ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
HÀ NỘI TRONG PHIM
MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG VÀ MÙA ỔI
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN & LỊCH SỬ, PHÊ BÌNH ĐIỆN ẢNH – TRUYỀN HÌNH
1
1
Hà Nội-2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
HÀ NỘI TRONG PHIM
MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG VÀ MÙA ỔI
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận & Lịch sử,
phê bình Điện ảnh - Truyền hình
Mã số: 60210231
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Liên
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Cuối năm 1895 ghi dấu sự
khởi thủy của nền điện ảnh thế giới với buổi công chiếu phim của hai anh em
Auguste và Louis Lumiere tại Paris. Và chỉ sau đó ít năm, năm 1899, bộ phim đầu
tiên đã được chiếu tại Hà Nội bởi Gabriel Veyre - một trong những học viên đời
đầu của anh em nhà Lumiere. Tuy nhiên, phải đến năm 1923, bộ phim đầu tiên do
Việt Nam sản xuất mới xuất hiện. Cho đến nay, hơn 100 năm điện ảnh đặt bước
chân tới Việt Nam, song vốn tài sản kể đến về điện ảnh nước nhà lại còn khiêm tốn.
Trước năm 1986, điện ảnh chủ yếu tập trung vào các để tài chiến tranh, nông thôn
và cuộc sống nông nghiệp Việt Nam. Sau Đổi Mới năm 1986, đất nước đã đạt được
sự phát triển ổn định, kinh tế tăng trưởng có tích lũy, đảm bảo an ninh lương thực,
bước đầu xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, những mặt trái của kinh tế thị trường đã
bắt đầu lộ diện, xã hội Việt Nam đương đại bị phân hóa sâu sắc với rất nhiều bất ổn.
Vào thời điểm này, các bộ phim với các đề tài cũ đã mất vai trò dẫn đầu do không
thích ứng được với nhu cầu thị hiếu khán giả, phim thương mại hồi sinh nhưng vẫn
còn rất yếu ớt. Những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam tăng dần cả về số lượng và
chất lượng, đội ngũ làm phim cũng phong phú hơn bao giờ hết, song về đề tài, nội
dung còn rất nhiều hạn chế. Đây chính là một trong những lý do kéo lùi bước tiến
của điện ảnh Việt trong khu vực cũng như trên thế giới.
1.2 Với bề dày về văn hóa cùng lịch sử ngàn năm dựng nước, đây hoàn toàn
có thể được coi là một trong những đề tài “màu mỡ” để các đạo diễn tìm tòi và khai
thác. Một quốc gia với 54 dân tộc anh em, đa dạng về địa hình, khí hậu, lại gắn liền
với văn hóa nông nghiệp đã cho ra một tổng hòa văn hóa vô cùng đa dạng. Sự đa
dạng này xứng đáng đưa điện ảnh Việt Nam tiến bước sánh cùng điện ảnh chung thế
giới.
1.3 Hà Nội – mảnh đất 1000 năm văn hiến với bao trầm tích văn hóa từ thuở
kinh kì Thăng Long đã mang đến cho Hà Nội một diện mạo với những nét đặc trưng
thoang thoảng trong tiết lạnh chiều thu, vì cô gái Hà Nội nhẹ nhàng thanh lịch mà
phải lòng, mà say đắm. Và rồi hết thảy cái đẹp ấy đi vào thơ ca, âm nhạc như một lẽ
tất yếu. Những thước phim về Hà Nội có lẽ cũng vì hồn cốt Hà Nội mà trở nên thật
khác biệt.
6
Có lẽ bởi chất riêng đặc biệt ấy, mà không ít đạo diễn Việt Nam đã chọn Hà
Nội là đề tài cho riêng mình. Trong số các bộ phim về đề tài Hà Nội, với phạm vi
công trình, người viết chọn tìm hiểu về Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Trần
Anh Hùng và Mùa ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh.
Mỗi cá nhân, dựa vào vốn sống, các tác nhân về lịch sử xã hội, sẽ có những
cách đọc, nhìn và hiểu về văn hóa khác nhau. Chọn hai bộ phim với hai đạo diễn có
xuất phát điểm khác nhau, người viết mong muốn tìm ra sự đa dạng, phong phú của
văn hóa Hà Nội dưới những cảm nhận chủ quan. Mỗi tín hiệu văn hóa mang tới
trong bộ phim là một dấu ấn văn hóa riêng của đạo diễn.
