong HĐCTD không phải là lựa chọn mô hình xử lý rủi ro nào,
mà cần phải tập trung vào việc hạn chế dẫn đến chấm dứt các hành vi tạo ra nợ xấu.
31
Sách “Nợ xấu ngân hàng giải quyết bằng cách nào?” của nhiều tác giả đã phân

được
chuyển số nợ vay 5.000 tỷ đồng của Vinalines và các đơn vị thành viên thành vốn cổ phần tại các cảng thành viên
khi tiến hành cổ phần hóa. Tương tự, NH TMCP Á Châu (ACB) cũng đã phải mua lại 12,6 triệu cổ phần của
Công ty CP vận tải biển Việt Nam, đơn vị thành viên của Vinalines. NH TMCP Sài Gòn - Hà Nội cũng đã thực
hiện phương án chuyển nợ thành vốn góp vào Công ty CP thủy sản Bình An (Bianfishco) trong giai đoạn 2011 –
2012.
33
Jun Ma, “China’s banking sector: from administrative control to a regulatory framework” Journal of
Contemporary
China,
Volume
5,
Issue
12,
1996,
(5:12,
155-169,
DOI:
10.1080/10670569608724247).


tham gia sâu hơn trong việc quản lý các doanh nghiệp vay vốn vì vốn nợ vay đã được
chuyển thành vốn góp trong đó NH sẽ đóng vai trò là cổ đông hoặc thành viên góp vốn
của doanh nghiệp đó. Mặt khác hoán nợ thành vốn sẽ làm chấm dứt quan hệ tín dụng
và chuyển thành quan hệ góp vốn và NH sẽ có khả năng thu lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, hai tác giả Trần Công Hoà và Đỗ Thị Trà Linh, trong bài viết: “Xử lý
rủi ro bằng biện pháp chuyển vốn vay ngân hàng thành vốn góp cổ phần, đôi điều bàn
34


xử
34

Trần Công Hoà và Đỗ Thị Trà Linh, “Xử lý rủi ro bằng biện pháp chuyển vốn vay ngân hàng thành vốn góp
cổ phần, đôi điều bàn luận và khuyến nghị”, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 24, tháng 12 năm 2012.
35
Nguyễn Đại Lai, “Kinh nghiệm về xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của một số nước trong khu vực”,
Tạp chí Ngân hàng, số chuyên đề năm 2005.


lý nợ và tài sản bảo đảm; sử dụng dự phòng rủi ro, tái cơ cấu các NH cũng như các
biện pháp khác.
Thứ ba, khi nghiên cứu hoán nợ thành vốn có phải là biện pháp xử lý rủi ro hay
không thì điều quan trọng nhất là nó có phải là biện pháp xử lý rủi ro hiệu quả, bền
vững và có phù hợp với bối cảnh hệ thống tài chính NH của Việt Nam hay không?
Đây là vấn đề quan trọng khi nghiên cứu pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD
của các NHTM, vì vậy trong luận án, tác giả sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.
Như vậy, những nghiên cứu của các nhà khoa học về xử lý rủi ro trong HĐNH
nói chung và trong HĐCTD của NHTM nói riêng có ý nghĩa về lý luận cũng như thực
tiễn. Những nghiên cứu này sẽ được tác giả tiếp thu, chọn lọc khi triển khai đề tài luận
án.
Nhận xét chung:
Một là, bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM không chỉ được nghiên
cứu dưới góc độ pháp lý, mà còn được nghiên cứu dưới các khía cạnh tài chính, kinh tế,
quản trị.... Các nhà nghiên cứu cố gắng tìm những lời giải đáp cho vấn đề có liên quan
đến bảo đảm an ninh tài chính nói chung, bảo đảm an toàn trong HĐNH dưới nhiều góc
độ khác nhau cũng như bảo đảm an toàn trong một khía cạnh cụ thể trong HĐNH;
Hai là, xét ở góc độ cụ thể, các đề tài nghiên cứu nêu trên đã giải quyết được một
số vấn đề cụ thể như quản lý rủi ro, quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động
cho vay, giải quyết nợ xấu, hạn chế rủi ro, mối quan hệ giữa an toàn HĐNH trong tổng

hoạt động này để nhận diện nhằm đưa ra những biện pháp bảo đảm an toàn phù hợp là
nhiệm vụ quan trọng của nhà nước và bản thân các NHTM trong việc quản lý và thực
hiện HĐCTD.
Giả thuyết nghiên cứu cho câu hỏi này là: HĐCTD của các NHTM có tác động
rất lớn đến nền kinh tế xã hội; những rủi ro và thiệt hại phát sinh trong HĐCTD là mối
nguy hại đối với nền kinh tế; bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM là sự tất
yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
a2) Bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM được đánh giá dựa trên
những tiêu chí nào và pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM
được hình thành thông qua những yếu tố cơ bản nào?
Luận án cần phân tích và nhìn nhận một cách thấu đáo những tiêu chí đánh giá sự
an toàn trong HĐCTD của NHTM và những yếu tố cấu thành nên sự an toàn trong
HĐCTD của các NHTM. Đây chính là những yếu tố có tác động và ảnh hưởng trực
tiếp đến pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM. Cơ sở lý luận
của sự phân tích này dựa trên nền tảng: Pháp luật được ban hành để điều chỉnh các
quan hệ xã hội, do vậy, tùy thuộc vào đặc trưng của quan hệ xã hội mà pháp luật có sự
điều chỉnh phù hợp.
Giả thuyết nghiên cứu cho câu hỏi này là: Hai yếu tố cơ bản cấu thành nên pháp
luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM là pháp luật về phòng ngừa rủi
ro và pháp luật về xử lý rủi ro trong HĐCTD của các NHTM.
a3) Để bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM, pháp luật điều
chỉnh hoạt động này phải dựa trên những yêu cầu cơ bản nào?
Pháp luật được xây dựng và tổ chức thực hiện phải dựa trên những yêu cầu nhất
định. Những yêu cầu này sẽ đảm bảo cho pháp luật phù hợp, khả thi và hiệu quả.
Giả thuyết nghiên cứu cho câu hỏi này là: pháp luật về bảo đảm an toàn trong
HĐCTD của các NHTM phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo HĐNH
phát triển hiệu quả, bền vững; bảo đảm phòng ngừa và xử lý rủi ro trong HĐCTD của
các NHTM; bảo đảm quyền tự do kinh doanh của NHTM; đảm bảo sự điều tiết hợp lý
của Nhà nước đối với các NHTM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status