Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 15



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ

Sinh viên thực hiện : Bùi Đức Hoàn
Lớp : Pháp 1
Khóa : 41 E
Giáo viên hướng dẫn:TS. Nguyễn Văn Hồng

Hà Nội, 11/2006

3.2.Thách thức 25
4.Kinh nghiệm của Trung Quốc về cải cách hệ thống NHTM trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế 27
4.1.Bối cảnh hệ thống NHTM Trung Quốc trước tiến trình hội nhập quốc tế 27
4.2.Các diễn biến đáng chú ý trong quá trình cải cách hệ thống NHTM Trung
Quốc 28
4.3.Bài học kinh nghiệm với Việt Nam 32
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 34
I.Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của một NHTM 34
1.Năng lực tài chính 34
2.Mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch
vụ 35
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
2
3.Cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý và hệ thống chi nhánh phân phối sản phẩm
dịch vụ 36
4.Nguồn nhân lực 37
5.Trình độ công nghệ ngân hàng 38
6.Thị phần trong nước trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính 38
7.Kết quả hoạt động kinh doanh 39
II.Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế 39
1.Thực trạng về năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam 40
1.1.Quy mô vốn tự có và mức độ an toàn vốn 40
1.2.Chất lượng tài sản “có” 50
2.Thực trạng về mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng

Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
3
II.Các giải pháp vĩ mô góp phần tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ
trợ nâng các NHTM Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và
năng lực cạnh tranh 107
1.Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật
điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế 107
2.Tiếp tục thực hiện cải cách hệ thống NHTM nhà nước và các DNNN, giảm
bớt sự can thiệp quá mức của Chính phủ và các cơ quan công quyền vào hoạt
động kinh doanh của các NHTM nhà nước nhằm tăng cường tính tự chủ, tính
tự chịu trách nhiệm của các NHTM nhà nước 109
3. Xoá bỏ dần bao cấp, bảo hộ đối với các NHTM trong nước đi đôi với nới
lỏng từng bước các quy định hạn chế mang tính hành chính đối với các NHTM
trong và ngoài nước nhằm tạo môi trường hoạt động kinh doanh minh bạch,
lành mạnh, bình đẳng hơn cho hệ thống NHTM Việt Nam 110
4.Nâng cao năng lực quản lý vĩ mô và vai trò giám sát của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính, ngân
hàng 112
5.Xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin và thị trường tài
chính tiền tệ 113
Kết luận 114
Danh mục tài liệu tham khảo 115
ngân hàng trong và ngoài nước. Chính vì vậy, việc đánh giá và phân tích thực trạng hoạt
động kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để
đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong
tiến trình hội nhập quốc tế lĩnh vực tài chính, ngân hàng là một vấn đề hết sức cấp thiết và
mang nhiều ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Chính vì lý do đó, tác giả quyết định
chọn đề tài “Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp.
Nội dung của khoá luận tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
- Chương I: Khái quát về hệ thống NHTM Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế
trong lĩnh vực ngân hàng của các NHTM Việt Nam.
- Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chương III: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của các NHTM
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
5
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo, TS. Nguyễn Văn Hồng, phó Hiệu
trưởng trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những
ý kiến đóng góp quý báu để em có thể hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thày, cô giáo, các cán bộ nhân viên
Khoa Kinh tế ngoại thương cũng như trường Đại học ngoại thương, những người đã trang
bị cho em những kiến thức chuyên môn và những kỹ năng cần thiết cũng như một môi trường
học tập nghiêm túc trong suốt hơn 4 năm học vừa qua. Đồng thời em cũng bảy tỏ lời cảm ơn
chân thành tới tất cả các cán bộ, nhân viên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các NHTM
Nhà nước, các NHTMCP, các NHTM liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam và các cơ quan khác đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành tốt khoá luận tốt
nghiệp của mình.