Giải mã bằng văn hóa, người viết đặt hai bộ phim nêu trên vào bối cảnh của
văn hóa - xã hội, dựa vào tác động ảnh hưởng qua lại của điện ảnh với những hiện
tượng văn hóa xã hội khác, từ đó làm nổi bật những sắc thái văn hóa phong phú
được thể hiện trong tác phẩm điện ảnh. Cũng từ đó giải mã khám phá những biểu
tượng hàm ẩn và lớp nghĩa trầm tích trong nội dung tác phẩm. Trên cơ sở bóc tách
lớp văn hóa, công trình mong muốn đóng góp những góc nhìn đánh giá mới, đưa vẻ
đẹp văn hóa Hà Nội trở thành một đối tượng riêng để gìn giữ và phát triển. Với đặc
trưng về tính tổng hợp, các giá trị văn hóa len lỏi trong từng khung hình, từng lời
thoại, cử chỉ của nhân vật. Chính điều này tạo nên một địa hạt rộng lớn để các đạo
diễn thể hiện cách nhìn, cách đọc văn hóa của riêng mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong phần lịch sử nghiên cứu, chúng tôi xin trình bày một số luận điểm để
thấy rõ được vị trí của công trình trong bối cảnh chung của nghiên cứu, cụ thể hơn
là văn hóa Hà Nội cùng hai tác phẩm điện ảnh cụ thể là Mùa ổi và Mùa hè chiều
chúng hữu ích và đẹp hơn. Chính nhu cầu về cái đẹp đầy tính sơ khai ấy đã ươm
mầm cho các loại hình nghệ thuật được phát triển. Không ai có thể khẳng định
chắc chắn rằng nghệ thuật tạo hình được bắt đầu từ bao giờ, họ chỉ có thể lần theo
những dấu khắc trên những hang đá, những bức tượng nhỏ bằng các chất liệu ngà,
xương hay cách ăn mặc mà cho rằng nghệ thuật ra đời như thế - sự ra đời gắn liền
với con người từ thuở sơ khai.
Nảy sinh từ và gắn liền với quá trình phát triển lao động của con người, các
loại hình nghệ thuật có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới hiện thực hiện hữu xung
quanh mình. Mỗi thời đại lịch sử lại có một nền nghệ thuật tương ứng: “Xã hội thế
8
nào, văn nghệ thế ấy” – Quan niệm chung của Hồ Chí Minh về văn hóa. Những
biến động trong đời sống kinh tế, chính trị thường dẫn đến những biến đổi trong
lĩnh vực văn nghệ. Hay nói theo cách khác, mỗi sự kiện lịch sử đều có ý nghĩa kết
thúc hay mở đầu cho một giai đoạn phát triển nghệ thuật. Có thể nói, hiện thực là
một trong những chất liệu của nghệ thuật.
Hiện thực là tất cả những gì đang hiện diện trong thế giới xung quanh được
tác động tới các giác quan của con người. Bởi vậy mỗi cá nhân lại có cách tiếp nhận
hiện thực khác nhau. Điều này chịu ảnh hưởng từ vốn sống, kinh nghiệm, kiến thức
hoặc phụ thuộc vào nhận thức của từng người.
Điều đặc biệt của nghệ thuật chính là: nó không chụp ảnh lại hiện thực, tái
hiện trần trụi nó mà được phản ánh qua lăng kính của văn hóa, thông qua bộ lọc của
các giá trị văn hóa. Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho nghệ thuật một lối phản ánh
đặc trưng. Điều chúng ta đặt ra ở đây chính là, việc phản ánh qua lăng kính văn hóa
của mỗi cá nhân liệu có tạo ra những khúc xạ đặc biệt nào không? Bởi lẽ, mỗi nghệ
sĩ đều sinh ra từ cộng đồng, vậy nên dù muốn hay không, cá nhân đó vẫn luôn chịu
ảnh hưởng từ các thành tố văn hóa của cộng đồng mình, lối tư duy và mô thức ứng
xử với môi trường tự nhiên – môi trường xã hội. Hay nói theo cách khác, những chủ
thể sáng tạo nghệ thuật luôn chịu ảnh hưởng trong khuôn khổ văn hóa và sáng tạo ra
phối mang tính hệ thống, nhưng ở mặt khác, nó luôn có những khoảng trượt ra khỏi
hệ thống. Điều này có thể lý giải cho việc, văn chương không thể tùy ý phản ánh
một hiện thực “tưởng tượng”, huyễn hoặc, mà chỉ có thể phản ánh thông qua "lăng
kính" văn hóa, thông qua "bộ lọc" của các giá trị văn hóa. Tiếp đó, ở khoảng không
năng động của mình, văn chương luôn biết cách tìm đến cho mình cách tiếp cận
mới, những sáng tạo độc đáo.
