Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam bằng phương pháp bao dữ liệu (DEA) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Kim Anh

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
BẰNG PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU (DEA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Kim Anh

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
BẰNG PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU (DEA)
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. BÙI KIM YẾN

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016



Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 2

1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................3
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu ..........................................................................................3
1.4.

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4

1.4.1. Phương pháp định tính ......................................................................................4
1.4.2 Phương pháp định lượng ....................................................................................4
1.5.

Kết cấu của luận văn ...................................................................................... 4

1.6.

Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu ...................................................... 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ......................................................6
2.1.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ..................... 6

2.1.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ..............................6

3.2.2. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR – Capital Adequacy Ratio) .......................23
3.2.3. Tỷ lệ cho vay trên huy động ...........................................................................24
3.3.

Sáp nhập, hợp nhất và mua lại các ngân hàng thương mại ..................... 25

3.4.

Công nghệ trong ngân hàng ........................................................................ 28

Tóm tắt chương 3 ...................................................................................................... 31
CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA ĐỂ
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .....................................................................32
4.1.

Phương pháp bao dữ liệu DEA ................................................................... 32

4.1.1. Mô hình DEA với hiệu quả không đổi theo quy mô – CRS DEA .................32
4.1.2. Mô hình DEA với hiệu quả thay đổi theo quy mô – VRS DEA ....................33
4.1.3. Chỉ số Malmquist ...........................................................................................34
4.2.

Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................... 36

4.3.

Kết quả nghiên cứu ...................................................................................... 38

4.3.1. Hiệu quả kỹ thuật ...........................................................................................38



v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Viết tắt

Viết đầy đủ tiếng Việt

Viết đầy đủ tiếng Anh

ATM

Máy giao dịch tự động

Automated Teller Machine

BCTC

Báo cáo tài chính

CRS

Hiệu quả không đổi theo quy mô

Constant Returns to Scale

DEA

Phương pháp bao dữ liệu

Nhà xuất bản

NH

Ngân hàng

Transfer

NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

POS

Máy chấp nhận thanh toán thẻ

Point Of Sale

PTE

Hiều quả kỹ thuật thuần túy

Pure Technical Efficiency

SE

Hiệu quả quy mô

Scale Efficiency

Việt Nam Đồng


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi .....................................................24
Bảng 3.2: Nợ xấu của SCB trước và sau hợp nhất (%).............................................26
Bảng 3.3: Nợ xấu của SHB trước và sau sáp nhập (%) ............................................27
Bảng 4.1: Mối tương quan giữa các biến trong mô hình .......................................... 37
Bảng 4.2: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần túy và hiệu quả quy mô .......40
Bảng 4.3: Hiệu quả trung bình của các NH TMCP và các NH TMNN ....................43
Bảng 4.4: Bảng tổng hợp hiệu quả theo quy mô - Cách tiếp cận hoạt động .............45
Bảng 4.5: Bảng tổng hợp hiệu quả theo quy mô – Cách tiếp cận trung gian............46
Bảng 4.6: Bảng tổng hợp hiệu quả theo quy mô – Cách tiếp cận giá trị gia tăng .....47
Bảng 4.7: Chỉ số Malmquist bình quân giai đoạn 2009 – 2015 ................................50
Bảng 5.1: Kết quả ước lượng hiệu quả của bốn ngân hàng BIDV, Vietinbank,
Maritime Bank và Sacombank .................................................................................. 58
Bảng 5.2: Giá trị mục tiêu cho đầu vào và đầu ra năm 2014 của hai ngân hàng
NamA Bank và NCB Bank – Cách tiếp cận trung gian ............................................59


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang

tướng Chính phủ đã ký phê duyệt đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng
giai đoạn 2011 – 2015 nhằm mục tiêu “lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng
cố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng, cải thiện mức độ an toàn và hiệu
quả hoạt động của các tổ chức tín dụng, nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị
trường trong hoạt động ngân hàng”. Đề án này “khuyến khích việc sáp nhập, hợp
nhất, mua lại các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc tự nguyện” và “thực hiện cơ cấu
lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị của các tổ chức tín dụng”.
Các ngân hàng là phần quan trọng của hệ thống các tổ chức tín dụng. Năm 2015
tổng tài sản của hệ thống ngân hàng chiếm 95,5% tổng tài sản của các tổ chức tín
dụng. Vì vậy, ổn định tình hình hoạt động của các ngân hàng mà đặc biệt là các
ngân hàng thương mại là mối quan tâm hàng đầu. Thực hiện nội dung của đề án tái
cơ cấu, Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều biện pháp khác nhau để ổn định hoạt động


