PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
- Đổi mới phương pháp dạy học văn trong trường THPT là vấn đề cấp
thiết, bắt buộc, bởi phương pháp dạy học cũ không còn phù hợp với tư duy và
nhu cầu cuộc sống con người trong thời kỳ CNH-HĐH hiện nay.
- Trong thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy học văn đã có nhiều tiến
triển đáng kể, song so với yêu cầu vẫn chưa đồng đều ở các giáo viên, các tiết
học. Một số tiết học còn nặng thuyết giảng, giáo viên chưa tổ chức giờ học hợp
lí để học sinh tự khám phá lĩnh hội cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương.
- Đặc biệt ở một số tiết học của bài đọc thêm nhưng giáo viên còn quan
niệm đó chỉ là đọc thêm, không có trong phần thi cử nên chỉ hướng dẫn qua loa,
cũng là một tiết học trong chương trình và đó cũng là một tác phẩm văn chương
có giá trị nghệ thuật cao được chọn lọc từ nhiều tác phẩm khác.
- Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 bộ sách chương trình chuẩn của Bộ
GD và ĐT do Phan Trọng Luận làm chủ biên, có hai bài đọc thêm: “Mùa lá
rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng và “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải.
Đây là hai tác phẩm hay, có giá trị, thể hiện sự quan sát tinh tế của nhà văn về
những biến động, đổi thay trong tư tưởng và tâm lí của con người Việt Nam
trong giai đoạn xã hội chuyển mình xóa bỏ dần mô hình kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp để chấp nhận nền kinh tế thị trường với những rạn vỡ tất yếu theo
cả hai chiều tích cực và tiêu cực trong quan niệm, cách sống và lựa chọn những
giá trị.
- Thực tế qua nhiều lần lên lớp, tôi thấy dạy hai bài này thật khó, làm sao
cho học sinh thấu hiểu được hiện thực cuộc sống một thời, giá trị văn hóa của
con người Hà Nội nói riêng, con người Việt Nam nói chung để từ đó tự hào và
có trách nhiệm giữ gìn, phát huy nét văn hóa, nền tảng đạo đức dân tộc. Và đây
cũng là điều rất cần thiết cho học sinh lớp 12, chuẩn bị tự lập trong cuộc sống,
dự giờ một số bạn đồng nghiệp, tôi thất vẫn chưa thỏa mãn, các giờ dạy vẫn
chưa rõ các đơn vị kiến thức, học sinh chưa chủ động tiếp nhận, hiểu rất mơ hồ,
thụ động, cách tổ chức giờ học còn lúng túng, vì thế giờ học còn rời rạc, hiệu
quả chưa cao.
mất chất văn chương.
5. Cơ sở lí luận và thực tiến:
5.1. Cơ sở lí luận:
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn văn năm 1992 viết: “Mục đích của
dạy TV-VH hiện nay không phải chỉ nhằm truyền đạt những kiến thức đơn
thuần mà còn nhằm làm sao phát triển cho học sinh về mặt trí tuệ, năng lực nhận
thức, phương pháp nghiên cứu”.
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT năm 1995 cũng chỉ rõ
“Mục đích giờ dạy học tác phẩm văn chương theo quan điểm, phương pháp mới
không phải là giáo viên truyền thụ lời giảng của mình mục đích cao nhất là làm
sao để chủ thể học sinh đưới sự hướng dẫn của thầy tự cảm nhận, khám phá,
chiếm lĩnh tác phẩm. Do đó tạo được một sự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâm
hồn, nhân cách và năng lực”.
Tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn năm
2008 xác định: văn bản là thông điệp, là đề án nhà văn gửi tới bạn đọc. Đặc
trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mỹ. Nhà văn gửi đến cuộc
đời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về cuộc sống
và con người. Đây là điểm mấu chốt để phân biệt phương pháp tiếp cận văn học
đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường, biến tác phẩm văn chương
thành một đề cương giáo huấn, một sơ đồ xã hội học hay một hiện tượng lịch sử
cằn cỗi, một phương tiện minh họa đơn giản về bức tranh xã hội… Tuy nhiên, ở
đây cũng cần tránh khuynh hướng cực đoan chỉ nhìn nhận giá trị của văn bản
nghệ thuật ở phương diện thẩm mĩ. Tác phẩm văn chương chứa đựng trong nó
muôn màu, muôn vẻ của đời sống xã hội, con người mà bạn đọc không thể bỏ
qua, không thể không biết đến. Vả chăng, chính những yếu tố văn hóa của văn
bản lại càng làm nổi rõ hơn yếu tố thẩm mĩ của văn bản.
Cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ngoài giá trị thẩm mĩ,
ý nghĩa nhân vật còn thể hiện giá trị văn hóa truyền thống. Khao khát cái đẹp,
tôn vinh cái đẹp, trân trọng người tài, lấy cái tài mà giữ gìn thiên lương trong
2
cách thuyết giảng của giáo viên giúp học sinh tìm hiểu và rút ra nội dung, tư
tưởng của tác phẩm, đặc điểm tình hình xã hội Việt Nam ở một thời nét văn hóa
của con người Việt Nam trên nhiều phương diện từ đó rút ra những bài học văn
hóa cho bản thân.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm nghiên cứu lý thuyết: phương pháp dạy học Văn, tài liệu tham
khảo về chính trị xã hội, văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, tài liệu tham
khảo về văn hóa Hà Nội xưa và nay.
- Nhóm nghiên cứu thực thành.
+ Dự giờ đồng nghiệp.
+ Bản thân dạy nhiều tiết, nhiều đối tượng học sinh để rút ra kinh niệm.
