Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong đánh giá năng lực cạnhtranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, nhiều chuyên gia cho rằng một trong những ngành có sức cạnh
tranh tốt ở Việt Nam là khu vực ngân hàng. Do vậy, các doanh nghiệp trong khu
vực này cần phải xác định được nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của mình và từ đó
cải thiện vị thế cạnh tranh bằng cách gia tăng những nguồn lực này. Trong thời
gian gần đây, hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc sử dụng công nghệ mới để
cung cấp dịch vụ đã mang lại những thay đổi và phát triển trong khu vực ngân
hàng ở Việt Nam. Tăng trưởng là mục tiêu chính của các ngân hàng sẽ mang lại
sức mạnh cạnh tranh của hệ thống này (Divandari et al , 2008).
Việc Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế đã càng làm tăng tầm quan trọng của
việc đạt được những tiêu chuẩn cao trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ ngân hàng vì
các NHTMVN không những phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh với các
ngân hàng nội địa mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính nước ngoài vừa
có tiềm lực kinh tế dồi dào vừa có nhiều kinh nghiệm hoạt động cạnh tranh.
Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng những thay đổi trong chính sách của
Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ - bao gồm việc cho phép thành lập các ngân
hàng tư nhân và nước ngoài và việc chuyển đổi một lượng lớn các ngân hàng nhà
nước thành các ngân hàng cổ phần trong giai đoạn vừa qua đã cho thấy sự thay
đổi trong hệ thống ngân hàng.Từ những đặc điểm này, chúng ta có thể nói rằng
mức độ cạnh tranh gia tăng trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã buộc các
ngân hàng phải tăng cường hoặc ít nhất là duy trì thị phần của mình. Trong bối
cảnh đó, các ngân hàng có thể đảm bảo sự thành công thông qua việc chú trọng
vào lợi thế cạnh tranh của mình và củng cố chúng hơn nữa. Vì vậy, việc xác định
được nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
và xây dựng một mô hình điểm số để đánh giá xếp hạng năng lực cạnh tranh
tổng hợp từ đó giúp cho các ngân hàng thương mại nói riêng và cơ quan quản lý
thanh tra, giám sát ngân hàng của nhà nước nói chung đánh giá được sức khỏe

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

1


2


4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
của ngân hàng thương mại
Xây dựng một mô hình để phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của
các NHTM dựa trên những nhân tố tác động
Xem xét sự khác biệt về mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
theo từng đặc điểm của ngân hàng
Nhận diện và đo lường những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của
các ngân hàng thương mại
Đề ra các giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phần mở đầu
Chương 1. Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân
hàng thương mại
Chương 2. Phương pháp luận xây dựng mô hình đánh giá năng lực
cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong đánh giá năng lực cạnh
tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Kết luận

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

3


CHƯƠNG I

4


rộng trong khu vực và thế giới, nên các NHTM muốn hoạt động lành mạnh và
phát triển bền vững phải ký kết và tuân thủ những nguyên tắc này.
- Công nghệ là nhân tố trung tâm của cuộc cạnh tranh giữa các NHTM: Sự
cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêu
cầu của hoạt động kinh doanh tối thiểu; bởi vì, một NHTM mở ra một loại hình
dịch vụ cung ứng cho khách hàng là đã phải chấp nhận cạnh tranh với các
NHTM khác đang hoạt động trong cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốn lĩnh vực dịch
vụ này được thực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạ tầng cơ
sở tài chính mà thiếu nó thì không thể hoạt động được. Như vậy, cạnh tranh giữa
các NHTM đòi hỏi và chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài
chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định
đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Công nghệ đang làm thay đổi
hàng ngày phương thức hoạt động, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho các
NHTM. Các NHTM phải thấy được hai khả năng công nghệ có thể là nhân tố
giúp ngân hàng sử dụng tạo lợi thế cạnh tranh riêng, mặt khác có thể giúp các
đối thủ vuợt trước, dẫn đến nguy cơ tụt hậu cho ngân hàng mình, để có chiến
lược phát triển cho mình. Rõ ràng là, sự cạnh tranh của các NHTM loại hình
cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh
doanh nào khác.
- Các NHTM cạnh tranh nhau gay gắt nhưng có sự hợp tác với nhau: Sự dễ
thay đổi của khách hàng trong quan hệ giao dịch và đặc điểm dịch vụ ngân hàng
có tính tương đồng, tính xã hội hóa và tính nhạy cảm cao là nguyên nhân làm
cho cạnh tranh giữa các NHTM trở lên quyết liệt. Mặt khác thị trường dịch vụ
ngân hàng rất đặc biệt, không ngân hàng nào có thể hoạt động bình thường nếu
không có sự liên kết bình đẳng và minh bạch với các đối thủ. Các điều kiện về
vốn, mạng lưới, công nghệ của các ngân hàng đều có hạn trong khi nhu cầu về
dịch vụ ngân hàng ngày càng cao đòi hỏi các NHTM phải liên kết với nhau trong

một tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm
chí đe dọa sự tồn vong của cả hệ thống các tổ chức tín dụng. Một NHTM hoạt
động yếu kém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho
nhiều tổ chức kinh tế và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh
doanh, các NHTM vừa phải cạnh tranh để từng bước mở rộng KH, mở rộng thị