2

của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng.
Bên cạnh những tác động từ phía Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại
cũng tự nổ lực đưa ra những biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của chính ngân hàng mình.
Tuy nhiên, sau rất nhiều những biện pháp của Ngân hàng Nhà nước và của bản thân
các ngân hàng thương mại, làm thế nào để xác định được liệu các ngân hàng thương
mại có cải thiện hiệu quả hoạt động hay chưa? Hiệu quả của các ngân hàng này hiện
đang ở mức độ nào? Và những yếu tố nào góp phần tác động đến hiệu quả của các
ngân hàng?
Trước thực tế đó, tác giả thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp bao dữ liệu
DEA”. Đề tài trình bày phương pháp bao dữ liệu DEA để đo lường và đánh giá hiệu
quả của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam với số liệu được cập nhật đến năm
2015 giúp các cơ quan quản lý, các ngân hàng cũng như những người quan tâm đến

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài dựa trên dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính hợp
nhất của 26 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2015, bao gồm:
23 ngân hàng thương mại cổ phần: NH TMCP An Bình – ABBank, NH TMCP Á
Châu – ACB, NH TMCP Đông Á – DongA Bank, NH TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt
Nam – Eximbank, NH TMCP Phát Triển Thành phố Hồ Chí Minh – HDBank, NH
TMCP Kiên Long – Kienlong Bank, NH TMCP Bưu Điện Liên Việt –
LienVietPostBank, NH TMCP Hàng hải Việt Nam – Maritime Bank, NH TMCP
Quân đội – MB, NH TMCP Nam Á – NamA Bank, NH TMCP Quốc dân – NCB,
NH TMCP Phương Đông – OCB, NH TMCP Sài Gòn Công Thương – Saigonbank,
NH TMCP Sài Gòn – SCB, NH TMCP Đông Nam Á – SEABank, NH TMCP Sài
Gòn – Hà Nội – SHB, NH TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank, NH TMCP
Kỹ Thương Việt Nam – Techcombank, NH TMCP Tiên Phong – TPBank, NH
TMCP Quốc Tế Việt Nam – VIB, NH TMCP Việt Á – VietA Bank, NH TMCP
Bản Việt – VietCapitalBank, NH TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – VPBank.
3 ngân hàng thương mại Nhà nước (ngân hàng được gọi là ngân hàng thương mại
Nhà nước do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ): NH TMCP Đầu Tư và Phát


4

Triển Việt Nam – BIDV, NH TMCP Công Thương Việt Nam – Vietinbank, NH
TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Vietcombank.
1.4.

Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp định tính
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp phân tích trên cơ sở dữ liệu
thứ cấp thu thập được từ các ngân hàng thương mại Việt Nam để đánh giá tình hình

mại.


5

Chương 3: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
thương mại Việt Nam.
Chương 4: Vận dụng phương pháp bao dữ liệu DEA - Data Envelopment Analysis
để nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt
Nam.
Chương 5: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại Việt Nam.
Kết luận.
1.6.

Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Phương pháp bao dữ liệu DEA là phương pháp được sử dụng phổ biến để nghiên
cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trên thế giới và tại Việt Nam nhiều
năm qua. Đề tài sử dụng phương pháp bao dữ liệu với cùng một bộ dữ liệu để
nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
với ba cách tiếp cận khác nhau. Sử dụng những kết quả có được, đề tài chỉ ra
nguyên nhân của việc hoạt động thiếu hiệu quả của các ngân hàng thương mại. Đặc
biệt phân tích tác động của hiệu quả quy mô để nhận xét về xu hướng sáp nhập của
các ngân hàng trong khoảng thời gian gần đây.
Đề tài cập nhật dữ liệu mới nhất – dữ liệu năm 2015 – để bổ sung đồng thời đánh
giá lại kết quả của những nghiên cứu trước đây về vấn đề này.
Đề tài góp phần bổ sung những kết quả thực tiễn về đánh giá hiệu quả hoạt động
của các ngân hàng thương mại Việt Nam khi phân tích bằng phương pháp bao dữ
liệu. Kết quả của đề tài có thể được dùng để so sánh với những nghiên cứu cùng chủ