PHẦN II: NỘI DUNG
A. Cách tiếp cận bài “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng và
“Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải dưới góc nhìn văn hóa.
3
1. Bố cục bài dạy:
Đây là những tác phẩm truyện tiêu biểu cho văn hóa Việt Nam ở những
năm đầu của thế kỷ XX, thể hiện sự quan sát và cảm nhận nhạy bén của tác giả
về những biến động, đổi thay trong tư tưởng và tâm lí của con người Việt Nam
trong giai đoạn xã hội chuyển mình xóa bỏ dần mô hình kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp để chấp nhận nền kinh tế thị trường với những rạn vỡ tất yếu theo
cả hai chiều.
Vì thế khi tiếp cận hai tác phẩm, ngoài phần giới thiệu về tác giả, hoàn
cảnh ra đời tác phẩm, giáo viên nên giới thiệu đời sống kinh tế - xã hội của con
người Việt Nam ở những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn có tính
chất bước ngoặt, khác với đặc điểm xã hội giai đoạn sau này, để học sinh hình
dung, hòa mình vào không khí ấy mà hiểu và cảm tác phẩm một cách thấu đáo.
Nếu không học sinh sẽ không bao giờ hiểu được tại sao trong buổi lễ cúng gia
tiên cuối năm, ông Bằng lại không tấu với gia tiên về anh con trai tên là Cừ (Cừ,
em Luận, bỏ nghề, bỏ vợ cơn, trốn đi nước ngoài, đang bị truy nã,)… trong tác
Nhân dân ta được sự chỉ đạo sát sao của Đảng Cộng sản linh hoạt trong công tác
đối nội, đối ngoại đã anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại
đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là
4,9% so với 1% bình quân hàng năm thời kỳ 1976-1980. Thu nhập quốc dân
tăng bình quân hàng năm là 6,4% so với 0,4% trong 5 năm trước, xây dựng cơ
sở vật chất, kỹ thuật. Đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối lớn và hàng
nghìn công trình vừa và nhỏ trong đó có một số công trình quan trọng về điện,
dầu khí, xi măng, dệt, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tiến thêm một bước.
Đại bộ phận nhân dân Nam bộ đi vào con đường sản xuất tập thể, đồng bào các
dân tộc ở Tây Nguyên có tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Nhà
nước và nhân dân cố gắng chăm lo đảm bảo các nhu cầu của quốc phòng - an
ninh, thi hành chính sách hậu phương quân đội; chăm lo đời sống nhân dân là
nhiệm vụ thường xuyên và hết sức khó khăn của Đảng và Nhà nước ta trong nền
kinh tế còn yếu kém, thiên tai dồn dập, dân số tăng nhanh, các ngành kinh tế
quốc dân đã thu hút thêm 4 triệu lao động, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế,
TDTT, văn hoá nghệ thuật phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc
xây dựng nền văn hoá mới, con người mới.
Song bên cạnh đó, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đang có nhiều khó
khăn, sản xuất tuy có tăng nhưng chậm so với khả năng sẵn có và công sức bỏ
ra, so với yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân; kế hoạch sản
xuất lương thực, than, xi măng không đạt đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và
đời sống của nhân dân lao động, hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp. Các xí nghiệp
nói chung chỉ sử dụng được khoảng một nửa công xuất thiết kế, năng xuất lao
động giảm, chất lượng sản phẩm giảm sút. Tài nguyên chưa được khai thác tốt
lại bị sử dụng lãng phí nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng, môi trường
sinh thái bị phá hoại, mất cân đối lớn trong nền kinh tế giữa cung và cầu về
lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, năng lượng; quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa chậm được củng cố. Vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh suy yếu,
các thành phần kinh tế phi XHCN được sử dụng và cải tạo tốt. Đời sống của
nhân dân nhất là công nhân viên chức còn có nhiều khó khăn, nhiều người lao
bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, sắp xếp lại nền kinh tế
quốc dân theo cơ cấu hợp lý trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh
tế, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố
trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền
kinh tế phát triển ổn định. Đưa nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, mở rộng và hoàn
chỉnh các hệ thống thuỷ lợi ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và tiến
bộ kỹ thuật đặc biệt là công nghệ sinh học, đưa vào sử dụng phổ biến và ổn định
các loại giống mới, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu về phân bón, thuốc trừ
sâu, thuốc thú y, tăng thêm sức kéo đảm bảo công cụ thường và công cụ cải tiến.
Thực hiện từng bước và có trọng điểm việc cơ giới hoá, hạ thấp mức hư hao
nông sản trong các khâu thu hoạch, bảo quản, vận chuyển, chế biến. Chủ động
phòng chống lụt bão, phương châm phát triển nông nghiệp là kết hợp chuyên
môn hoá với phát triển toàn diện, cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, lúa và
màu, cây lương thực và cây công nghiệp, phát triển mạnh cây công nghiệp ngắn
ngày, phát triển lâm nghiệp theo hướng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên rừng, tăng thêm vốn rừng, phát triển có trọng điểm việc trồng rừng, tập
trung chuyên canh, đẩy nhanh nhịp độ phủ xanh đất trống. phát triển công
nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng, phát huy mạnh mẽ động lực
KHKT.Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoạiThực hiện công bằng xã
hội, lối sống có văn hoá, đảm bảo an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương
trong lĩnh vực của đời sống xã hội.
Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo
đúng đắn các thành phần kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là
một đặc trưng của thời kỳ quá độ ở nước ta.