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

6


phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất
chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM
khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn,
thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính NHTM này do tác động dây chuyền.
- Các NHTM cạnh tranh trên cơ sở có sự can thiệp của ngân hàng Trung
ương: Do hoạt động của các NHTM có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi
mặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh sự hoạt động của các NHTM
mạo hiểm nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tất cả Ngân hàng Trung ương (NHTW) các
nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo
sớm để phòng ngừa rủi ro. Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà
NHTW thờ ơ trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là
sự đổ vỡ của thị trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Trong thị trường dịch vụ ngân hàng, mặc dù Nhà nước khuyến khích sự
cạnh tranh nhưng vì mục tiêu giữ ổn định nền kinh tế và bảo vệ quyền lợi của
công chúng, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình cạnh tranh bằng việc thực
thi những chính sách đặc thù như chính sách tiền tệ hay chính sách kiểm soát đặc
biệt. Sự can thiệp này có thể khiến cho giới hạn cạnh tranh giữa các đối thủ trên
thị trường dịch vụ ngân hàng có phần bị thu hẹp, ảnh hưởng đến sự vận hành
bình thường của quy luật cạnh tranh.

Các NHTM hiện tại: Đây là những mối lo thường trực của các NHTM
trong kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động
kinh doanh của NHTM trong tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ
cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ,
nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.
Sức ép từ phía khách hàng: trong những đặc điểm quan trọng của ngành
ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm
chí là các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng. Những người
bán sản phẩm thông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho
vay đều có mong muốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những
người mua sản phẩm (vay vốn) lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn
nhỏ hơn thực tế. Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

8


động tạo lợi nhuận có hiệu quả và giữ chân được khách hàng cũng như có
được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể.
Sự xuất hiện các dịch vụ mới: Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung
gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới
cũng như các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các
trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và
tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân
hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển
của các NHTM, suy giảm thị phần. Ngày nay, người ta cho rằng, khi các
NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyện trong cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ
mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các cú sốc của nền kinh tế.

hàng luôn “trung thành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch.
Mức độ trung thành của khách hàng phụ thuộc vào sự đối xử của NHTM với họ,
mà cao nhất là lợi ích trực tiếp thu được từ quan hệ giao dịch với ngân hàng.
Khách hàng có thể ngay lập tức thay đổi quan hệ với ngân hàng để tìm mối lợi
lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi mà họ nhận được cao (nếu là sản phẩm bán) và
mức lãi suất thấp (nếu là sản phẩm mua) so với ngân hàng họ quan hệ. Vì khách
hàng thường có thể vừa là người mua vừa là người bán của nhiều sản phẩm dịch
vụ cùng một lúc nên khi họ thay đổi quan hệ với ngân hàng có thể dẫn đến sự
mất mát lớn hơn rất nhiều so với khách hàng của một doanh nghiệp thông
thường. Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố về phía NHTM tạo nên
tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng.
1.1.3. Các công cụ cạnh tranh trong kinh doanh của các NHTM.
Cạnh tranh bằng giá. Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai
trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng. Đối với các NHTM, giá cả
chính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách
hàng của mình. Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải
đối mặt với những mâu thuẫn: Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh
tranh để mở rộng thị phần, thì cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho
các khách hàng của mình, tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM,
thậm chí có thể khiến NH bị lỗ. Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập
thì phải đưa ra mức lãi suất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập,
tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong
kinh doanh, bởi suy cho cùng thì NH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng là tối

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

10


đa hoá lợi nhuận, mà để đạt được điều đó thì cần phải tiết giảm các chi phí đầu


11


- Tốc độ xử lý nhanh;
- Mức độ chính xác cao;
- Hiệu quả đem lại cho khách hàng lớn;
- Thái độ phục vụ tốt
- Trình độ cộng nghệ hiện đại.
Thực tế, trên thị trường ngày càng có nhiều ngân hàng cung ứng sản phẩm
dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy khách hàng có sự so sánh, đánh giá và quyết
định lựa chọn ngân hàng có sản phẩm chất lượng cao. Thậm chí khách hàng thay
đổi quan hệ từ ngân hàng có sản phẩm chất lượng kém sang ngân hàng có sản
phẩm chất lượng tốt.
1.2. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan niệm về năng lực cạnh tranh
Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lịch sử có thể
thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại.
Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith, John Stuart Mill,
Darwin và K.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau
này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận:
Tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard;
Tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trường
phái Viên; Tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển.
Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các
cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Và hiện chưa có một lý thuyết nào
hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn”
về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp
đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất:
Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản

của ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi
của khách hàng để thu lợi ngày càng cao.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhằm mục đích tạo ra các dịch
vụ ngân hàng đa năng với giá cả cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường nhưng vẫn đảm bảo an toàn kinh doanh và đạt tỷ suất lợi nhuận cao. Đây
là việc làm thường xuyên của các NHTM để giành thế chủ động trong cạnh
tranh, được coi là điều kiện sống còn của các ngân hàng trong bối cảnh cạnh
tranh ngày càng gay gắt của ngành ngân hàng hiện nay.

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

13


1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trong
nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm
còn tồn tại, phát huy những điểm mạnh vốn có trên cơ sở tập trung đầu tư vào tri
thức và công nghệ. Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính
trong nước, khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc
tế, dẫn đến sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân
chia lại thị phần giữa các nhóm ngân hàng. Vì vậy, muốn tồn tại và đững vững
trong cạnh tranh thì các NHTM cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi mà các cam kết quốc tế
bắt buộc phải được thực hiện, chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa thị
trường tài chính, dịch vụ ngân hàng và Nhà nước có trách nhiệm tạo một sân
chơi bình đẳng không bảo hộ.Một điều tất yếu, lúc đó các ngân hàng nước ngoài,
các tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ có cơ hội xâm nhập thị
trường trong nước. Và như vậy buộc các NHTM nội địa phải nâng cao năng lực
cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

NHTM khác mà còn là các định chế tài chính đang không ngừng phát triển khác
như: hiệp hội tín dụng, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, công ty
bảo hiểm…Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển
của ngân hàng.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và ứng dụng công nghệ trong việc
cung cấp dịch vụ ngân hàng làm cho cạnh tranh của các NHTMVN trở nên
không có giới hạn về không gian và thời gian đã buộc các NHTM phải chú trọng
và củng cố những lợi thế cạnh tranh của mình để duy trì được thị phần
1.2.3. Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.3.1. Các chỉ tiêu định tính.
 Uy tín và thương hiệu của NHTM. Uy tín và thương hiệu của ngân
hàng là những dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản
phẩm dịch vụ nào đó được cung cấp bởi một NHTM. Thương hiệu là một loại tài
sản của NHTM, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ,
một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên. Uy
tín và thương hiệu được thể hiện số năm hoạt động và chất lượng dịch vụ mà
một NHTM cung cấp cho khách hàng. Một ngân hàng thương mại được gọi là có

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

15


thương hiệu khi được nhiều khách hàng thừa nhận và đánh giá cao về chất lượng
dịch vụ.
 Năng lực công nghệ. Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày
càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh
quan trọng nhất của mỗi ngân hàng.Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm
những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ
thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM…Công nghệ trong lĩnh vực

thời gian và công sức. Hiệu quả của các chính sách nhân sự, đặc biệt là chính
sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng
duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một ngân hàng.
 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức.Năng lực quản lý phản ánh năng
lực điều hành của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc của một ngân hàng.
Năng lực quản lý được đánh giá dựa trên trình độ học vấn, năng lực điều
hành và lãnh đạo, các chính sách và quy trình quản lý rủi ro, khả năng tuân
thủ pháp luật và các quy định, khả năng lên kế hoạch và đối phó với những
biến động của môi trường và những kết quả từ sự thành công trong quản lý.
Việc đánh giá năng lực quản lý cũng cần xem xét đến những chất lượng của
những hoạt động kinh doanh và tất cả các chính sách cho vay, đầu tư và kinh
doanh, cũng như sự tham gia của Ban giám đốc và các cổ đông. Căn cứ vào
đặc trưng và phạm vi hoạt động của ngân hàng, hoạt động quản lý có thể
xem xét đến một số hoặc tất cả những rủi ro sau: rủi ro tín dụng, rủi ro thị
trường, rủi ro hoạt động, hoặc các giao dịch, danh tiếng, chiến lược, khả năng
tuân thủ, tính pháp lý và thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra, năng lực quản
lý còn thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của Hội đồng quản trị
đối với Ban giám đốc cũng như việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập đối với ban giám đốc, số lượng,
chất lượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược, chính sách và quy trình kinh
doanh cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ. Năng lực quản lý
quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng. Một Hội đồng quản
trị hay một Ban giám đốc yếu kém, không có khả năng đưa ra những chínhsách,
chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị trường… sẽ làm lãng phí
các nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó. Năng lực
quản lý của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc bị chi phối bởi cơ cấu tổ
chức của ngân hàng thương mại.