tế thương mại khác:
- Thực hiện các thao tác giao dịch ngân hàng (còn gọi là các thao tác nghiệp vụ
ngân hàng). Các thao tác giao dịch ngân hàng đó thường bao gồm các nghiệp vụ chủ
yếu là: Thu nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức và có hoàn trả; Cấp tín dụng cho người
đi vay dưới nhiều hình thức khác nhau để kiếm lời; Làm trung gian thanh toán và
quản lý các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các thao tác dịch vụ phi ngân hàng nhưng gắn với hoạt động ngân
hàng.
- Các tổ chức được làm các thao tác giao dịch đó khi được phép của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền .
Khái niệm NHTM theo pháp luật Việt Nam được hiểu như sau:
1.1.Khái niệm NHTM theo Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính năm 1990
Trước khi có Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính
năm 1990, khái niệm NHTM chưa từng được đề cập đến trong các văn bản pháp luật
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
7
Việt Nam. Trước đó, Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 mới chỉ quy định các
nghiệp vụ của NHTM nhà nước dưới khái niệm “Ngân hàng chuyên doanh” ở điều 3,
theo đó các ngân hàng chuyên doanh là tổ chức kinh doanh trực tiếp, có tư cách
pháp nhân, bình đẳng trong quan hệ kinh doanh đối với các đơn vị và các thành phần
kinh tế cơ sở và trong hệ thống mỗi ngân hàng chuyên doanh. Các ngân hàng chuyên
doanh có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức kinh doanh về tín dụng và dịch vụ ngân hàng, về ngoại hối, vàng
bạc, kim khí quý, đá quý trong và ngoài nước theo pháp luật.
- Huy động và khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi bằng những biện pháp kinh tế
năng động, có hiệu quả (kể cả cổ phần, cổ phiếu); thực hiện cho vay vốn hoặc hùn

ngay trong Điều 1 như sau: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục
tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.
Như vậy Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Nghị định 49 đã bao quát
được đầy đủ nội hàm và bản chất của NHTM. Về tư cách và tính chất loại hình doanh
nghiệp, cả Luật các tổ chức tín dụng 1997 và Nghị định 49 đều coi NHTM là tổ chức
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng chứ không chỉ là tổ chức kinh
daonh tiền tệ đơn thuần. Về nội dung hoạt động, so với Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990, Luật các tổ chức tín dụng 1997 và Nghị
định 49 đưa ra nội dung hoạt động của NHTM rộng hơn ở chỗ hoạt động cấp tín dụng
rộng hơn hoạt động cho vay, và việc cung ứng dịch vụ thanh toán rộng hơn việc sử
dụng tiền gửi làm phương tiện thanh toán.
Mặt khác, so với Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính
năm 1990, Luật các tổ chức tín dụng cũng định hướng rõ hơn về mô hình tổ chức và
hoạt động của các NHTM. Theo Điều 32 của Pháp lệnh, NHTM ngoài việc thực hiện
các nghiệp vụ truyền thống, ngân hàng còn được thực hiện thêm một số nghiệp vụ
giống như công ty tài chính, đó là nghiệp vụ chứng khoán (cất giữ, mua bán, chuyển
nhượng, quản lý các chứng khoán và giấy tờ có giá) và một số nghiệp vụ mang tính
thương mại thuần tuý như cho thuê động sản và bất động sản, các nghiệp vụ về vàng,
kim khí quý, đá quý. Còn theo Luật các tổ chức tín dụng, NHTM ngoài việc thực hiện
các nghiệp vụ truyền thống còn được tham gia vào hoạt động chứng khoán, bảo hiểm
thông qua việc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân. Đặc trưng này chỉ
ra yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng
theo hướng tăng cường các thiết chế an ninh tài chính, an toàn và đảm bảo cho hoạt
động của NHTM, xây dựng và thực thi cơ chế thanh tra, giám sát, quản lý chặt chẽ và
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
9


Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
10
kinh tế, các cá nhân – những người có nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh hoặc
tiêu dùng. Như vậy với chức năng này, NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho
vay. “Vay để cho vay” chính là một trong những phương thức kinh doanh của
NHTM, nhằm làm cầu nối giữa những người có tiền nhàn rỗi tạm thời chưa dùng đến
nhưng vẫn muốn đồng tiền sinh lời với những người cần vốn để đầu tư sản xuất kinh
doanh hay tiêu dùng mua sắm. Hiện nay, với sự phát triển của hoạt động ngân hàng,
chức năng trung gian tín dụng của các NHTM không chỉ dừng lại là làm cầu nối giữa
người gửi tiền và người đi vay tiền, mà còn là trung gian giữa các công ty, các tổ
chức kinh tế (khi phát hành chứng khoán) với các nhà đầu tư mua bán chứng khoán,
chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, tín dụng ngân
hàng còn là một kênh quan trọng góp phần hình thành vốn lưu động và vốn cố định
của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục thông suốt, qua
đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế của toàn xã hội.
2.2.Chức năng trung gian thanh toán
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM đóng vai trò như một “thủ
quỹ” của các doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân, nhập tiền vào tài khoản hay chi trả
tiền từ tài khoản theo lệnh của chủ tài khoản. Chức năng trung gian thanh toán có
quan hệ gắn bó với chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian tín dụng làm
cơ sở cho chức năng trung gian thanh toán, bởi vì trên cơ sở số tiền mà khách hàng
gửi tại ngân hàng, ngân hàng sẽ sử dụng nó để cho các khách hàng khác vay với mục
đích thanh toán, trả nợ trong hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của
họ, hoặc là trả nợ, thanh toán cho chính chủ tài khoản đó. Việc mở tài khoản tại ngân
hàng và ngân hàng thực hiện việc thanh toán, trả nợ hộ chủ tài khoản thông qua hình
thức chuyển khoản đã làm giảm thiểu tối đa những rủi ro bất tiện, đặc biệt là tiết kiệm
tối đa thời gian và chi phí so với việc lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế. Ngược lại,
với chức năng là trung gian thanh toán trong nền kinh tế, các NHTM lại có cơ sở để