Từ những bài viết của cuốn sách, cũng như những công trình được nhắc đển,
có thể thấy rất khả thi khi xây dựng một cách tiếp cận văn học mới: Phê bình văn học
từ văn hóa. Cách tiếp cận này không chỉ giải nghĩa văn chương từ lớp vỏ ngôn từ, mà
còn đặt nó vào các điều kiện văn hóa, lịch sử để khám phá hết nội hàm ý nghĩa.
Cùng với đó, trong công trình Giải mã văn học từ văn hóa, nhà nghiên cứu
Trần Lê Bảo đã chỉ ra rằng: Văn học là sự tự ý thức văn hóa. Điều này có thể hiểu
rằng, văn học không chỉ là một một phận của văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh hưởng
trực tiếp của văn hóa, mà mặt khác, nó chính là một trong những phương tiện bảo
lưu văn hóa. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, nhà văn – chủ thể sáng tác là con đẻ của
10
một cộng đồng, vì vậy dù muốn hay không, anh ta sẽ luôn bị chi phối bởi cách
thành tố văn hóa, lối tư duy, tâm lý của thời đại anh ta sinh sống. Chính điều đó
khiến nhà văn dù có sáng tạo đến đâu vẫn mang dấu ấn bản sắc của một dân tộc
trong bản sắc cá nhân.
Điều này đã được tác giả chứng minh qua quá trình tìm hiểu một tác phẩm
văn học nước ngoài. Trần Lê Bảo đã nhấn mạnh rằng, sự cản trở trong tìm hiểu một
nền văn học khác không chỉ nằm trong sự cản trở về mặt một ngữ, mà quan trọng
chính là sự khác biệt trong văn hóa. Bởi lẽ, khi xuyên qua được lớp vỏ ngôn ngữ,
người nghiên cứu mới chỉ nắm được nội dung tác phẩm anh ta tiếp cận, nhưng phải
xuyên qua cả các địa tầng văn hóa, người nghiên cứu mới chạm đến được ý nghĩa
của tác phẩm đó.
Nghiên cứu văn học từ văn hóa đã giúp đặt đối tượng vào một bối cảnh rộng
chúng tôi không nghiên cứu đối tượng văn học, song nhận thấy, giữa điện ảnh và
văn học có một số điểm tương đồng vì chúng đều thuộc nhóm thành tố nghệ thuật
và chịu tác động từ văn hóa. Vì vậy, dù không có bất cứ bài viết nào đề cập đến
điện ảnh, song những lý thuyết được đưa ra hoàn toàn giúp người viết xây dựng một
cách tiếp cận điện ảnh mới trong bối cảnh hệ thống lý thuyết chưa được tạo dựng
một cách chặt chẽ.
