VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG QUANG TUYẾN
KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
THEO HIỆP ƯỚC BASEL II
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG QUANG TUYẾN
KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
THEO HIỆP ƯỚC BASEL II
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 9 34 04 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
theo Basel II ............................................................................................................ 29
2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro theo Basel II của Ngân hàng
Trung ương đối với ngân hàng thương mại ............................................................. 52
2.4. Kinh nghiệm KSRR theo Basel II tại một số quốc gia trên thế giới và bài học
cho Việt Nam .......................................................................................................... 56
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO THEO BASEL II CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI...................................................................................................... 76
3.1. Khái quát về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2017 ... 76
3.2. Thực trạng rủi ro và kiểm soát rủi ro theo Basel II của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đối với hệ thống ngân hàng thương mại .................................................. 79
3.3. Những kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác kiểm soát rủi ro theo
Basel II của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với hệ thống ngân hàng thương mại
giai đoạn 2010 - 2017 .............................................................................................. 94
3.4. Phân tích mô phỏng kết quả Stress Test và một số hàm ý chính sách cho Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam đối với kiểm soát rủi ro các ngân hàng thương mại ..... 111
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ÁP DỤNG KIỂM SOÁT RỦI RO
THEO BASEL II CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .......................................................... 127
4.1. Lộ trình áp dụng kiểm soát rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương
mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel II ................................................................... 127
4.2. Giải pháp áp dụng và hoàn thiện KSRR theo Basel II của Ngân hàng Nhà nước
đối với hệ thống NHTM Việt Nam........................................................................ 131
4.3. Kiến nghị áp dụng kiểm soát rủi ro theo Basel II của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam đối với hệ thống NHTM ............................................................................... 150
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 163
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
Ủy ban quản lý bảo hiểm Trung Quốc
CQGS
Cơ quan giám sát
CQTTGSNH
Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
CSRC
Ủy ban quản lý chứng khoán Trung Quốc
DPRR
Dự phòng rủi ro
DPRRTD
Dự phòng rủi ro tín dụng
DPRRTD
Dự phòng rủi ro tín dụng
EAD
Dư nợ tại thời điểm vỡ nợ (Exposure at Defaut)
Ngân hàng
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTƯ/NHTW
Ngân hàng trung ương
PD
Xác suất vỡ nợ (Probability of Defaut)
QLRRLS
Quản lý rủi ro lãi suất
QTRR
Quản trị rủi ro
ROA
Khả năng sinh lời
TPP
Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương
TSĐB
Tài sản đảm bảo
TTTD
Thị trường tín dụng
VaR
Giá trị có thể tổn thất
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
XHTD
Xếp hạng tín dụng
XHTDNB
Xếp hạng tín dụng nội bộ
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Tốc độ tăng trưởng vốn tự có của 10 NTHM, 2012 - 2017...................... 84
Hình 3.2. Tổng vốn điều lệ của 10 NHTM, 2011 - 2017 ......................................... 85
Hình 3.3. Tốc độ tăng trưởng tài sản có rủi ro 10 NHTM Việt Nam 2012 - 2017 ... 86
Hình 3.4. Hệ số an toàn vốn tối thiểu 10 NHTM Việt Nam, 2011 – 2017............... 86
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang được thị trường hóa ở mức cao hơn với
mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới kể từ sau khi trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007,
tham gia Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) tháng
10/2015 và Cộng đồng Asean (AEC) tháng 12/2015. Hệ thống tài chính nói chung
và các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam nói riêng đang có những cơ hội
lớn song cũng phải đương đầu với những thách thức không nhỏ, đặc biệt là áp lực
cạnh tranh ngày càng cao từ những NHTM nước ngoài, đồng thời phải tuân thủ các
nguyên tắc và đáp ứng những chuẩn mực quốc tế để đảm bảo sự an toàn trong hoạt
động kinh doanh trong nước cũng như đối với hệ thống tài chính quốc tế.
Trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam đã
được cải thiện đáng kể trên nhiều giác độ: (1) tăng cường vị thế tài chính; (2) doanh
thu từ hoạt động kinh doanh liên tục gia tăng nhờ tốc độ tăng trưởng tín dụng và đa
dạng hóa các dịch vụ thu phí; (3) công nghệ ngân hàng đã và đang được chú trọng
đầu tư và phát triển; (4) mô hình tổ chức và quản trị điều hành đang được hoàn
thiện, v.v... Song, so với các NHTM của các nước trong khu vực và trên thế giới,
hoạt động NHTM Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó nổi bật nhất là mức
độ rủi ro cao, phát triển chưa lành mạnh và thiếu bền vững. Ở một số NHTM, vào
năm 2016-2017 quy mô nợ xấu đã lớn hơn cả vốn chủ sở hữu, thậm chí đã phải chịu
sự giám sát đặc biệt hoặc phải cơ cấu lại theo hướng hợp nhất hoặc mua lại để bảo
(iii) thiết lập cơ chế báo cáo thường xuyên, liên tục và toàn diện trong toàn bộ các bộ
phận kinh doanh của NHTM; (iv) đảm bảo tính đầy đủ, liên tục và phù hợp của đội ngũ
cán bộ quản lý rủi ro tại các vòng kiểm soát. Tại Úc, những ngân hàng đã được phê
chuẩn áp dụng các chuẩn mực cao nhất của Basel II từ năm 2007 như CommonWealth,
WestPac, v.v... đã khẳng định triển khai Basel II sẽ mang đến những lợi ích chiến lược,
củng cố vị thế và lòng tin của công chúng đối với các NHTM trên thị trường. Tất
nhiên, việc triển khai áp dụng những nguyên tắc và chuẩn mực của Basel II cũng là
thách thức rất lớn đối với các NHTM ngay cả ở những nước phát triển. Các NHTM
phải đầu tư rất lớn, bên cạnh việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, còn phải tập
trung vào 4 vấn đề chính: (1) yêu cầu vốn chủ sở hữu gia tăng đủ lớn để bù đắp rủi ro;
(2) cải thiện cơ sở dữ liệu và công nghệ để có thể lượng hoá, đo lường được rủi ro; (3)
đổi mới mô hình tổ chức, quản trị và điều hành đáp ứng được các yêu cầu về mô hình 3
vòng kiểm soát với sự độc lập chức năng và nhiệm vụ trong công tác QTRR; (4)
thường xuyên giám sát và thẩm định mô hình một cách độc lập đảm bảo sự vận hành
khách quan và tuân thủ các quy định, quy trình giám sát.
Trong một hệ thống đang trải qua quá trình phát triển và từng bước được
tự do hóa theo những cam kết hội nhập quốc tế, trong khi đảm bảo tăng trưởng kinh
tế hợp lý và duy trì lạm phát thấp và ổn định như ở Việt Nam, thì hoạt động giám
2
sát, KSRR trong hoạt động của các NHTM là hết sức cần thiết. Có thể nói công tác
quản lý, thanh tra, giám sát và KSRR trong ngành ngân hàng nói chung và đối với
các NHTM nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào việc
bảo đảm cho hệ thống ngân hàng liên tục phát triển và hoạt động an toàn, hiệu quả,
từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hoạt động giám sát ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) trong việc KSRR, đảm bảo an toàn, ổn
định hoạt động cho toàn hệ thống. Thực tiễn phát triển hệ thống tài chính trong
nước cho thấy, sự phát triển của khu vực ngân hàng và thị trường tài chính với hàng
cường các biện pháp thanh tra và giám sát để KSRR đối với hoạt động kinh doanh
của các NHTM, không chỉ theo các quy định và chuẩn mực của Việt Nam mà còn phải
hướng tới đáp ứng các yêu cầu chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Tại Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về QTRR tại các NHTM.
Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu dưới góc độ của từng NHTM, hầu như
không có công trình nghiên cứu vấn đề KSRR các NHTM Việt Nam dưới góc độ của
cơ quan quản lý nhà nước.
Trên thế giới, việc áp dụng toàn diện các nguyên tắc và chuẩn mực của Basel,
đặc biệt là trụ cột 2 của Basel II khi đứng từ góc độ của quản lý nhà nước vào quản lý
và giám sát hoạt động các NHTM trở thành một vấn đề có tính thời sự khi mà tần suất
xảy ra các cuộc khủng hoảng ngân hàng ngày càng cao trong một thập kỷ trở lại đây.