diễn như vậy cho đến khi nào khoản tiền gửi bằng không. Do đó số tiền gửi ban đầu
1.000.000 VND được hệ thống NHTM chuyển hoá như sau:
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
12

Bảng I.1: Cách tạo tiền của hệ thống NHTM
Tên các NHTM
Tiền gửi mới
Thanh toán cho vay
mới
Dự trữ bắt buộc
A
1.000.000
900.000
100.000
B
900.000
810.000
90.000
C
810.000
720.000
81.000
D
720.000
648.000
72.000

Samuelson đã phát biểu: “Sự thật là toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể làm được cái
mà từng ngân hàng nhỏ một không thể làm được: nó có thể mở rộng việc cho vay nợ
và từ đó mở rộng nguồn tiền ngân hàng lên gấp nhiều lần so với số mà các dự trữ
mới tạo ra cho nó, cho dù mỗi ngân hàng nhỏ bao giờ cũng chỉ cho vay một phần số
tiền ký gửi” (Nguồn: [2]).
2.4.Chức năng cung ứng dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác
Ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo tiền, NHTM
còn cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác. Các dịch vụ tài chính mà
ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng như dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn đầu
tư, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới mua bán và
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
13
lưu ký chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, Hơn thế nữa, cùng với sự phát triển
của nền kinh tế và nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, các NHTM không
ngừng cung cấp thêm các dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ
quản lý mua bán nợ, dịch vụ quản lý tài sản, dịch vụ kinh doanh địa ốc, các dịch vụ
ngân hàng hiện đại như MobileBanking, InternetBanking, E-Banking,
3.Sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam
Ngành ngân hàng Việt Nam chính thức ra đời ngày 6/5/1951 với quyết định
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam, nay là
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kể từ đó đến trước năm 1975 ở miền Bắc, rồi từ
năm 1975 đến năm 1990 trên phạm vi cả nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ
chức theo mô hình một cấp, mô hình rập khuôn theo hệ thống ngân hàng của Liên Xô
và các nước XHCN (cũ), theo đó chỉ tồn tại Ngân hàng nhà nước (NHNN) do Nhà
nước độc quyền nắm giữ, vừa làm chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ và phát hành
tiền trong nền kinh tế như một Ngân hàng trung ương, vừa trực tiếp kinh doanh tiền
tệ tín dụng như một ngân hàng thương mại. Ngoài NHNN chỉ có các Hợp tác xã tín

điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định trị giá đồng tiền làm mục tiêu
chủ yếu và chi phối căn bản chính sách tiền tệ quốc gia, thực hiện nhiệm vụ đối
ngoại của Nhà nước về ngân hàng với các tổ chức ngân hàng tài chính của các Chính
phủ hoặc các tổ chức quốc tế trên thế giới.
- Các NHTM và các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh tiền tệ và các dịch
vụ ngân hàng theo cơ chế thị trường trong khuôn khổ pháp luật.
Về mặt pháp lý và thực tiễn, có thể coi đây mới là thời điểm ra đời hệ thống
NHTM Việt Nam, vì mặc dù Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (tiền thân là
Ngân hàng kiến thiết, ra đời năm 1958) và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (ra đời
năm 1963) được thành lập từ 2 nhánh hoạt động của NHNN Việt Nam để hoạt động
kinh doanh, song cho tới năm 1990 cả hai ngân hàng trên vẫn chưa được tổ chức và
hoạt động như một ngân hàng thương mại đúng nghĩa. NHNN vẫn luôn giữ quyền
độc quyền huy động vốn, cấp tín dụng và các hoạt động tài chính ngân hàng khác
trong nền kinh tế. Ngân hàng đầu tư và phát triển chủ yếu chịu trách nhiệm cấp vốn
dài hạn cho các công trình công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho các
xí nghiệp nhà nước, còn Ngân hàng ngoại thương chủ yếu tiến hành các nghiệp vụ
thu đổi ngoại tệ và thanh toán trong ngoại thương. Tuy nhiên với sự hình thành của 2
ngân hàng khác là Ngân hàng công thương Việt Nam và Ngân hàng nông nghiệp
Việt Nam từ phòng tín dụng thương mại, công nghiệp và phòng tín dụng nông nghiệp
của NHNN, cùng với sự ra đời của 2 pháp lệnh trên, các chức năng kinh doanh đã
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
15
được chuyển giao dần cho các NHTM nhà nước, còn NHNN dần dần chỉ còn giữ vai
trò chức năng thực sự của một NHNN, ngân hàng trung ương. Hệ thống ngân hàng
hai cấp chính thức ra đời từ đây.
Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 và sau này là Luật Ngân hàng Nhà nước và
Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 đã thực sự xây tạo lập và hoàn thiện hành lang

một công ty cổ phần, gồm có 30 NHTMCP đô thị và 7 NHTMCP nông thôn. Các
NHTMCP được phép hoạt động đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của
NHNN Việt Nam.
- Nhóm NHTM liên doanh là các NHTM được thành lập dưới hình thức công
ty TNHH trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa một hay nhiều NHTM trong nước với
một hay nhiều NHTM có vốn đầu tư nước ngoài, gồm có 5 ngân hàng. Nội dung hoạt
động cụ thể của các NHTM liên doanh trên lãnh thổ Việt Nam do NHNN Việt Nam
quy định trong Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh. Khi có nhu
cầu và được NH Nhà nước cho phép, các NHTM liên doanh được thực hiện thêm các
nghiệp vụ khác phù hợp với pháp luật liên quan của Việt Nam.
- Nhóm chi nhánh ngân hàng nước ngoài, gồm có 31 ngân hàng (trong đó có 8
ngân hàng có chi nhánh phụ). Nội dung hoạt động cụ thể của từng chi nhánh ngân
hàng nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam do NHNN Việt Nam quy định trong Giấy
phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Khi có nhu cầu và được NH Nhà nước cho
phép, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện thêm các nghiệp vụ khác
phù hợp với pháp luật liên quan của Việt Nam.
- Nhóm văn phòng đại diện của các NHTM và tổ chức tín dụng nước ngoài,
gồm 47 văn phòng đại diện. Văn phòng đại diện của NHTM và tổ chức tín dụng nước
ngoài có thể thực hiện toàn bộ hay một phần các hoạt động dưới đây theo quy định
trong Giấy phép do NH Nhà nước Việt Nam cấp: làm chức năng văn phòng liên lạc;
nghiên cứu thị trường; xúc tiến xây dựng các dự án đầu tư của tổ chức tín dụng nước
ngoài tại Việt Nam; thúc đẩy và theo dõi việc thực hiện các hợp đồng, thoả thuận đã
ký giữa tổ chức tín dụng nước ngoài và các tổ chức tín dụng Việt Nam và các doanh
nghiệp Việt Nam, các dự án do tổ chức tín dụng nước ngoài tài trợ tại Việt Nam; các
hoạt động khác phù hợp với pháp luật Việt Nam khi được NH Nhà nước Việt Nam
cho phép (Nguồn: [20]).
II.Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng: Cơ hội và thách thức đối
với các NHTM Việt Nam
1.Bản chất và đặc trưng cơ bản của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