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu


huy lợi thế nhờ quy mô.Tất nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải được
thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng. Nếu

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

18


không,việctriển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến ngân hàng kinh doanh
không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
 Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo
lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Đây là thước đo sức mạnh của NHTM tại một thời điểm nhất
định, đồng thời phản ánh tiềm năng, triển vọng phát triển trong tương lai của
ngân hàng, gồm các chỉ tiêu sau:
* Quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều
lệ, các quỹ dự trữ bổ sung và các tài sản khác. Quy mô vốn chủ sở hữu có thể
thay đổi trong quá trình hoạt động của NHTM.
Hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều rủi ro do chịu tác động lớn từ môi
trường kinh tế và đối tượng khách hàng đa dạng, vốn chủ sở hữu là nguồn tài
chính quan trọng hàng đầu để chống đỡ các rủi ro. Đây là nguồn vốn quan trọng
dùng để đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng vì nó cung cấp tài chính cho
các hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định sức mạnh và khả năng cạnh
tranh của ngân hàng trong tất cả các hoạt động.
- Đối với hoạt động huy động vốn: vốn tự có lớn tạo niềm tin cho khách
hàng do có chức năng bảo vệ người gửi tiền nên được khách hàng lấy làm căn cứ
khi lựa chọn ngân hàng để gửi tiền, chỉ tiêu này càng lớn càng thu hút khách
hàng gửi tiền.
- Đối với hoạt động cho vay và đầu tư: Quy mô vốn cho vay và đầu tư bị giới

Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được
định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là
tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Tiêu chuẩn này quy định:
Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố,
như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu; Dự trữ
công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty
con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill).

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

20


Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự
phòng đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công
cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính
và các tổ chức tài chính khác.
Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = ∑ (Tài có nội bảng x Hệ số rủi ro) +
∑ (Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)
Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 3 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%;
doanh nghiệp 100%... Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong
mỗi loại này.
Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:
(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn
bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy
nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi
ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với
Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với

quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụngcủa ngân hàng đó kém.

“Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6
hoặc Điều 7 Quyết định 493.

Hai chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu phản ánh chất lượng của hoạt động tín
dụng của một ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy một ngân hàng có chính
sách tín dụng hợp lý, quy trình cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng của ngân hàng
có hiệu quả hay không.
Ngoài ra, chỉ tiêu mức độ tập trung tín dụng cũng cho biết mức độ tập trung
cho vay của ngân hàng đối với một ngành kinh tế. Tỷ trọng dư nợ cho vay từng

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

22


ngành tăng cao đồng nghĩa với việc khi có biến động xã hội lớn đối với ngành
kinh tế này thì sẽ làm giảm chất lượng tài sản của ngân hàng đó.
 Năng lực hoạt động. Thị phần phán ánh quy mô hoạt động của NHTM
trên thị trường và cũng là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của một NHTM.
Thị phần của mỗi NHTM trên thị trường được phán ánh qua số lượng khách
hàng, khả năng huy động vốn, qui mô dư nợ,…
* Khả năng huy động vốn: Hoạt động huy động vốn cung cấp nguồn vốn
chủ yếu cho các hoạt động sinh lời của ngân hàng. NHTM có khả năng huy động
vốn tốt có nhiều cơ hội để mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lợi nhuận…do đó
phán ánh năng lực hoạt động, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên
thị trường. Các chỉ tiêu phán ảnh khả năng huy động vốn của NHTM:
- Quy mô, thị phần và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động;

đơn vị tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu
đơn vị lợi nhuận ròng.

Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời của
tài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sản
không sinh lời và có một bộ phận tài sản sinh lời lại tham gia tạo nên thu nhập
cho ngân hàng. Do vậy, nếu ROA lớn chúng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng thương mại tốt, cơ cấu tài sản hợp lý.Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn sẽ làm
cho các nhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận.
* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là chỉ tiêu
được các ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất, cho thấy khả năng sinh lời từ một
đồng vốn của chủ, số lợi nhuận ròng mà một cổ đông có được.

NCS K5- Nguyễn Thị Hoài Thu

24


Do vậy, các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để tăng tính hấp dẫn
đối với các cổ đông bằng phương pháp như: kiểm soát chi tiêu, đầu tư, quản lý rủi
ro có hiệu quả… Tuy nhiên, việc tăng ROE quá cao so với ROA chứng tỏ nguồn
vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn và do vậy ảnh
hưởng đến mức độ lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
* Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): là chỉ tiêu phản ánh trung bình một đơn
vị tài sản có sinh lời sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị lãi thuần (chênh lệch giữa thu
nhập lãi và chi phí lãi)

Đây là chỉ tiêu đo lường thu nhập lãi ròng trên một đồng tổng tài sản sinh
lời, phản ánh năng lực của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và cán bộ, nhân viên
ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi so với mức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status