Đối với tiểu thương, thông qua nhiều hình thức tuỳ theo ngành hàng để sắp
xếp cải tạo và sử dụng họ thành lực lượng bổ sung cho thương nghiệp XHCN,
6
giúp đỡ số người không cần thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất
và dịch vụ, xoá bỏ thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người
lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Nhà nước có chính sách ưu
kinh tế mới hoặc đảm nhiệm các công trình xây dựng tiếp tục phát triển.
V ề lĩnh vực giáo dục và đào tạo có một số tiến bộ trong việc xác định mục
tiêu, nội dung và phương pháp cũng như cơ cấu hệ thống giáo dục.
Công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao thể lực của nhân dân vẫn được duy trì,
hoạt động văn hoá, văn nghệ phong phú hơn về nội dung, đa dạng hơn về hình
thức và thể loại.
Về Quốc phòng - an ninh:: Đã chú trọng nâng cao chất lượng tổng hợp cu8ả
quân đội trước hết là về mặt chính trị, bảo đảm quân đội vững mạnh trước tình
hình phức tạp ở trong nước và trên thế giới; kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, chấp hành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phong trào bảo vệ an ninh Tổ
7
quốc được khôi phục và phát triển ở nhiều địa bàn, từng bước hình thành một số
tuyến khu vực có phong trào liên hoàn, với nội dung, hình thức phong phú
phòng ngừa và tấn công tội phạm.
Về công tác đối ngoại: Giữ vững được hoà bình, tranh thủ được nhiều điều
kiện Quốc tế thuận lợi, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ Quốc.
Với những thành tựu trên tạo nền tảng vững chắc, làm tiền đề cho sự phát
triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Bên cạnh những mặt đạt được đã kéo theo những tiêu cực: đó là lối làm ăn
chạy theo lợi nhuận bất kể giá nào, dẫn đến vi phạm pháp luật, lừa đảo, hối lộ,
làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, của công
dân, nợ nần dây dưa, chiếm dụng vốn của nhau, nhiều trường hợp không có khả
năng thanh toán, xu hướng thương mại hoá tràn lan vào cả các cơ quan văn hoá,
y tế, giáo dục, nội chính, bất công bằng xã hội tăng lên.
Một bộ phận lớn hợp tác xã gặp khó khăn trong kinh doanh, 20% các HTX
đã giải thể hoặc chuyển sang hoạt động dưới dạng tự nhân.
Một bộ phận không nhỏ nhân dân còn sống dưới nhu cầu tối thiểu. Tuy
mức sống còn thấp nhưng trong tiêu dùng của một bộ phận nhân dân và cán bộ
còn nhiều xa hoa, lãng phí, có một số mặt vượt quá trình độ và khả năng của nền
a. Nhân vật chị Hoài.
- Chị Hoài mang vẻ đẹp đằm thắm của người phụ nữ nông thôn: “người
thon gọn trong cái bông chần hạt lựu. Chiếc khăn len nâu thắt ôm một khuôn
mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi”.
- Nét đằm thắm, mặn mà của chị toát ra từ tâm hồn, từ tình cảm đôn hậu,
từ cách ứng xử, quan hệ với mọi người. Từng là dâu trưởng trong gia đình ông
Bằng, bây giờ chị đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toan
riêng nhưng mọi người vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị. Bởi vì “người phụ nữ
tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ
buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này” (Mặc dù ở xã, chị vẫn
biết chuyện cô Phượng đã chuyển công tác; nhận được thư bố chồng cũ, sợ ông
buồn nên phải lên ngay; chu đáo, xởi lởi chuẩn bị quà, hỏi thăm tất cả mọi người
lớn bé; chị thành tâm trước bàn thờ gia tiên chiều 30 tết,…) Trong tiềm thức mỗi
người “Vẫn sống động một chị Hoài đẹp người, đẹp nết”.
- Nhân vật chị Hoài là mẫu người phụ nữ vẫn giữ được nét đẹp truyền
thống trước những “cơn chấn địa” của xã hội.
b. Cảnh xum họp trước giờ cúng tất niên:
- Diễn biến tâm lí của ông Bằng và chị Hoài trong cảnh gặp lại:
+ Ông Bằng “sững lại khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn.
Rồi mắt ông chớp liên hồi, môi ông lật bật không thành tiếng, có cảm giác ông
sắp khóc òa”, “Giọng ông bỗng khê đặc, khàn rè: Hoài đấy ư, con?”. Nỗi vui
mừng xúc động khi gặp lại người đã từng là con dâu trưởng mà ông rất mực quý
mến thể hiện không chút giấu giếm.
+ Chị Hoài “gần như không chủ động được mình”, “lao về phía ông Bằng,
quên cả đôi dép, đôi chân to bản […] kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng
gạch hoa” Tiếng gọi của chị nghẹn ngào trong tiếng nấc: “Ông!”.
+ “Cảnh gặp gỡ vui mừng kèm thêm một nỗi tiếc thương, đau buồn, ê
nhức cả tim gan”.
- Khung cảnh sum họp ngày Tết trong gia đình ông Bằng được miêu tả rất
cụ thể: khói hương, mâm cỗ thịnh soạn “vào cái thời buổi đất nước còn nhiều
Giáo viên bổ sung thêm tâm sự của Nguyễn Khải về Hà Nội: “Bây giờ Hà
Nội lại đang đẹp. Mỗi ngày một đẹp ra. Lắm lúc nghĩ cũng tiếc đã trót đưa vợ
con vào sống trong Sài Gòn, tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được. Một chân
đã vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa. Không còn thì giờ
để ganh ghét, để hờn giận. Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứ
nên làm lành. Văn chương làm lành cố nhiên là không hay rỗi. Thôi kệ! Vì cũng
chẳng còn hơi sức đâu mà gây sự, dẫu chỉ là gây sự vặt. (Theo bìa 4, truyện
ngắn “Hà Nội trong mắt tôi” nhà xuất bản trẻ - TP Hồ Chí Minh năm 2005).
c. Nét văn hóa kinh kì của người Hà Nội xưa.