Bởi vậy, nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về các thách thức, khả năng và lộ
trình áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mực của trụ cột 2 Basel II vào công tác KSRR
của NHNN đối với hoạt động kinh doanh của hệ thống các TCTD Việt Nam mà nòng
cốt là các NHTM, nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường KSRR theo Basel II là hết
sức cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
giai đoạn 2. Từ lý do trên, đề tài: “Kiểm soát rủi ro trong hoạt động của các ngân
hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel II” đã được chọn nghiên cứu làm
luận án Tiến sĩ ngành Quản lý Kinh tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đề xuất các giải pháp để áp dụng Basel II trong KSRR
tại các NHTM Việt Nam đứng từ góc độ của cơ quan quản lý nhà nước – NHNN
Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu tổng quát nêu trên, các mục tiêu cụ thể sau
đây cần được thực hiện:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KSRR theo Basel II của Ngân hàng Trung
ương đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
- Phân tích thực trạng triển khai áp dụng Basel II trong KSRR của Ngân hàng
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động KSRR của Ngân hàng Trung
ương (NHTW) đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, cụ thể là KSRR căn cứ
vào các nguyên tắc và chuẩn mực của Basell II. Tại Việt Nam, nghiên cứu được
thực hiện trên giác độ NHNN Việt Nam, cụ thể là Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân
hàng - chủ thể trực tiếp thực hiện KSRR trong hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Nói cách khác, chủ thể nghiên cứu là NHNN Việt Nam - cụ thể tập trung
vào Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và khách thể nghiên cứu là hoạt động
KSRR trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
5
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động KSRR của NHTƯ đối
với các NHTM theo 3 trụ cột của Basel II gồm (i) yêu cầu vốn tối thiểu; (ii) thanh
tra, giám sát NH; (iii) nguyên tắc thị trường, minh bạch thông tin.
Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động KSRR của NHNN Việt Nam đối
với 10 NHTM được chọn thí điểm áp dụng Basel II ở Việt Nam theo Đề án. Đồng thời,
Luận án cũng nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc KSRR theo Basel II.
Về thời gian và số liệu nghiên cứu: Luận án nghiên cứu công tác KSRR của
NHNN Việt Nam trên cơ sở hệ thống số liệu được thu thập, xử lý và phân tích trong
giai đoạn 2010 - 2017, định hướng và các giải pháp được đề xuất đến năm 2020 của 10
NHTM thực hiện thí điểm theo Basel II gồm: Vietcombank, VietinBank, BIDV,
VPBank, VIB, MaritimeBank, Sacombank, MB, ACB và Techcombank.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để đảm bảo việc nhận thức về KSRR trong hoạt động của các NHTM Việt Nam
theo Hiệp ước Basel II luôn đảm bảo tính logic giữa nhận thức trực quan đến tư
duy và thực tiễn, trong mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận trong cùng hệ
dụng để làm rõ: (i) sự thay đổi và khác biệt giữa các chuẩn mực quốc tế Basel I, II,
III để KSRR trong hoạt động kinh doanh của các NHTM; (ii) so sánh các quy định
về quản lý và KSRR của NHNN Việt Nam với các chuẩn mực Basel II để xác định
khoảng cách (hay những bất cập) giữa các cơ sở KSRR của NHNN và các chuẩn
mực Basel II; (iii) so sánh những khó khăn thách thức và các điều kiện áp dụng các
chuẩn mực Basel II để KSRR của NHNN đối với hoạt động của các NHTM Việt Nam.
4.2.4. Phương pháp điều tra thống kê: Thông qua phỏng vấn 350 người là các
chuyên gia đang làm việc trong hệ thống ngân hàng Việt Nam (Cơ quan Thanh tra,
giám sát NHNN, các Vụ chức năng liên quan khác, cán bộ quản lý rủi ro tại các
NHTM, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, Cục Thanh tra giám sát Chi nhánh
Ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội và các chuyên gia tài chính, các nhà khoa
học tại các trường đại học và viện nghiên cứu...) để lấy ý kiến chuyên gia về các vấn
đề: (1) Sự cần thiết phải áp dụng KSRR Basel II tại các NHTMVN; (2) Những khó
khăn và thách thức của các NHTMVN khi áp dụng Basel II để KSRR; (3) Các lợi ích
và thách thức khi NHNN KSRR theo Basel II. Việc sử dụng phương pháp điều tra
thống kê và xử lý dữ liệu sơ cấp thu thập từ các chuyên gia nhằm bổ sung cơ sở lý
thuyết về sự cần thiết, các điều kiện và thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt
Nam khi áp dụng Basel II.
