Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
Đề tài 6: CÁC VẤN ĐỀ LỚN NHẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC
NGÂN HÀNG VIỆT NAM LÀ GÌ? SẮP XẾP THEO THỨ TỰ ƯU TIÊN CÁC
VẤN ĐỀ NÀY? GIẢI PHÁP CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC VẤN ĐỀ NÀY VÀ
GIẢI PHÁP RIÊNG CHO TỪNG VẤN ĐỀ?
I.Các vấn đề lớn nhất trong hoạt động cho vay của các ngân hàng Việt Nam:
1. Hoạt động cho vay của các Ngân hàng chịu sự tác động của các chính sách kinh
tế vĩ mô:
- Các Ngân hàng Việt Nam chịu sự tác động của chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung
ương điều tiết nền kinh tế, quản lý hoạt động của hệ thống ngân hàng thông qua các công cụ
của chính sách tiền tệ, bao gồm các công cụ trực tiếp(ấn định mức lãi suất, hạn mức tín dụng,
mức tồn quỹ tối thiểu) và các công cụ gián tiếp(dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị
trường mở, lãi suất, tỷ giá hối đoái).
a, Lãi suất:
•
Ấn định lãi suất trần, lãi suất sàn:
- Việc NHNN ấn định lãi suất tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn,hoạt
động cấp tín dụng của các ngân hàng, đặc biệt là cho vay. Từ tháng 6/2002 cho đến nay, Ngân
hàng Nhà nước quyết định thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận, các tổ chức tín dụng tự ấn
định lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ
tín nhiệm đối với từng khách hàng. Ngân hàng Nhà nước chấm dứt phần nào việc can thiệp
vào lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Trong thực tế, các ngân hàng đã chuyển các
khoản cho vay ngắn hạn chịu qui định trần lãi suất cho vay sang cho vay trung, dài hạn để áp
dụng lãi suất thoả thuận cao hơn, lãi suất cơ bản chỉ còn đóng vai trò tâm lý như tín hiệu là
NHNN Việt Nam sẽ thắt chặt hay nới lỏng chính sách tín dụng nói riêng và chính sách tiền tệ
nói chung.
Chủ đề 6 1
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
- Với tình hình kinh tế khó khăn và áp lực cạnh tranh lớn,mức chênh lệch giữa lãi
suất huy động và cho vay rất bé, huy động vốn rất khó khăn (nhưng lại không đồng đều trong
toàn hệ thống mà khó khăn tập trung chủ yếu vào các Ngân hàng nhỏ và mới thành lập) nên
c, Quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu:
- Theo quy đinh tại thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20 tháng 5 năm 2010 quy
định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng:tổ chức tín dụng, trừ
chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so
với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ). Do đó, bất cứ
một ngân hàng nào cũng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tất nhiên không thể cho vay
quá mức làm giảm tỷ lệ này.
d, Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
- Việc tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tác động đến giá cả tín dụng và khả năng
tạo tiền của hệ thống ngân hàng. Khi tăng dự trữ bắt buộc sẽ làm tăng lãi suất huy động, lãi
suất cho vay và ngược lại.
2. Rủi ro trong hoạt động cho vay:
Chủ đề 6 3
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
- Chúng ta biết rằng tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và
lãi giữa người đi vay và người cho vay. Cho vay hoàn trả khác với nghiệp vụ tài trợ cấp vốn
của nhà nước cho các thành phần kinh tế… Hoạt động cho vay là hoạt động rất đa dạng, là
một hoạt động kinh doanh hàng hoá phức tạp. Tính phức tạp của nó chính là đối tượng kinh
doanh tức là tiền tệ, ở đây tiền tệ được tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho
vay.
- Người ta cho rằng quyền cho vay là của người cho vay và quyền trả nợ thực tế là của
người đi vay. Chính vì vậy đòi hỏi người cho vay phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả
năng trả nợ của người đi vay, dự tính, phán đoán khả năng, mức độ rủi ro. Quan hệ cho vay là
quan hệ kinh tế bình đẳng giữa người đi vay và người cho vay, là sự cam kết thoả thuận bằng
các điều khoản thi hành thể hiện trong các hợp đồng cho vay. Sự cam kết này chính là cơ sở
pháp lý cơ bản để thực hiện nghĩa vụ của hai bên tham gia hoạt động cho vay. Nó là cơ sở
pháp lý để đảm bảo tín dụng. Bên cạnh đó cũng có các cam kết khác bằng các hành vi hay
năng lực kinh tế, thể hiện bằng vật chất, uy tín như tài sản thế chấp, cầm cố, ký quỹ bảo lãnh.
- Trong cho vay một bên là người cho vay vốn, một bên là người đi vay vốn và một bên
là cho vay giữa hai bên là hợp đồng tín dụng. Vốn ở đây được thể hiện bằng tiền chứ không
để cho vay.
Chủ đề 6 5
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
+ Rủi ro khi có sự thay đổi tỷ giá hối đoái: Do các khoản cho vay bằng ngoại tệ ngày
càng tăng, cùng với các nghiệp vụ khác nên các ngân hàng phải trực tiếp tham gia vào thị
trường hối đoái. Từ lúc ký hợp đồng cho vay đến khi giải ngân, ngân hàng cần có một khoảng
thời gian nhất định. Do đó khó tránh khỏi những rủi ro xảy ra khi tỷ giá hối đoái thay đổi.