giá trị thực tế và giá trị tối ưu của đầu ra và đầu vào. Cụ thể hơn, một đơn vị đạt
hiệu quả khi đơn vị có thể tối đa hóa giá trị đầu ra với lượng đầu vào cho trước, hay
tối thiểu hóa lượng đầu vào với điều kiện sản xuất cùng một mức sản lượng đầu ra
hoặc cả hai. Hiệu quả mang tính kinh tế, nó được đo lường bằng cách so sánh giữa
giá trị thực tế và giá trị tối ưu của chi phí, doanh thu, lợi nhuận hay bất cứ chỉ tiêu
nào mà doanh nghiệp theo đuổi (Daraio và Simar, 2007).
Theo Farrell (1957), một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả là doanh nghiệp thành
công trong việc sản xuất ra một lượng lớn nhất có thể số lượng sản phầm đầu ra từ
các nguồn đầu vào. Do đó, hiệu quả chính là mối tương quan giữa lượng đầu ra thu


7

được từ việc kết hợp các yếu tố đầu vào. Farrell cho rằng doanh nghiệp có thể tăng
hiệu quả bằng cách tăng sản lượng đầu ra mà không sử dụng thêm sản lượng đầu
vào.
Coelli (2005) cho rằng có sự khác nhau giữa hiệu quả và năng suất của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp đạt hiệu quả khi doanh nghiệp đó tạo ra tối đa lượng đầu
ra với cùng một lượng đầu vào cho trước. Hiệu quả này gọi là hiệu quả kỹ thuật.
Nhưng để đạt được năng suất tối đa, ngoài việc doanh nghiệp đạt hiệu quả kỹ thuật
cần đạt được hiệu quả theo quy mô. Tuy nhiên, thay đổi quy mô không thể cho kết
quả ngay lập tức mà cần có độ trễ, do đó, hiệu quả kỹ thuật có thể giống như năng
suất trong ngắn hạn. Sự thể hiện hiệu quả trong ngắn hạn được gọi là hiệu quả kỹ
thuật và sự thể hiện hiệu quả trong dài hạn được gọi là năng suất. Hiệu quả kỹ thuật
sẽ được chia làm hai phần chính: hiệu quả kỹ thuật thuần túy và hiệu quả quy mô.
Nhiều tác giả cũng định nghĩa năng suất và hiệu quả giống nhau, và đều là tỷ lệ giữa
đầu ra và đầu vào (Daraio và Simar, 2007).
Trong các nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng, Hughes và Mester (2008) cho rằng
hiệu quả của ngân hàng phụ thuộc vào quyền sở hữu, luật pháp và môi trường hoạt
động (quy tắc kế toán, quy định của Chính phủ, và điều kiện thị trường…). Các yếu

mực nhất định nhưng việc xây dựng chuẩn mực này rất khó thực hiện. Thứ hai, các
tỷ số tài chính được tính toán dựa trên số liệu của báo cáo tài chính, nhưng các
nhóm tỷ số khác nhau thì lại đưa ra kết quả về hiệu quả khác nhau, ví dụ: ngân hàng
có thể được đánh giá là hoạt động hiệu quả nếu sử dụng nhóm tỷ số về khả năng
sinh lợi nhưng lại bị đánh giá không hiệu quả nếu sử dụng nhóm tỷ số về an toàn
vốn (Chen và Liao, 2009).
Thêm vào đó, các tỷ số tài chính không đánh giá được tác động của các quyết định
về hoạt động quản lý và đầu tư tại thời điểm hiện tại khi các quyết định này có
những ảnh hưởng nhất định trong tương lai. Ví dụ nếu một ngân hàng trì hoãn hoạt
động tiếp thị và cắt giảm chi phí phát triển sản phẩm mới sẽ cho ra tỷ lệ tài chính tốt


9

tuy nhiên nó lại làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trong tương lai (Sherman và
Gold, 1984).
Do đó, cần có một phương pháp đo lường có thể kết hợp tất cả dữ liệu đầu ra và đầu
vào cùng với sự hỗ trợ của kinh tế lượng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân
hàng thương mại chính xác hơn.
2.1.3. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại – cách tiếp
cận bằng cách xây dựng biên hiệu quả
Trong cách tiếp cận này, biên hiệu quả là tập hợp những ngân hàng hiệu quả nhất
được xác định dựa vào nguồn số liệu thu thập được. Theo đó, hiệu quả hoạt động
của một ngân hàng được xác định bằng tỷ lệ giữa khoảng cách của ngân hàng cần
đánh giá so với biên hiệu quả.
Farrell (1957) cho rằng hiệu quả tổng thể của một doanh nghiệp bao gồm hai thành
phần là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối. Trong đó, Farrell xác định hiệu
quả kỹ thuật là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất được lượng đầu ra cao nhất
từ một lượng đầu vào có sẵn. Hiệu quả phân phối là khả năng doanh nghiệp lựa
chọn tập hợp các nhân tố đầu vào với tỷ lệ tối ưu sao cho giá cả đạt được thấp nhất