4.2.5. Phương pháp nghiên cứu định lượng: Ngoài các phương pháp nghiên
cứu định tính trên, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Cụ thể:
mô hình Stress Test (kiểm tra sức chịu đựng rủi ro của NHTM) được sử dụng để
mô phỏng việc KSRR của NHNN Việt Nam đối với các NHTM. Mẫu được chọn
là 10 NHTM Việt Nam được NHNN lựa chọn triển khai thí điểm tuân thủ Basel II.
7
Kết quả của áp dụng mô hình sẽ giúp đưa ra các hàm ý chính sách không chỉ để
đánh giá mức độ rủi ro, khả năng đáp ứng các chuẩn mực của Basel II mà còn cho
thấy những ý nghĩa quan trọng của việc sử dụng mô hình Stress Test (ST) như một
công cụ KSRR theo định hướng cảnh báo sớm nguy cơ rủi ro trong hoạt động kinh
8
nhìn tổng thể, đầy đủ về KSRR trong hoạt động của các NHTM theo Hiệp ước Basel II.
Luận án có thể được coi là một tài liệu tham khảo đối với công tác quản trị
rủi ro trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói chung, KSRR trong
hoạt động của NHTW đối với NHTM nói riêng; luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo trong giảng dạy tại các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán
bộ ngân hàng; tài liệu tham khảo cho các học viện, viện nghiên cứu và các cơ quan
quản lý nhà nước.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục bảng,
hình, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2. Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro theo Basel II của Ngân hàng
Trung ương đối với các ngân hàng thương mại.
Chương 3. Thực trạng kiểm soát rủi ro theo Basel II của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đối với hệ thống ngân hàng thương mại.
Chương 4. Giải pháp tăng cường áp dụng kiểm soát rủi ro theo Basel II của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với hệ thống ngân hàng thương mại.
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về kiếm soát rủi ro trong hoạt động của các
ngân hàng thương mại
Nghiên cứu về KSRR của ngân hàng trung ương (NHTW) đối với hoạt động
của các ngân hàng thương mại (NHTM) là chủ đề mang tính thời sự và thu hút được
các vấn đề còn tồn tại trong quản trị RRTD song chưa đáp ứng được việc tuân thủ
Basel II về quản trị RRTD.
Trần Việt Dung (2016), Áp dụng Hiệp ước vốn Basel II: Kinh nghiệm quốc
tế và hàm ý cho Việt Nam, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân [16]. Luận án đã xây dựng các điều kiện cần thiết để áp
dụng Hiệp ước vốn Basel II trong hệ thống ngân hàng; rút ra những bài học kinh
nghiệm của một số nước trong việc thực hiện các quy định của Hiệp ước vốn Basel
II; phân tích những khó khăn mà hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt trong
quá trình áp dụng các quy tắc trên cả ba trụ cột trong Hiệp ước vốn; đề xuất các giải
pháp để thực hiện tốt các quy định của Hiệp ước vốn Basel II trong hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Tuy nhiên, việc đưa ra các giải pháp KSRR của NHTW đối với các
NHTM theo Basel II chưa được đề cập trong công trình.
Tạ Ngọc Sơn (2010), “Quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ kinh tế [69]. Công trình đã
đi sâu nghiên cứu về quản lý rủi ro lãi suất (QLRRLS) nhưng chưa đề cập đến
KSRR tại các NHTM Việt Nam theo các tiêu chuẩn của Basel. Luận án đã đề xuất
các điều kiện để áp dụng phương pháp quản lý rủi ro lãi suất bằng phương pháp giá
trị có thể tổn thất (Value at Risk- VaR) tại các NHTM Việt Nam, bao gồm: (1) Cơ
sở lãi suất chuẩn tại Việt nam được áp dụng để đo lường rủi ro lãi suất, trong đó
kiến nghị giá trị lãi suất VNIBOR (Vietnam InterBank Offered Rate) cho các kỳ
hạn nhỏ hơn 1 năm và lãi suất trái phiếu Chính phủ (Government Bonds) cho các
kỳ hạn lớn hơn 1 năm, (2) những thay đổi cần có trong hệ thống ngân hàng lõi
(Core Banking) để tăng sức mạnh và tăng tính tương thích với các phần mềm quản
lý rủi ro lãi suất đang chào bán trên thế giới, (3) khả năng tự nghiên cứu viết riêng
cho mình phần mềm QLRRro lãi suất tại mỗi NHTM Việt Nam, (4) sự cần thiết
phải kiểm chứng các giá trị VaR. Tuy nhiên, định hướng QLRRLS tại các NHTM
Việt Nam cần cụ thể hơn, cần phải rõ cho khoảng thời gian nào, các mục tiêu cần
đạt được trong QLRRLS của các NHTM Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế và lộ
trình thực hiện các giải pháp như thế nào.
Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự (2013), “Hoạt động ngoại bảng và quy
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Về khía cạnh lựa chọn chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả trong ngân hàng,
nghiên cứu của Michael McAleera và cộng sự (2013) [117] đã chỉ ra rằng, chiến
lược QTRR mạo hiểm mang lại mức chi phí trung bình về vốn rẻ hơn, và giúp tối
thiểu hóa chi phí về vốn hàng ngày thường xuyên hơn trong cả thời kỳ dự báo so
với chiến lược QTRR cẩn trọng. Tuy nhiên, chiến lược QTRR mạo hiểm có thể gây
ra những vi phạm và đẩy một Tổ chức Ký nhận uỷ thác (ADI) tới việc bị cấm kinh
doanh tạm thời hoặc vĩnh viễn. Do đó, chiến lược QTRR cẩn trọng được xem xét áp
dụng đối với một ADI nếu nó muốn nằm trong “vùng xanh an toàn” của Basel II.
Về đánh giá tính hiệu quả của Basel II đối với việc đo lường rủi ro, nghiên cứu
của Gunnar Wahlstroms (2012) [109] chỉ ra rằng, mặc dù việc xây dựng và ban hành
12
Basel II trên thực tế là rất tốt, nhưng vẫn còn sự quan ngại đáng kể về những cách thức
đo lường rủi ro của Basel II có thể ảnh hưởng xấu tới hoạt động của ngân hàng.
Về ước lượng tác động của yếu tố rủi ro hoạt động tới hệ thống Ngân hàng
thương mại nhà nước và tư nhân (trường hợp cụ thể ở Thổ Nhĩ Kỳ), nghiên cứu của
Ali Bayrakdaroğlu và cộng sự (2013) [92] đã sử dụng phương pháp phân tích hệ
thống mờ (FAHP - Fuzzy Analytic Hierarchy Process) để ước lượng các yếu tố rủi
ro hoạt động. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, ngân hàng có cấu trúc nguồn vốn
khác nhau sẽ có sự đối phó khác nhau đối với những yếu tố rủi ro hệ thống và
không có một công thức chung nào áp dụng cho toàn bộ các ngân hàng.
Về khía cạnh đánh giá tính hiệu quả của các chính sách điều tiết tín dụng,
nghiên cứu của Sebastian Poledna và cộng sự (2013) [121] chỉ ra rằng, trong cả 03
chính sách quản lý điều tiết tín dụng (Credit Regulation Policies) gồm chính sách
không quản lý (chỉ áp đặt giới hạn đòn bẩy tối đa); chính sách theo Basel II; và chính
sách phòng hộ hoàn hảo thì không có chính sách nào là tối ưu đối với mọi đối tượng.
Những nhà đầu tư trung lập về rủi ro thì ưa thích chính sách không quản lý với mức
đòn bẩy tối đa thấp; ngân hàng thì ưa thích chính sách phòng hộ hoàn hảo; những nhà
Đinh Xuân Cường và cộng sự (2014), “Đòn bẩy để các Ngân hàng thương
mại Việt Nam tiếp cận Hiệp ước vốn Basel II”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh
tế và Kinh doanh, tập số 30, số 3 [10]. Bài viết đã nhấn mạnh những khó khăn của
các TCTD Việt Nam khi áp dụng Basel do tình trạng thiếu thông tin tín dụng tin
cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích, đo lường RRTD. Theo nghiên cứu
này, hầu hết các ngân hàng thuộc top trên đã đáp ứng được tiêu chuẩn về tỷ lệ an
toàn vốn (>8%) nhưng cách tính vốn ở Việt Nam cũng còn khá nhiều vấn đề như
cách xác định tỷ lệ tài sản rủi ro hay tổng tài sản có nên tỷ lệ vốn này (CAR) có thể
chưa thật sự chính xác.