Về việc nghiên cứu điện ảnh có thể điểm đến một số bài viết có tính chuyên
môn trên Tạp chí văn hóa nghệ thuật như: Một vài ý kiến về tính dân tộc trong
phim truyện Việt Nam (Trần Ngọc Thanh, số 6/1992); Vấn đề bản sắc dân tộc
trong điện ảnh (Lê Châu, số 1/1995); Bản sắc văn hóa từ góc nhìn của người làm
phim (Lê Ngọc Minh, số 3/2010)… Trong só nhiều công trình nghiên cứu về tác
động giữa văn hóa và điện ảnh, có thể kể đến Tính dân tộc và tính hiện đại trong
điện ảnh Việt Nam (Nxb Văn hóa thông tin 2005) của Ngô Phương Lan. Công
trình đã khảo sát tính hiện đại và tính dân tộc của điện ảnh Việt Nam qua một số
bộ phim tiêu biểu cho các thế hệ đạo diễn, cho từng thời kì của lịch sử điện ảnh để
đi đến khái quát thành quy luật phát triển chung và gợi mở những định hướng cho
những chặng đường kế tiếp của điện ảnh dân tộc. Ở đề tài của chúng tôi, có sự
tham khảo và rút kinh nghiệm trực tiếp từ chính công trình nghiên cứu này với
mong muốn bổ sung, đóng góp thêm một cách nhìn khác, một góc độ tiếp cận
12
khác đối với mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa từ việc giải mã hiện thực Hà
Nội được phản chiếu trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng. Chúng tôi hy
vọng có thể đóng góp cho điện ảnh trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực như
Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đang ồ ạt xuất khẩu văn hóa thông
qua điện ảnh. Vậy nên, việc Việt Nam làm thinh trước làn sóng đó không hề là
một lợi thế. Thiếu các công trình nghiên cứu về văn hóa đồng nghĩa với việc thiếu
quan tâm đến tính chất phản ánh văn hóa trong nghệ thuật nói chung và điện ảnh
trở về Việt Nam, đem hết những kí ức và ấn tượng của ông về Hà Nội và gửi gắm
vào Mùa hè chiều thẳng đứng. Có thể nói, bộ phim là một hiện tượng được các nhà
nghiên cứu và các nhà phê bình quan tâm. Được chọn tham dự Liên hoan phim
quốc tế Cannes cùng với những ấn tượng trong khuôn hình, màu sắc, góc quay, lời
thoại, sản phẩm về Hà Nội của Trần Anh Hùng đã tạo cho người xem nhiều cảm xúc
và thu hút quan tâm của báo giới, nghiên cứu. Trong Xem Mùa hè chiều thẳng
đứng: Bản giao hưởng sắc màu, tác giả Nguyễn Hải đã nhận xét “Có thể nói đây là
một bữa tiệc ngon về hình ảnh và màu sắc”. Hình ảnh phố phường bình dị, những
con người nhẹ nhàng và tinh tế quả thực đã tạo nên một hình ảnh đẹp về Việt Nam
và văn hóa Hà Nội. Ngoài ra còn nhiều bài báo khác đánh giá về anh như: Trần Anh
Hùng: Tôi rất tin vào linh cảm và bản năng của mình (trên trang vietbao.vn), Đạo
diễn Trần Anh Hùng: Khán giả không phải là số đông (trên trang giaoduc.edu.vn),
Trần Anh Hùng: Điện ảnh phải chạm đến da thịt người xem (trên trang tuoitre.vn)
… Những bài viết đã phác họa được ở một vài phương diện phong cách nghệ thuật
đặc trưng của Trần Anh Hùng, tuy nhiên, các tìm hiểu về bộ phim này dừng lại chủ
yếu ở các bài phê bình và đánh giá. Các bài viết này cũng chỉ tập trung chủ yếu ở
nghệ thuật quay phim và tạo hình của đạo diễn Trần Anh Hùng. Vấn đề về văn hóa
chưa được nhắc tới trong công trình nào.
Như đã trình bày trong phần Điểm qua những nghiên cứu về văn hóa và
nghệ thuật, nghiên cứu nghệ thuật dưới lăng kính văn hóa không phải là một
phương pháp mới. Tuy nhiên phương pháp này chỉ mới được sử dụng nhiều trong
nghiên cứu văn học. Xuất phát điểm này có thể là nền tảng để nghiên cứu các loại
hình nghệ thuật khác. Việc nghiên cứu điện ảnh dưới góc nhìn văn hóa có thể “mở
ra” một hướng đề tài mới cho điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng về ý
tưởng. Không chỉ vậy, nghiên cứu về văn hóa có thể chỉ ra những biến đổi về mặt
14
kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, cuộc sống của con người Việt Nam –
Hà Nội trong giai đoạn cuối thế kỷ XX đầu thế kỉ XXI. Lựa chọn hai bộ phim làm
15
gồm đời sống con người như ăn, ở, mặc, đi lại, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa...
Từ các hình ảnh mang tính chất thẩm mĩ, chúng tôi đưa ra các biểu tượng văn hóa
dược đạo diễn lựa chọn. Trong đó, chúng tôi xem xét văn hóa Hà Nội trong mối
quan hệ với thời gian, đời sống sinh hoạt, tập quán của nhân vật. Ngoài ra, chúng tôi
sẽ phân tích văn hóa Hà Nội trong sự tương tác với các hệ thống giá trị văn hóa
truyền thống của Việt Nam, để thấy được nét riêng trong văn hóa Hà Nội và bản sắc
chung của dân tộc. Đồng thời chỉ ra sự thay đổi của căn tính con người Việt Nam
trong thời đại mới.