Văn hoá người Tràng An - Thăng Long - Hà Nội.
Người Tràng An tức là người Thăng Long.
Tràng An nguyên là một địa danh thuộc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây,
Trung Quốc. Nơi mà 12 vương triều Trung Quốc đã đóng là kinh đô. Do vậy
Tràng An là một danh từ riêng trở thành danh từ chung đồng nghĩa với danh từ
kinh đô. Là kinh đô từ thế kỷ XI nên Thăng Long cũng được coi là đất Tràng
An. Và do vậy có câu ca dao:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Thăng Long (rồi Hà Nội) vốn là nơi tứ chiếng quần cư, thu hút người ở
khắp nước về sinh cơ lập nghiệp và lại cũng từ nơi đây người ta loại toả đi sinh
sống ở nhiều miền khác nhau như máu từ tram dòng mạch lọc qua trái tim rồi lại
từ trái tim mà về trăm dòng mạch. Suốt ngàn năm, Thăng Long - Hà Nội tiếp thu
10
mọi tài hoa của khắp các địa phương, nhào nặn lại, nâng cao lên theo yêu cầu
của đời sống toàn dân tộc. Chính do vậy, do thu hút tinh hoa khắp miền đất
nước, người Thăng Long - Hà Nội trở thành nơi tập trung nhiều đức tính tốt đẹp
của dân tộc mà đặc biệt là tính thanh lịch.
Thanh có thể là thanh tú, thanh nhã, thanh cảnh, thanh cao lịch là lịch
thiệp, lịch duyệt, lịch lãm, lịch sự Dù thế nào, thanh lịch chính là chỉ tính cách
của một nếp sống, một lối sống có văn hoá. Người thanh lịch là người mà từ
Không chỉ trong nói năng, giao tiếp, ăn mặc mà tính thanh lịch còn thể hiện
trong cách làm ăn, sản xuất. Nghề ở đây có nét đẹp riêng, tài hoa, tinh xảo, điêu
luyện trong tay nghề, gìn giữ chữ tín về chất lượng hàng hoá. Đó là vì Hà Nội
trải nghìn năm, đã là nơi hội tụ bao nhân tài, vật lực của khắp bốn phương đất
nước. Hà Nội tiếp thu nọi tài hoa và chắt lọc, phát triển thành lề thói Hà Nội.
11
Ngạn ngữ có câu : khéo tay hay nghề, đất lề kẻ Chợ là để ca ngợi cung cách làm
ăn của Hà Nội.
Trong lịch sử, cũng từ khi thành kinh đô, những tài khéo khắp nơi tập hợp
về đây lập ra phố ra phường tạo nên những kỳ tích văn hoá. Nghề đúc đồng đã
làm ra trong số “Tứ đại khí”- Bốn báu vật của nước Nam là chuông Quy Điền,
tháp Báo Thiên. Nghề gốm sứ đã tạo ra những ngói vàng, ngói bạc điểm tô cho
các lớp mái cong của các cung điện, chùa chiền. Trong hội đua thuyền trên sông
Hồng có máy Kim Ngao hình con rùa lớn bơi được trên mặt nước. Mắt rùa lúng
liếng, miệng rùa phun nước, đầu rùa cử động biết cả cúi chào. Quy hoạch Thăng
Long thời Lê gồm 36 phường, phường trồng hoa, phường trồng dâu nuôi tằm dệt
lụa, phường nhuộm điều, phường làm quạt, phường là bến cảng thuyền mạn
ngược, mạn xuôi, thuyền Trung Hoa, Nhật Bản, Hà Lan… tới lui nhộn nhịp tạo
ra cảnh “Phồn hoa thứ nhất Long Thành”. Tranh dân gian Hàng Trống, Hàng
Nón in đậm nét tươi vào thời gian. Nhạc và hát múa dân gian còn rung vang âm
hưởng trong không gian qua các làn điệu chèo tuồng, trống quân, ca trù ở Thuỵ
Lâm, Kim Nỗ, Lỗ Khê và các hội lễ nổi tiếng khắp đồng bằng sông Hồng: Hội
Dóng, hội Láng, hội Đăm…
Văn hoá dân gian ở Thăng Long ngày một phát triển kéo theo văn hoá bác
học ở Thăng Long đi lên. Thời Lý, trường đại học đầu tiên của đất nước- Quốc
Tử Giám- được thành lập chỉ sau 5 năm thành lập Văn Miếu. Ở Khâm Thiên
giám đời Trần, Đặng Lộ tự làm ra máy “lung linh nghi” quan sát bầu trời, vạch
ra đường đi của các vì sao rồi soạn ra lịch riêng cho nước Việt. Đời Lê, Lương
Thế Vinh và Vũ Hữu soạn ra sách toán học, so với nay là sơ học nhưng ở thế kỷ
XV thì không phải là ai cũng soạn được. Vũ Như Tô ở thế kỷ XVI xây dựng bên
thách của thời gian, tạo nên nền văn hoá mới có giao lưu, có tiếp biến, có sự cấu
trúc lại để phát huy truyền thống kết hợp hiện đại, cách tân nhưng không xa rời
bản sắc dân tộc và xứng đáng là văn hoá của một vùng kinh kỳ nghìn năm văn
hiến.