Nguyễn Đức Trung (2012), “Đảm bảo an toàn hệ thống Ngân hàng thương
mại Việt Nam trên cơ sở áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel”, Luận án
Tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng [81]. Luận án đã luận giải một cách có hệ
thống các vấn đề về đảm bảo an toàn ngân hàng trên góc độ vĩ mô và vi mô và các
nội dung cơ bản của các Hiệp ước Basel. Luận án đã khảo sát và đánh giá việc đảm
bảo an toàn hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011 và đề xuất các giải pháp
theo lộ trình để đảm bảo an toàn cho các NHTM Việt Nam theo Basel II giai đoạn
2012 - 2021. Tác giả chủ yếu tập trung vào trụ cột 1 của Hiệp ước Basel II là tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu (CAR) và đưa ra hai (02) hệ thống giải pháp đảm bảo an toàn vốn
dựa trên 02 góc độ khác nhau: Góc độ quản trị từ chính các NHTM và góc độ từ
NHNNVN. Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu mới chỉ đề cập tới thực trạng đảm bảo
mức CAR của hệ thống NHTM Việt Nam và đưa ra giải pháp. Phương pháp sử dụng
chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu, nghiên cứu chưa đề cập chuyên
sâu đến trụ cột 2 và 3.
Luận án của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2012): “Quản trị rủi ro trong kinh
doanh của Ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel”, Luận án Tiến sĩ
14
kinh tế, Đại học Ngoại thương, Hà Nội [74], phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ
giới hạn xung quanh những chuẩn mực QTRR được nêu trong Hiệp ước Basel, đi sâu
nghiệm quốc tế” của Nguyễn Thị Vân Anh (Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ,
số 20- tháng 10/2014 trang 36-39), trên cơ sở khảo sát và rút ra giá trị tham khảo từ
15
việc áp dụng Basel tại Singapore, Malaysia, Philipines. Bài viết đề xuất các giải
pháp để áp dụng Basel II tại các NHTM Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Loriana Pelizzon và cộng sự (2005) [116] tập trung vào trụ
cột 2 của Basel II trong đó mở rộng các công cụ có sẵn để điều tiết khi cần can thiệp
vào các ngân hàng, đó là mức độ phù hợp về vốn và yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro.
Đặc biệt bài viết này tập trung vào vai trò của các quy tắc khi chi phí cho việc vốn
hóa là khá cao. Ngân hàng có thể quản lý danh mục đầu tư một cách linh hoạt và tự
quyết định về việc vốn hóa và cấu trúc vốn của mình.
Về khía cạnh tính hiệu quả của tỷ lệ vốn bắt buộc trong Basel II sửa đổi
(2011), nghiên cứu của Gordon J. Alexander và cộng sự (2012) [109] đã chỉ ra rằng
tỷ lệ vốn bắt buộc đưa ra trong Basel II sửa đổi (2011) là đủ tốt, giúp ngân hàng
chống đỡ hiệu quả hơn đối với những tổn thất trong giao dịch (Trading Loss) so với
Hiệp ước Basel cũ (1996). Trong đó, Basel sửa đổi (2011) mang lại nhiều lợi ích
hơn so với Basel cũ (1996) đối với hoạt động quản trị RRTT.
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về giám sát thị trường tài chính,
thanh tra, giám sát ngân hàng
Các công trình nghiên cứu trong nước
Lê Ngọc Lân và các cộng sự (2012), “Đánh giá hoạt động thanh tra giám sát
của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay” [32] đã thực hiện đánh giá hoạt động
thanh tra giám sát của NHNNVN. Công tác thanh tra, giám sát hiện tại chủ yếu nhằm
đảm bảo việc chấp hành các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng của các
TCTD (thanh tra tuân thủ). Tuy nhiên, phương pháp thanh tra tuân thủ không còn
thích hợp để có thể đảm bảo mục tiêu hoạt động hiệu quả và an toàn của hệ thống
ngân hàng do không giúp các thanh tra ngân hàng đánh giá, đo lường một cách đầy