mức sản lượng đầu ra chứ không phải dựa trên giá cả đầu ra (Berger và Mester,
1997). Ba phương pháp tiêu biểu của cách tiếp cận này là: phương pháp tiếp cận
biên ngẫu nhiên (Stochastic frontier approach – SFA), phương pháp mô hình tự do
(Distribution-free approach – DFA) và phương pháp tiếp cận biên dày (The thick
frontier approach – TFA). Ba phương pháp này chủ yếu khác nhau về các giả định
đối với các thông số kỹ thuật của vùng biên hiệu quả, sự tồn tại sai số ngẫu nhiên và
phân phối của sai số ngẫu nhiên đó.
Tiếp cận bằng phương pháp phi tham số không đòi hỏi xác định dạng hàm cho
đường biên hiệu quả. Phương pháp tiếp cận phi tham số chỉ yêu cầu giả định về việc
xác định biên hiệu quả chứ không quan tâm đến sai số ngẫu nhiên của mô hình.
(Paradi và Zhu, 2013). Hai phương pháp tiêu biểu của cách tiếp cận này là: phương
pháp bao dữ liệu (Data envelopment analysis – DEA) và phương pháp xử lý tham
số tự do Hull (Free disposal Hull analysis – FDH).


11

Cho đến nay, không có sự đồng thuận về phương pháp tối ưu nhất để ước lượng
hiệu quả kỹ thuật hoặc mức trung bình của hiệu quả kỹ thuật trong ngành ngân
hàng. Cùng một bộ dữ liệu, nếu sử dụng những phương pháp khác nhau cũng đưa ra
những kết quả không đồng nhất, thứ hạng về mức độ hiệu quả của các ngân hàng
cũng khác nhau. Hay cùng một bộ dữ liệu, cùng một phương pháp nhưng sử dụng
những biến đầu ra và đầu vào khác nhau cũng cho kết quả khác nhau.
2.2.

Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại ở nước ngoài và Việt Nam sử dụng phương pháp DEA

2.2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Paradi và Zhu (2013)về tổng hợp 80 nghiên cứu về hiệu quả hoạt

cứu với cấp độ một ngân hàng.
Staub và cộng sự (2010) dùng phương pháp bao dữ liệu DEA nghiên cứu hiệu quả
phân bổ và hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Brazil trong khoảng thời gian từ
năm 2000 đến năm 2007 với mục tiêu trả lời các câu hỏi: Hiệu quả hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng có tăng lên trong khoảng thời gian nghiên cứu? Các ngân
hàng nước ngoài có hiệu quả hơn các ngân hàng trong nước? Các ngân hàng công
có hiệu quả hơn các ngân hàng tư nhân? Ngân hàng lớn có hiệu quả hơn các ngân
hàng nhỏ? Với kết quả của mô hình, tác giả kết luận rằng hiệu quả của các ngân
hàng Brazil ít gia tăng, đặc biệt các ngân hàng có sự kém hiệu quả kỹ thuật tăng. Do
đó, các ngân hàng có thể gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình bằng
cách cải thiện hiệu quả kỹ thuật. Với lợi thế là ngân hàng của Brazil, các ngân hàng
trong nước hoạt động có hiệu quả hơn các ngân hàng nước ngoài. Hiệu quả của các
ngân hàng công và các ngân hàng tư nhân không có sự khác biệt rõ rệt. Kết của
nghiên cứu cũng cho thấy không có sự khác biệt về hiệu quả giữa các ngân hàng có
quy mô nhỏ và các ngân hàng có quy mô lớn. Tuy nhiên có những dấu hiệu cho
thấy ngân hàng nhỏ hoạt động tốt hơn ngân hàng lớn, nhưng sự khác biệt này không
đáng kể.
Nghiên cứu của Sufian (2011) về hiệu quả hoạt động kinh doanh của 31 ngân hàng
ở Hàn Quốc, 80% tổng tài sản của ngành ngân hàng trong khoảng thời gian từ năm
1992 đến năm 2003. Nghiên cứu sử dụng phương pháp bao dữ liệu DEA với ba
cách tiếp cận: tiếp cận trung gian tài chính, tiếp cận giá trị gia tăng, tiếp cận hoạt
động để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thay đổi hay