từng bước thực hiện xoá bỏ các rào cản và mở cửa thị trường ngân hàng theo các cam
kết khu vực và quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia, trong đó có Hiệp định
thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) đã ký năm 2000, Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới WTO mà Việt Nam sẽ trở
thành thành viên chính thức vào đầu tháng 11/2006 và Hiệp định khung về hợp tác
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
18
thương mại dịch vụ của các nước ASEAN (AFAS).
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, bắt đầu có hiệu lực từ tháng
12/2001, là cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng đầu tiên mà nước ta phải thực hiện
trong tiến trình hội nhập. Đây là một bước tập dượt quan trọng và nhiều ý nghĩa của
ngành ngân hàng Việt Nam trước khi gia nhập WTO vì các khái niệm và nội dung
cam kết về thương mại dịch vụ tài chính trong BTA về cơ bản là dựa theo và gắn với
các khái niệm và nội dung về thương mại dịch vụ tài chính mà WTO đưa ra với các
nước thành viên. Theo BTA, các cam kết mở cửa dịch vụ ngân hàng của Việt Nam
được thực hiện theo lộ trình 9 năm kể từ khi BTA chính thức có hiệu lực vào ngày
10/12/2001, trước khi mọi hạn chế đối với các ngân hàng và tổ chức tín dụng của Hoa
Kỳ được bãi bỏ hoàn toàn. Từ cuối năm 2001 đến trước năm 2010, các nhà cung cấp
dịch vụ tài chính Hoa Kỳ chỉ được hoạt động dưới hình thức liên doanh với đối tác
Việt Nam, trong đó các NHTM Hoa Kỳ chỉ có thể thành lập liên doanh với tỉ lệ góp
vốn 30% - 49% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh. Theo thoả thuận song phương
Việt Nam – Hoa Kỳ về việc gia nhập WTO của Việt Nam ký ngày 31/5/2006, kể từ
ngày 1/4/2007 các ngân hàng Hoa Kỳ sẽ được phép thành lập các chi nhánh 100%
vốn nước ngoài tại Việt Nam. Cũng như các pháp nhân Việt Nam, các chi nhánh này
sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhận
tiền gửi bằng VND không giới hạn từ các pháp nhân đồng thời được phát hành thẻ tín
dụng. Từ năm 2010 trở đi, những hạn chế trên sẽ bị bãi bỏ, các NHTM Hoa Kỳ sẽ

thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ trông coi bảo quản, lưu
giữ và uỷ thác;
- Các dịch vụ thanh toán và quyết toán đối với các tài sản tài chính bao gồm
các chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác;
- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính, các phần
mềm của các cung cấp các dịch vụ tài chính khác;
- Tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan
đến các hoạt động tại các mục từ 1 đến 11 kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, tư
vấn và nghiên cứu đầu tư, tư vấn về thụ đắc, về chiến lược và cơ cấu công ty;
- Buôn bán cho tài khoản của mình hay cho tài khoản của khách hàng tại sở
giao dịch chứng khoán, trên thị trường chứng khoán OTC hay trên các thị trường
khác, những sản phẩm sau:
+ Các sản phẩm của thị trường tiền tệ (bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền
gửi);
+ Ngoại hối;
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
20
+ Các sản phẩm tài chính phái sinh bao gồm nhưng không hạn chế ở các hợp
đồng giao dịch tương lai (futures) và quyền chọn (options);
+ Các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất bao gồm các sản phẩm như
hoán vụ (swaps), các hợp đồng kỳ hạn (forwards);
+ Các chứng khoán có thể chuyển nhượng;
+ Các công ty có thể thanh toán và tài sản tài chính khác, kể cả vàng nén;
+ Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát
hành và chào bán như đại lý (theo cách công khai hoặc theo thoả thuận riêng) và cung
cấp các dịch vụ liên quan đến việc phát hành đó.
Sau khi bắt đầu thực hiện các cam kết với Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ phải tiếp tục