Trong công trình này, chúng tôi kết hợp sử dụng thao tác phân tích – tổng
hợp, so sánh, đối chiếu để phân tích, tổng hợp, so sánh các tác phẩm điện ảnh có
cùng đề tài và các tác phẩm khác của đạo diễn.
Ngoài ra, trong công trình, chúng tôi kết hợp sử dụng thêm phương pháp thi
pháp học giúp phân tích những phương tiện hình thức đặc thù của điện ảnh trong
việc thể hiện nội dung của tác phẩm.
5. Cấu trúc luận văn
Với đề tài Hà Nội trong hai phim “Mùa ổi” và “Mùa hè chiều thẳng đứng”
dưới góc nhìn văn hóa ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung
của Luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1. Mối quan hệ giữa văn hóa – điện ảnh nhìn từ hai hiện tượng tiếp cận
Chương 2: Không gian văn hóa Hà Nội qua Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng
Chương 3: Chủ thể văn hóa trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng
16
Chương 1
Mối quan hệ giữa văn hóa – điện ảnh nhìn từ hai hiện tượng tiếp cận
Theo Trần Quốc Vượng trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2013,
thì “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã
hội loài người”. [38; tr.16] Bởi vậy mà từ văn hóa đã sớm xuất hiện trong đời sống
ngôn ngữ của con người, đặc biệt là người Phương Đông.
Theo Đỗ Lai Thúy trong Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa thì:
“Văn hóa là tất cả những gì phi tự nhiên”. [43; tr. 16] Tác giả cũng cho rằng, đây
là định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất.
Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc cho
rằng: "Văn hóa là quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế
giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc
người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt
giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa
khác nhau là độ khúc xạ". [ 31, tr.17]
UNESCO - Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra định
nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi
là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết
định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.”. [38; tr23]
Với giới hạn của công trình, chúng tôi đã đưa ra một số định nghĩa về văn
hóa trong rất nhiều các định nghĩa được đưa ra trong các công trình để thấy được sự
phong phú và nội hàm của khái niệm. Tựu chung lại có thể hiểu rằng: Văn hóa là
sản phẩm sáng tạo của con người, nó song hành cùng sự phát triển của các cộng
đồng người và chỉ con người mới có. Văn hóa được tạo thành trong quá trình con
người ứng xử với tự nhiên – xã hội và con người – con người. Có thể thấy rằng,
trong dòng chảy của thời gian, văn hóa như một sự nối tiếp liền mạch giữa quá khứ
và hiện tại, giữa biểu tượng và thực tế tạo ra sự khác biệt mang ý nghĩa đặc trưng
cho mỗi cộng đồng người. Văn hóa từ chung nhất đến rẽ nhánh nhỏ dần tương ứng
với những cộng đồng lớn đến các nhóm nhỏ nhất. Văn hóa chính là sự phân biệt từ
quốc gia, đến vùng và đến cá nhân. Như vậy có thể thấy văn hóa như một “mã gen”
phân biệt do chính con người tạo ra với sự lưu truyền cùng thời gian.
được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự
đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại do đó, nó đại diện cho một nhóm
người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là
19
một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính
dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái
riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy.
Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân
tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là
những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống
với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang
những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên một mặt khác nó tiếp tục hình
thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh
hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc.
Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người,
phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và
quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên
cứu Trần Đình Hượu trong bài viết Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên,
tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết
luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc
tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần
cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên
hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội
họa, âm nhạc, kiến trúc, … mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”.
Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác
lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến
trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang
nghệ thuật tổng hợp không có nghĩa là nó vay mượn đặc điểm của các loại hình
khác để tồn tại. Mỗi sự vật trong thế giới đều có lý do tồn tại của nó và ra đời từ
chính mục đích sử dụng của con người.