- Quá trình tiếp biến văn hoá Tràng An- Thăng Long- Hà Nội.
Tuy nhiên, nhìn ở góc độ tiếp biến văn hóa thì tiến trình văn hóa Hà Nội
chịu tác động của những điều kiện lịch sử, xã hội mấy ngàn năm qua. Những
điều kiện ấy khiến cho Hà Nội so với các địa phương khác trong cả nước vừa có
nét chung, lại có những nét riêng. Cần nhìn nhận rằng giữa bạt ngàn những làng
quê sống bằng nghề trồng lúa nước, Hà Nội trong nhiều thế kỉ là một đô thị duy
nhất ở đồng bằng Bắc Bộ này. Mặt khác, ngay từ tâm thức, dân gian đã coi
Thăng Long là Kẻ Chợ, nghĩa là có sự phân biệt với “kẻ quê”. Cũng chính từ
đặc điểm này mà Thăng Long đã thu hút tài hoa của cư dân các vùng về với
mình, nâng chất những tài hoa đó lên một tầm cao hơn và từ đó trở thành nét văn
hóa “bản địa” của riêng đất Thăng long. Nhìn vào xuất xứ một nghề thủ công ở
Hà Nội hiện tại, chúng ta có thấy rõ đặc điểm trên. Chẳng hạn nghề đúc bạc thì
có gốc gác ở Châu Khê nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nghề kim
hoàn thuộc gốc Đồng Sâm (Đông Quan, Thái Bình) và Định Công (Thanh Trì),
nghề nhuộm điều gốc ở Quất Động (Thường Tín, Hà Tây), nghề quạt ở Đào Xá
(Kim Động, Hưng Yên). Tầng lớp dân cư Kẻ Chợ có gốc là dân các làng quê,
khi đến cư trú ở Thăng Long, họ đem theo tập quán văn hóa nông nghiệp của
làng quê mình. Nhưng trải qua sự sàng lọc của thời gian, họ trở thành những thị
dân. Tầng lớp thị dân này, ngay cả khi căn cốt nông dân của họ chưa phai nhạt
hết thì họ đã có một thị hiếu khác với nông dân ở các làng quê. Bởi lẽ, họ vừa là
chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng tiếp nhận và lưu giữ rồi lưu truyền vốn văn
hóa kinh kỳ trau chuốt hơn, thanh lịch hơn. Ví như nghệ thuật chèo chỉ tồn tại ở
thôn quê như một hình thức sân khấu dân dã nhưng đến thế kỷ XX, chèo vào
diễn ở một số rạp ở Hà Nội, từ đó mang tính chất chuyên nghiệp và được nâng
cao cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Hà Nội còn là nơi hội tụ, thăng hoa của nhiều
trí thức, quan lại, nhà Nho… Trải hàng ngàn năm lịch sử, những Tô Hiến Thành,
vị thế quan trọng nhất thuộc về Nho giáo làm nền tảng tổ chức xã hội của các
vương triều, một hệ Nho sĩ ra đời, lấy của Khổng sân Trình làm nơi rèn luyện và
tiến thân. Nhưng họ đã Việt Nam hóa Nho giáo (tùy thời điểm, tùy cá nhân) cho
thích hợp với truyền thống văn hóa bản địa. Thăng Long đã chứng kiến sự ra đời
bao nhiêu thế hệ Nho sĩ vì đã lấy những giá trị Nho giáo làm nền tảng tổ chức xã
hội của các vương triều, một hệ Nho sĩ ra đời, lấy cửa Khổng sân Trình làm nơi
rèn luyện và tiến thân. Nhưng họ đã Việt Nam hóa Nho giáo (tùy thời điểm, tùy
cá nhân) cho thích hợp với truyền thống văn hóa bản địa. Thăng Long đã chứng
kiến sự ra đời bao nhiêu thế hệ Nho sĩ vì đã lấy những giá trị Nho giáo kết hợp
với truyền thống bản địa đó làm căn cốt cho mọi việc ứng xử (với quốc gia, xã
hội, làng xóm, gia đình và cá nhân) nên trở thành các danh nhân được tôn vinh.
Có thể nêu một số tên tuổi gốc người Thăng Long – Hà Nội như Chu Văn An,
Phan Phu Tiên, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Phan Kế
Bính…
Đạo giáo chỉ hợp với những thời điểm tao loạn và với tuổi già nên các trí
thức chủ yếu là hưu quan, trí sĩ đã tạo dựng các đạo quán (Trấn Vũ, Huyền
Thiên, Đồng Thiên, Đế Thích) ra đời là để đáp ứng nhu cầu đó. Việc xây đền
14
Ngọc Sơn – thờ Văn Xương là chính – cũng là như vậy. Tư tưởng Lão – Trang,
chỗ dựa của Đạo giáo cũng đi vào tác phẩm nhiều danh Nho mà tiêu biểu nhất là
Nguyễn Gia Thiều. Bên cạnh đó, cũng phải kể tới một nhánh của Đạo giáo là
đạo “phù thủy” dùng bùa phép trừ tà ma, trị bệnh khá phổ biến trong dân chúng.
Ở dạng vi mô, ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa cũng khá đặc biệt.