+ Rủi ro khi có sự thay đổi lãi suất bình quân trên thị trường ảnh hưởng đến mức lãi suất
ngân hàng đang áp dụng trong các giao dịch cho vay.Lãi xuất cho vay của các ngân hàng
thương mại được xác định trên lãi suất bình quân trên thị trường và chính sách lãi suất của
ngân hàng. Mức lãi xuất này được áp dụng cho người đi vay trong suốt thời gian vay (hợp
đồng vay lãi suất cố định). Vì vậy trong thời gian đó, nếu có sự biến động lớn về lãi suất sẽ
gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt là khả năng cạnh tranh của
ngân hàng trên thị trường.
+Rủi ro về tài sản đảm bảo biến động về giá cả: rủi ro này xảy ra khi các tài sản đảm
bảo bị thay đổi hoặc bị chiếm đoạt hay mất trộm ….điều này gây cho ngân hàng tổn thất khi
thanh lý để bù đắp khoản vay.
+ Rủi ro thanh khoản:
- Khi ngân hàng cho các cá nhân tổ chức tín dụng, doanh nghiệp vay xảy ra sự lệch pha giữa
kỳ hạn tiền gửi và kỳ hạn tiền vay
VD: người dân phần lớn ưu chuộng gửi tiền với các kỳ hạn ngắn, chủ yếu dưới 12 tháng và
tập trung phần lớn ở kỳ hạn từ 1 tháng tới 3 tháng. Trong khi đó, các khoản cho vay thì phần lớn lại
có kỳ hạn trên 12 tháng. Với sự lệch pha đó, chỉ cần NHTW có động thái hút tiền về từ lưu thông
về thì các ngân hàng TM có tỷ lệ cho vay trên tổng huy động cao sẽ gặp khó khăn về vấn đề thanh
khoản
Chủ đề 6 6
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
- Việc ngân hàng cho vay quá mức không quan tâm đến nguồn quỹ dự trữ hay những tài sản
có tính lỏng cao thì khi người gửi tiền đột ngột rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn khiến Ngân
hàng không sẵn có nguồn vốn để thanh toán → tính thanh khoản kém
đó, đây là một khó khăn rất lớn đối với các ngân hàng trong việc sàng lọc, lựa chọn khách
hàng.
- Để có thể kiểm tra giám sát, đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích đòi hỏi
các tổ chức tín dụng phải biết được dòng tiền vào và dòng tiền ra trong quá trình sử dụng vốn
vay của bên vay. Đây là một vấn đề rất lớn đang đặt ra đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam
nói chung và các ngân hàng nói riêng vì việc kiểm soát dòng tiền bảo đảm bên vay sử dụng
vốn đúng mục đích không phải là vấn đề đơn giản vì khác với các nền kinh tế phát triển, đối
với Việt Nam, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt vẫn ở mức rất cao. Đây chính là khó khăn rất
lớn trong việc giám sát chi tiêu của người vay vốn.
- Mặt khác, trong khi hệ thống thông tin trong nội bộ các tổ chức tín dụng, giữa các tổ
chức tín dụng chưa được thông suốt, mà các doanh nghiệp được mở tài khoản ở rất nhiều các
tổ chức tín dụng khác nhau và các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hết sức đa dạng,
rất khó phân biệt nên việc "qua mặt" các ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay sai mục đích
là điều rất dễ xảy ra. Hoặc trường hợp một dự án, hợp đồng có thể vay ở nhiều tổ chức tín
dụng là điều rất hay xảy ra. Chúng ta cùng xem xét một số vấn đề mà các ngân hàng có thể
gặp phải trong hoạt động tín dụng của mình:
+ Lòng vòng vay mượn:
Chủ đề 6 8
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
- Doanh nghiệp ABC hoạt động sản xuất kinh doanh tổng hợp (xây lắp, sản xuất vật
liệu xây dựng, đầu tư bất động sản…) cho rằng thị trường bất động sản đang ấm dần lên, nếu
đầu tư ngay thì khả năng sẽ có lợi trong tương lai. Nhưng hiện tại, ABC không có đủ vốn,
việc vay vốn ngân hàng để đầu tư vào bất động sản là không thể được vì ngân hàng đánh giá
đây là loại hình kinh doanh quá rủi ro. Làm thế nào để ABC có tiền để đầu tư vào dự án bất
động sản nêu trên? Hiện tại ABC đang là nhà thầu thi công công trình có quy mô lớn. ABC
vay vốn ngân hàng để mua nguyên vật liệu của công ty XYZ (ABC chuyển tiền trả cho XYZ).