theo lộ trình 7 mốc. Trong thời gian đầu nới lỏng các hạn chế đối với các NHTM Hoa
Kỳ về nhận tiền gửi, cho phép phát triển một số loại hình tín dụng và thanh toán,
tham gia các hoạt động tư vấn và môi giới kinh doanh tiền tệ. Đồng thời trong thời
gian này Việt Nam cũng gấp rút chuẩn bị đàm phán về thương mại dịch vụ tài chính
ngân hàng với các đối tác song phương và đa phương để gia nhập WTO.
- Giai đoạn 2006 – 2010:
Trong giai đoạn này tiếp tục thực thi các cam kết về mở cửa thị trường tài
chính ngân hàng trong BTA, đồng thời từ năm 2007 bắt đầu thực hiện Thoả thuận
song phương Việt Nam – Hoa Kỳ về việc Việt Nam gia nhập WTO; bắt đầu thực thi
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO theo hướng thực hiện các
hiệp định song phương đã ký kết với các nước thành viên WTO trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng; bắt đầu thực hiện các yêu cầu đã cam kết với các nước ASEAN
trong Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ của các nước ASEAN (AFAS).
Cụ thể trong giai đoạn này tiếp tục mở cửa dịch vụ ngân hàng và hình thức
pháp lý trong hoạt động ngân hàng với các NHTM và trung gian tài chính Hoa Kỳ,
đảm bảo đến trước năm 2010 các ngân hàng Hoa Kỳ được đối xử gần như bình đẳng
với các ngân hàng trong nước. Đối với các nước thành viên WTO (trừ Hoa Kỳ) và
các nước ASEAN, lộ trình thực hiện mở cửa dịch vụ tài chính ngân hàng bắt đầu
được thực hiện với nội dung và tiến trình tương tự như đối với Hoa Kỳ trong giai
đoạn 2001-2005. Các NHTM sẽ cạnh tranh quyết liệt hơn cả về loại hình và chất
lượng sản phẩm dịch vụ. Mặc dù vẫn có sự can thiệp nhất định của Nhà nước do Việt
Nam có quyền được hưởng những ưu đãi nhất định đối với các nước đang phát triển
nhưng những hạn chế và rào cản hoạt động đối với các NHTM và trung gian tài chính
nước ngoài sẽ giảm mạnh.
- Giai đoạn 2010 – 2020:
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
22

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Bùi Đức Hoàn-Lớp Pháp 1 K41E
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
23
và kinh doanh hiệu quả, đồng thời các NHTM kinh doanh yếu kém sẽ bị đào thải
hoặc phải vươn lên nếu muốn tồn tại và phát triển - đó chính là viễn cảnh của thị
trường ngân hàng Việt Nam khi thực sự hội nhập vào thị trường ngân hàng quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đã và đang tạo ra cho các NHTM
Việt Nam những cơ hội để phát triển, nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức
khó khăn phải vượt qua.
3.1.Cơ hội
Các nhà nghiên cứu kinh tế tài chính đã đưa ra kết luận từ kinh nghiệm hội
nhập kinh tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của nhiều nước khác nhau trên thế
giới là hệ thống tài chính ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là hệ thống tài chính ngân
hàng tốt nhất cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, kinh tế phát triển đến lượt nó lại
nâng cao khả năng phân bổ các nguồn lực và tiếp cận các dịch vụ với các chi phí thấp
hơn và chất lượng tốt hơn, tạo ra những tiền đề vững chắc để dịch vụ tài chính ngân
hàng phát triển mạnh mẽ toàn diện hơn. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang
mở cửa và hội nhập như hiện nay, việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng
ngoài việc cho phép các NHTM trong và ngoài nước được hoạt động kinh doanh,
cạnh tranh và lớn mạnh trong một sân chơi công bằng và bình đẳng hơn còn tạo điều
kiện thuận lợi cho các NHTM trong nước thâm nhập vào thị trường quốc tế và mở
rộng hoạt động kinh doanh. Ngoài ra hội nhập còn đem lại cho ngành ngân hàng Việt
Nam những cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tài
chính tiền tệ, quản lý ngoại hối, thanh tra, giám sát phòng ngừa rủi ro và thanh toán,
từ đó nâng cao uy tín và vị thế của các NHTM Việt Nam trong các giao dịch tài chính
ngân hàng quốc tế, điều vốn là hạn chế của các NHTM Việt Nam hiện nay.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy sự tham gia thị trường ngân hàng của các
NHTM nước ngoài không chỉ làm gia tăng mức độ cạnh tranh mà còn cả sự lành

Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng cũng đòi hỏi môi trường pháp
lý phải được cải thiện hơn để thực hiện các cam kết quốc tế, tạo ra môi trường đầu tư
hấp dẫn, khuyến khích các luồng vốn chảy vào trong nước thông qua đầu tư trực tiếp
và gián tiếp nước ngoài, góp phần tạo các kênh huy động vốn mới và nhiều tiềm năng
cho các NHTM Việt Nam. Mặt khác cơ chế quản lý, các quy định luật pháp của nhà
nước về hoạt động ngân hàng và công tác quản trị của các NHTM cũng phải được
thay đổi theo hướng thuận lợi hơn và phù hợp với các cam kết, thông lệ và chuẩn
mực quốc tế, nhất là về hệ thống kế toán, kiểm toán, thanh tra và giám sát hoạt động
ngân hàng, hệ thống thông tin quản lý. Điều đó tạo ra môi trường hoạt động kinh
doanh an toàn, lành mạnh và thuận lợi hơn cho các NHTM Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status