Trong nghệ thuật sân khấu, sử sách còn ghi chú nghệ nhân Đinh Bằng Đức –
một người Hoa di cư sang Đại Việt – đã đưa vào ta môn leo dây múa rối. Cũng
ở thời Trần, hoạt động nghệ thuật nôti bật là việc Lý Nguyên Cát – một kép hát
của quân Nguyên Mông bị bắt làm tù binh – đã truyền dạy trong cung vua Trần
vở Tây Vương Mẫu hién bàn đào gồm có những vai kép (quan nhân), đào (đào
nương)… được Lê Quý Đôn miêu tả trong Kiến văn tiểu lục như sau: “… mặc
quần áo gấm vóc, đánh trống thổi sáo, gảy đàn, vỗ tay, đàn phách rất là nhộn
nguyên lý của dòng thiền này. Thăng Long còn là quê hương của nhiều thiền sư
15
đã có nhiều tác phẩm về Phật giáo, như sư Viên Chiếu (người Thanh Trì), sư
Chân Không (người Phù Đổng, Gia Lâm), sư Khánh Hỷ (người Giao Tất, Gia
Lâm), sư Đại Xả (người phường Đông Tác may thuộc quận Đống Đa) v.v…
Luồng giao lưu, tiếp biến thứ tư diễn ra trong giai đoạn khá đặc biệt. Sự
giao lưu, tiếp biến lần này diễn ra giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa phương
Tây, trong bối cảnh nhân dân Việt Nam, một mặt phải tiến hành đấu tranh với
chủ nghĩa thực dân, giành và bảo vệ độc lập dân tộc, một mặt phải tiếp nhận nền
văn hóa phương Tây để hiện đại hóa đất nước trong đó có văn hóa nghệ thuật.
Buổi ban đầu là sự giao lưu cưỡng bức nhưng dần dà, việc giao lưu, tiếp biến đã
trở nên chủ động. Quá trình tiếp biến giao lưu giữa văn hóa Việt và văn hóa
phương Tây, chủ yếu là văn hóa Pháp, đã khiến cho diện mạo văn hóa nghệ
thuật Hà Nội cũng như cả nước thay đổi rõ nét, ít nhất ở các phương diện sau:
Thứ nhất là sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ, theo đó là báo chí, xuất bản
và nhà trường kiểu mới …Một tầng lớp trí thức mới xuất hiện, tồn tại bằng lao
động chất xám của mình, họ viết văn, vẽ tranh, chơi nhạc, biểu diễn nghệ thuật,
khác với thế hệ trước, họ là người nghệ sĩ chuyên nghiệp. Tính chất văn hóa đô
thị càng đậm đặc.
Thứ hai là sự tiếp biến diễn ra theo trình tự dập khuôn, đến mô phỏng,
đến bản địa hóa rồi biến thành sản phẩm văn hóa của Thăng Long.
Thứ ba là hướng biến đổi các giá trị văn hóa theo yêu cầu dân tộc, khoa
học, đại chúng để tạo nên diện mạo nền văn hóa Hà Nội hiện đại.
Sự thay đổi của nền văn học nghệ thuật Hà Nội trong giai đoạn này khiến
văn hóa Hà Nội có diện mạo khác với văn hóa truyền thống.
Với mỹ thuật, cuộc tiếp biến văn hóa mang tính áp đặt và đứt đoạn hơn,
nền mỹ thuật Việt Nam, khi tiếp xúc với phương Tây (qua Pháp) đã trải qua một
quá trình vật lộn bởi ở Việt Nam trước đó chưa có cơ sở xã hội cho cách nhìn
theo kiểu phương Tây. Mỹ thuật ở Hà Nội là tâm điểm của quá trình tiếp biến
này. Vì vậy, có thể nói, trong cuộc tiếp biến, giao lưu văn hóa nghệ thuật
Vì vậy, một ngàn năm kiến lập kinh đô còn là một ngàn năm xây dựng
hòa bình, bảo vệ hòa bình. Văn hóa hòa bình từng tồn tại như một lẽ sống của
dân ta, có dân tộc nào yêu quý hòa bình hơn dân tộc Việt Nam? Cho nên người
Việt Nam, người Thăng Long – Hà Nội luôn mong muốn một cảnh thanh bình
để sống yên vui, để phát huy tài năng và lao động sáng tạo, xây đắp cho quê
hương. Xin nêu một biểu thị thú vị là khi đặt tên gọi các vùng đất ở kinh đô này,
thường nhân dân ta gửi gắm vào đó mong ước thanh bình, yên ổn, yên lành. Từ
Bắc xuống Nam ta thấy có các phường xóm Yên Hoa, Yên Ninh, Yên Định, Yên
Tĩnh, Yên Thành, Yên Viên, Yên Quang, Châu Yên, Yên Thái
Không gian khu phố cổ.
Ở Việt Nam, có lẽ ngoài Hội An và Nam Định ra thì có Hà Nội là còn giữ
được một khu phố cổ. (Thực ra chữ cổ và chữ cũ là một cách gọi ước lệ). Đành
rằng do khí hậu, thời tiết, nguyên vật liệu xây dựng và do cả các cuộc chiến
tranh nên diện mạo khu vực này như hiện thấy cũng chỉ là có từ cuối thế kỷ
XIX. Nhưng theo các nguồn sử liệu khác nhau thì khu vực này đích thực là nhân
lõi của kinh đô Thăng Long từ khi mới thành lập, tức cũng đã có tới ngàn năm
tuổi.