13

không khi đầu ra và đầu vào thay đổi. Nghiên cứu này cho thấy hiệu quả ngân hàng
khi sử dụng phương pháp DEA có sự thay đổi nếu thay đổi đầu vào và đầu ra. Kết
quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật TE của các ngân hàng với cách tiếp cận
điều hành lớn hơn so với hiệu quả TE với cách tiếp cận trung gian và tiếp cận giá trị

ngân hàng. Do đó, để tăng năng suất, trong thời gian tiếp theo các ngân hàng nên
quan tâm đến tiến bộ công nghệ được sử dụng trong ngành. Trước thực tế các ngân
hàng đang được khuyến khích sáp nhập với nhau để tăng hiệu quả hoạt động, kết
quả của nghiên cứu lại chỉ ra rằng không có sự ảnh hưởng của hiệu quả quy mô đến
năng suất nhân tố tổng hợp. Do đó, tác giả cho rằng việc các ngân hàng sáp nhập
với nhau để mong chờ đạt được hiệu quả tốt hơn trong hoạt động là không khả thi.
2.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Hai tác giả Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012) phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam bằng phương pháp bao dữ liệu DEA kết hợp với phân tích chỉ số năng
suất nhân tố tổng hợp. Với nguồn dữ liệu được lấy từ năm 2006 đến năm 2009. Hai
tác giả xem ngân hàng là nhân tố trung gian tài chính để lựa chọn các biến đầu vào
và đầu ra. Với cách tiếp cận này, các tác giả cho thấy hiệu quả kỹ thuật của các
ngân hàng chưa cao, mức độ không hiệu quả kỹ thuật là 7,7% cho toàn bộ các ngân
hàng. Trong đó, lý do các ngân hàng có hiệu quả kỹ thuật thấp chủ yếu là do hiệu
quả quy mô ở mức thấp. Năng suất nhân tố tổng hợp của các ngân hàng giảm trong
thời gian nghiên cứu, vói nguyên nhân chủ yếu là do sự suy giảm của hiệu quả công
nghệ. Khi so sánh các nhóm với quy mô khác nhau, các ngân hàng ở nhóm quy mô
lớn và quy mô trung bình đều có hiệu quả giảm theo quy mô. Số lượng các ngân
hàng có hiệu quả giảm dần theo quy mô có xu hướng giảm dần. Bài viết cho rằng
các ngân hàng có hiệu quả tăng theo quy mô nên tăng dần quy mô hoạt động để đạt
hiệu quả cao hơn. Các ngân hàng nên tăng cường đầu tư vào công nghệ kỹ thuật
hiện đại để góp phần cải thiện hiệu quả.
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012) đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực của 20
NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010. Tác giả chọn phương pháp DEA với
cách tiếp cận trung gian phân tích hiệu quả kỹ thuật và chỉ số thay đổi năng suất
nhân tố tổng hợp để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của hai nhóm ngân
hàng thương mại cổ phần và ngân hàng thương mại Nhà nước. Ba biến đầu vào



hiệu quả kỹ thuật chứng tỏ hoạt động quản lý của các ngân hàng thương mại chưa


16

đạt kết quả cao. Khối ngân hàng thương mại Nhà nước có hiệu quả hoạt động kinh
doanh thấp hơn khối các ngân hàng thương mại cổ phần. Đối với chỉ số thay đổi
năng suất nhân tố tổng hợp, nguyên nhân chính làm cho năng suất nhân tố tổng hợp
(Malmquist TFP) của các ngân hàng thương mại cổ phần là do sự suy giảm trong
hiệu quả kỹ thuật mà chủ yếu là do không đạt được hiệu quả quy mô, do đó tăng
quy mô ở khối ngân hàng thương mại cổ phần sẽ tạo điều kiện tăng trưởng hiệu quả
hoạt động. Trong khi đó, suy giảm chỉ số Malmquist TFP ở các ngân hàng thương
mại Nhà nước chủ yếu là so sự suy giảm trong hiệu quả công nghệ, nên các ngân
hàng thương mại Nhà nước nên chú trọng hơn vào việc áp dụng các công nghệ tiên
tiến phục vụ cho hoạt động của ngân hàng.
Các nghiên cứu tại Việt Nam chỉ cập nhật dữ liệu đến năm 2012, do đó, tác đề tài sử
dụng phương pháp DEA với dữ liệu đến năm 2015 để bổ sung vào nguồn dữ liệu
đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Bên cạnh
đó, đề tài so sánh kết quả của ba cách tiếp cận khác nhau trên cùng một bộ dữ liệu
giúp người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status