ElieEaure, nhà phê bình điện ảnh người Pháp đã nhận xét: “Điện ảnh là thứ
âm nhạc mà chúng ta cảm nhận thông qua mắt”. Một tác phẩm điện ảnh là sản phẩm
không thể của một cá nhân, bởi vậy cái tính chất tổng hợp ta nói, không đơn giản
chỉ là sự tổng hợp về mặt chất liệu, mà nó còn là sự tổng hợp về mặt nhân lực trong
quá trình tạo nên một bộ phim. Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác, song
21
hành với nhu cầu giải trí, một tác phẩm điện ảnh luôn hướng đến cái chân – thiện –
mỹ, coi nó như thước đo của sự phát triển.
Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, văn hóa là một hệ thống được tạo
thành bởi nhiều thành tố khác nhau. Mỗi thành tố mang những đặc điểm chung của
văn hóa và cũng chính nó lại mang những đặc điểm riêng.
Ảnh 1: Sơ đồ các thành tố văn hóa – Theo sơ đồ của nhà nghiên cứu Trần
Quốc Vượng
Theo sơ đồ trên, có 15 thành tố tạo nên văn hóa trong đó có điện ảnh. Như
vậy có thể hiểu mối quan hệ giữa các thành tố và văn hóa là sự tác động mang tính
chất hai chiều, qua lại với nhau.
Thứ nhất, điện ảnh với tư cách là một bộ phận của văn hóa, nó sẽ mang
những màu sắc văn hóa vào từng thước phim và tái hiện lại một cách sinh động và
sắc nét. Nó được hiện lên không chỉ qua những tái hiện hiện thực cuộc sống như
phong tục, tập quán, nghi lễ, hội hè, cách sinh hoạt mà nó còn thể hiện trong tâm
thức cộng đồng, qua cách ứng xử, qua tính cách con người (mà như chúng tôi đã
trình bày ở trên, căn tính cá nhân chịu ảnh hưởng từ căn tính dân tộc),… Như vậy
có thể thấy rõ một điều rằng, điện ảnh hay các thành tố khác cấu thành nên văn hóa
dấu ấn về văn hóa dân tộc. Kịch bản làm tại Việt Nam phải mang dấu ấn khác với
Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,… Sự thất bại không nằm ở chỗ đạo diễn biến
đổi kịch bản không đủ hấp dẫn, mà một phần nó nằm ở việc, người xem thấy một sự
23
sao chép y hệt không hợp lý về mặt văn hóa trong những thước phim. Sự điều chỉnh
của văn hóa là một bộ đo giá trị với điện ảnh.
Ở chiều thứ hai, điện ảnh với đặc trưng tổng hợp đã góp phần tái hiện và
quảng bá các giá trị văn hóa. Cũng chính bởi điều này, mà những thước phim ngoài
giá trị về mặt chân – thiện – mỹ, nó còn như một “di sản văn hóa” bởi nó chứa trong
mình những giá trị bền vững cùng thời gian. Có thể nói, một thước phim có giá trị
một phần chính là nó tái hiện lại cho những người thường thức một không gian
được lưu trữ nguyên vẹn qua các thước phim mà nay đã không còn nữa. Hầu hết
trong các công trình trước đây, điện ảnh thường không chiếm vị trí quan trọng trong
các thành tố cấu thành nên văn hóa như ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, lối
sống, văn học,…; nhưng với đặc trưng tính tổng hợp của điện ảnh, trong nghiên cứu
này, chúng tôi mạnh dạn đề cao vai trò của điện ảnh trong sự cấu thành nên văn hóa.
Có thể nói điện ảnh là một bộ phận quan trọng của văn hóa, là tấm gương phản
chiếu đời sống xã hội và văn hóa dân tộc. Đồng thời, nó cũng là phương tiện lưu
giữ, bảo lưu và kiến tạo văn hóa thời đại với những nét độc đáo của văn hóa dân
tộc, văn hóa vùng miền. Điều đó được thực hiện bởi đạo diễn – người giữ vai trò
lớn nhất trong sáng tạo điện ảnh – không ai khác cũng chính là một cá nhân trong
cộng đồng – mang những căn tính cá nhân ảnh hưởng từ căn tính dân tộc. Dù muốn
hay không, mỗi đạo diễn trong quá trình sáng tạo, cũng đều tiếp nhận những thành
tố văn hóa của cộng đồng mình, những tư duy và mô thức ứng xử của cộng đồng
mình. Bằng sức mạnh của hình ảnh với tính tổng hợp, điện ảnh đã tại hiện lại những
lát cắt văn hóa.
Mỗi tác phẩm điện ảnh bên cạnh là một “di sản văn hóa”, nó còn là dấu ấn cá