Nói về địa giới không gian khu phố cổ thì có thể coi đó là một hình thang
cân có cạnh đỉnh là phố Hàng Đậu, cạnh phía Đông là đê sông Hồng, cạnh phía
Tây là các phố Hàng Cót, Hàng Điều, Hàng Da, còn đáy là trục Hàng Bông –
Hàng Gai – Cầu Gỗ. Tại khu phố này, cho tới trước khi người Pháp tới, tất cả
đều chung một dáng dấp: các phố chi chít dọc ngang kiểu bàn cờ, phần lớn
mang tên gọi của các mặt hàng sản xuất hay kinh doanh tại những nơi đó như
Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Bồ… Tất cả các ngôi nhà ở hai bên đường đều
theo kiểu “nhà ống”. Nhà như một cái ống, bề ngang hẹp, chiều sâu dài, có khi
thông ra một ngõ khác, phố khác. Bố cục thì cũng tương tự như sau: gian ngoài
là chỗ bán hàng hoặc làm hàng. Tiếp đó là một khoảng sân lộ thiên để lấy ánh
sáng. Trên sân có bể cạn (trong có hòn non bộ, có cá vàng…), quanh sân là các
17
cây cảnh, là giàn hoa. Gian nhà trong mới là nơi ăn ở và nối vào đó là khu phụ.
đậm đà hương vị cổ. Cho nên khu phố cổ Hà Nội với những ngôi nhà ống nhỏ
nhắn, xinh xắn, những con đường ăm ắp người đi, những đền chùa mái cong
mềm mại, những khoảng cây xanh mượt mà và ngọt ngào hương… tất cả đã làm
nên một vẻ đẹp mà chỉ thành phố Hà Nội mới có.
Miếng ngon Hà Nội.
Hà Nội ở trung tâm đồng bằng nên đã đành là có nhiều nguyên liệu từ
nông, ngư nghiệp như lợn, gà, bò, vịt, tôm, ốc, cua, cá, rau, quả… nhưng ngoài
ra, sơn hào: hươu, nai, rắn, nhím, ba ba, măng, nấm… hải vị: cua, tôm, cá, mực,
rau câu… đổ về đây cũng không ít. Đặc biệt các món ngoại quốc cũng du nhập:
lạp xường, ngẩu pín, thịt kho tàu, gà vịt tần, mì vằn thắn, sủi cảo, phở, bít tết,
xúc xích, patê, cari… và được Việt hóa. Các món này ở Hà Nội được chế biến
có hương vị riêng, khác hẳn ở quê hương chúng.
18
Nói về bữa ăn hàng ngày, trên mâm cơm thường có hai món chính; món
nấu có nước và món ăn khô như xào, rán, luộc, quay. Nếu có cỗ bàn thì tính món
đĩa và món bát: bát nấu có ninh, mọc, măng, miến, bóng. Cao cấp hơn có long
tu, bào ngư, hải sâm, vây cá. Trong số các đĩa thì có giò với nhiều chủng loại
như giò lụa, giò hoa, giò hạt lựu; có chả như chả quế, chả bò, chả lợn, chả cá
nướng, chả nem… rồi thịt gà, thịt lợn hoặc luộc hoặc rán, hoặc quay… Cỗ
thường thì một mâm gồm hai bát, bốn đĩa. Hơn nữa thì bốn bát sáu đĩa, còn
thịnh soạn hơn thì số bát đĩa thêm lên và xếp thành 2 tầng, 3 tầng.
Ngoài các bữa ăn chính, Hà Nội có các hàng quà. Chính các thứ quà này
cũng tạo ra các sắc thái riêng của Hà Nội. Cũng là quà nhưng ở Hà Nội chế biến
tinh tế hơn; các gia vị được gia giảm vừa độ, ngay nước chấm cũng pha chế
khéo léo.
Chả cá Lã Vọng.
Đây là món ăn đặc biệt của Hà Nội. Nói chính xác hơn thì là quà đặc biệt
của phố Chả Cá, thường được gọi là hàng chả cá Lã Vọng vì ở ngay cửa ra vào
có bày tượng Lã Vọng một tay cầm cần câu và một tay xách xâu cá.
Món ăn đó dần dần được người Hà Nội ưa thích, tiếng tăm nổi như cồn,
mây khỏi chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để
vào chùa. Một cửa hàng bán phở là cả một bài trí nên thơ:
Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây,
vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ gầu có, vè cũng có.
Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một
cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian
hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh như một làn sương mỏng,
mơ hồ như một bức tranh Tàu.
Trông mà thèm! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu mà thấy người
ta ăn phở như thế thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp và ngon lành.
Có ai lại đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp và ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho
được…
Ấy vậy mà người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng không thể dễ tính,
nhất tề bước vào một cửa hiệu phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh. Bởi vì
những người sành ăn đó, thường không tin gì cho lắm ở những hàng phở lạ.
Người ta thường bảo rằng phần nhiều những hàng phở nước dùng không được
ngọt, hoặc có ngọt là cái ngọt của mì chính chứ không phải là cái ngọt của
xương bò, ấy là chưa nói rằng lại còn cửa hiệu phở quá vụng về muốn có nước
dùng ngọt lại cho đường vào nữa. Ăn phải một bát phở như thế không những
tiếc tiền mà lại còn thấy phí phạm cả cái công ăn.
Vì thế người ăn phở muốn cho thật đúng cung cách, phải thăm dò, phải
điều tra, phải thí nghiệm kỹ càng rồi mới ăn, mà một khi đã chịu giọng rồi, ta có
thể tin chắc rằng người đó sẽ là một người khách trung thành. Chính vì lẽ đó
mỗi người thường có một hiệu phở “của mình”…
Cứ nhìn vào bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở; một ít
hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng
màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên; vừa đỏ
sẫm như hoa lựu. ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái camr giác được ngắm một
bức họa lập thể dùng màu sức hơi lố, hơi bạo nhưng mà đẹp mắt.
Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bò từng
bao người khác nhưng trong cô đã thấm sâu những cái tinh hoa của người Hà
Nội. Bao nhiêu hạt bụi vàng, bao nhiêu người như cô Hiền sẽ hợp lại thành
những “áng vàng” chói sáng. Áng vàng ấy là phẩm giá người Hà Nội, là nét
truyền thống trong cốt cách của người Hà Nội. Đây là một so sánh độc đáo nằm
trong mạch trữ tình ngoại đề của người kể chuyện. Bản sắc Hà Nội, văn hóa Hà
Nội là chất vàng mười, là mỏ vàng trầm tích được bồi đắp, tích tụ từ biết bao hạt
bụi vàng như cô Hiền.
b. Các nhân vật khác trong truyện:
- Nhân vật “tôi”: Thấp thoáng sau những dòng chữ là hình ảnh nhân vật
“tôi”. Đó là một người đã chứng kiến và tham gia vào nhiều chặng đường lịch
sử của dân tộc. Trên những chặng đường ấy, nhân vật “tôi” đã có những quan
sát tinh tế, cảm nhận nhạy bén, sắc sảo, đặc biệt là về nhân vật cô Hiền, về Hà
Nội và người Hà Nội. Ẩn sâu trong giọng điệu vừa vui đùa, khôi hài, vừa khôn
ngoan, trải đời là hình ảnh một con người gắn bó thiết tha với vận mệnh đất
nước, trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc. Nhân vật “tôi” mang hình
bóng Nguyễn Khải, là người kể chuyện, một sáng tạo nghệ thuật sắc nét đem
đến cho tác phẩm một điểm nhìn trần thuật chân thật khách quan và đúng đắn,
sâu sắc
- Nhân vật Dũng – con trai đầu rất mực yêu quý của cô Hiền: Anh đã sống
đúng với những lời mẹ dạy về cách sống của người Hà Nội. Anh đã cùng với
660 thanh niên ưu tú của Hà Nội lên đường hiến dâng tuổi xuân của mình cho
đất nước. Dũng, Tuất và rất nhiều những chàng trai Hà Nội khác đã góp phần tô
thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà Nội, phấm giá cao đẹp của con người
Việt Nam.
21
- Bên cạnh những người Hà Nội có phẩm cách cao đẹp, còn có những
người tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của nhân vật “tôi” về Hà Nội. Đó là
“ông bạn trẻ đạp xe như gió” đã làm xe người ta suýt đổ, lại còn phóng xe vượt
qua rồi quay mặt lại chửi: “Tiên sư cái anh già!”, là những người mà nhân vật
“tôi” quên đường phải hỏi thăm nhưng đã có những thái độ bất lịch sự. Những
- “Muốn hiểu con người thời đại với tất cả những cái hay, cái dở của họ,
cuộc sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”. Nhận xét này của nhà
nghiên cứu Vương Trí Nhàn thật xác đáng, nhất là đối với truyện ngắn “Một
người Hà Nội.
B. Một số câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề dẫn dắt học sinh tìm hiểu bài.
Khi thực hiện giờ dạy trên lớp giáo viên phải có một hệ thống câu hỏi gợi mở
nêu vấn đề giúp học sinh tiếp cận tác phẩm. Sau đây là một số câu hỏi tôi đã sử
dụng trong giờ dạy.
22
1. Bài “Mùa lá rụng trong vườn”.
1.1. Em ấn tượng gì về nhân vật chị Hoài? Vì sao mọi người trong gia đình
đều yêu quý chị.
1.2. Diễn biến tâm lí của ông Bằng và chị Hoài và chị Hoài trong cảnh gặp
lại trước giờ cúng tất niên và ý nghĩa của nó.
1.3. Khung cảnh sum họp ngày Tết trong gia đình ông Bằng và dòng tâm tư
cùng với lời khấn của ông trước bàn thờ gợi cho em những suy nghĩ gì về truyền
thống văn hóa của dân tộc ta.
1.4. Em rút ra được gì sau khi học xong bài.
2. Bài “ Một người Hà Nội ”.
2.1. Ấn tượng của em về nhân vật cô Hiền? Suy nghĩ của em trước những
suy nghĩ, ứng xử của cô trong từng thời đoạn đất nước?
2.2. Vì sao tác giả ví cô Hiền như là “một hạt bụi vàng” của Hà Nội?
2.3. Cảm nhận của em về nhân vật “tôi”. Nhận xét?
2.4. Giới thiệu về Dũng – con trai cô Hiền.
2.5. Ngoài nhân vật cô Hiền, tôi, Dũng còn có những con người nào khác?
Qua hoạt động gì? Đánh giá của em về nhân vật.
2.6. Kể lại câu chuyện “cây si cổ thụ” ở đền Ngọc Sơn, bị bão đánh bật rễ
rồi lại hồi sinh? Ý nghĩa chi tiết?
2.7. Thành công về nghệ thuật của Nguyễn Khải trong tác phẩm.
2.8. Bài học rút ra sau khi học tác phẩm.
giờ dạy giáo viên phải chủ động kiến thức, phân loại được cho học sinh, nắm
bắt tâm lí học sinh để có phương pháp tối ưu, thu hút được học sinh học bộ môn,
phát huy trí tuệ, tính chủ động của học sinh.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân đã được thể nghiệm, có
điều gì khiếm khuyết mong được sự thông cảm, góp ý của các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin cam đoan SKKN này là của tôi.
Không sao chép dưới bất cứ hình thức nào.
Hoằng Hóa, tháng 5 năm 2013
NGƯỜI VIẾT
Trịnh Thị Hoàng Mai
24