XYZ là nhà phân phối chính của ABC. XYZ tiếp tục ký hợp đồng mua sản phẩm của ABC,
XYZ chuyển tiền ngược trở lại cho ABC. Bây giờ tiền của ABC là doanh thu chứ không phải
là vốn vay. Vậy là ABC có thể dùng khoản tiền này để thực hiện đầu tư dự án bất động sản
nêu trên. Điều gì sẽ xảy ra nếu thời gian sau đó thị trường bất động sản bị đóng băng. Việc
a, Thực trạng:
-Trong hoạt động cho vay của các Ngân hàng Việt Nam, tình trạng bất cân xứng thông tin
luôn hiện diện, ở đó ngân hàng luôn là người bất lợi hơn về mặt thông tin so với người đi vay.
Đứng ở góc độ tổng thể người ta thừa nhận rằng lãi suất cao sẽ góp phần loại bỏ những doanh
nghiệp làm ăn tồi và những dự án kém hiệu quả. Tuy nhiên, thật khó để phân biệt được một
dự án tốt một dự án xấu khi ngân hàng không có được thông tin đầy đủ về người đi vay.
- Dựa trên thông tin không đầy đủ, quyết định của ngân hàng là đưa ra một mức lãi suất
nhất định trên cơ sở rủi ro kỳ vọng về khách hàng. Với mức lãi suất đã ấn định, những dự án
có suất sinh lợi kỳ vọng thấp hơn sẽ không hiệu quả nên không đi vay, trong khi những dự án
có suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn mới có khả năng vay. Suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn hàm ẩn
mức độ rủi ro lớn hơn trong khi không đảm bảo một suất sinh lợi thực tế cao.
- Những người đã vay vốn thì có động cơ tìm kiếm những dự án rủi ro cao trong khi ngân
hàng cũng không thể giám sát và ngăn ngừa hết mọi khả năng sử dụng vốn của bên đi vay
được. Hiện tượng này được gọi là lựa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi vốn dĩ tồn tại trong
hầu hết các giao dịch có sự bất cân xứng thông tin giữa các bên. Nghịch lý này không chỉ
Chủ đề 6 10
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
phản ánh qua tình trạng méo mó lãi suất ở mức độ cao giữa các ngân hàng hiện nay mà hơn
thế nó tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu và đe doạ tính bền vững của hệ thống ngân hàng
b, Nguyên nhân: Các cơ sở hạ tầng và điều kiện cần thiết trong hoạt động tín dụng còn nhiều
hạn chế
•
Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính:
- Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính là một cơ sở cực kỳ quan trọng giúp
cho các bên có liên quan nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu một hệ
thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính không được tổ chức tốt và không minh bạch và
có độ tin cậy cao sẽ rất khó có thể căn cứ để xem xét "sức khoẻ" của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, hiện nay các DN vừa và nhỏ thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối
phó với cơ quan thuế; báo cáo chính thức thường thấp hơn tình trạng thực tế, không đảm bảo
đủ điều kiện vay vốn ngân hàng.
án kinh doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tín nhằm xác định, kiểm tra
các thông số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số về thị trường các nguyên liệu
đầu vào và thị trường đàu ra của sản phẩm…
- Thực tế, hiện nay các tổ chức tín dụng thường sử dụng các thông lấy được trên mạng
internet với tính hệ thống không cao. Việc truy cập, tìm kiếm những số liệu này phụ thuộc rất
nhiều vào trình độ của các bộ tín dụng với yêu cầu phải có khả năng đọc tốt tiếng Anh. Do
vấn đề về hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án của các tổ chức tín dụng
hiện nay vẫn đang là vấn đề rất lớn. Những biến số quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả
Chủ đề 6 12
Quản trị Hoạt động Ngân hàng 2 PGS.TS Lâm Chí Dũng
của dự án như giá nguyên vật liệu, giá bán, khả năng tiêu thụ …lại thiếu thông tin nhất trong
quá trình thẩm định.
•
Hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá:
•
Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực khách hàng:
- Theo quy định đối với những người điều hành doanh nghiệp đồi hỏi phải có một số
tiêu chuẩn nhất định nào đó (về bằng cấp). Nhưng thực tế những quy định này nặng về hình
thức hơn. Những căn cứ, tiêu chuẩn để dựa vào đó đánh giá khả năng điều hành của một
doanh nghiệp, một tổ chức gần như không có.
•
Các tiêu chuẩn phân tích báo cáo tài chính:
- Hai điều kiện cơ bản nhất để phân tích báo cáo tài chính nhằm đưa ra các đánh giá,
kết luận có độ tin cậy là phải có hệ thống thông tin báo cáo tài chính đủ độ tin cậy và có hệ
thông các chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá. Phần thứ nhất đã được trình bày ở phần trên.
- Hiện nay chưa có các tiêu chuẩn, chuẩn mực được cho là hiệu quả để so sánh đánh
giá một báo cáo tài chính của một khách hàng là tốt hay không tốt, đủ tiêu chuẩn hay chưa đủ
tiêu chuẩn. Trên cơ sở những tiêu chí của Ngân hàng Nhà nước đưa ra, các tổ chức tín dụng
cũng xây dựng hệ thống chỉ tiêu đấnh giá, xếo lọi khách hàng. Nhưng việc đánh giá dựa vào
các tiêu chuẩn này đang ở trong quá trình thử nghiệm chưa thực sự đi vào cuộc sống.