Con người buổi giao thời trong tác phẩm mùa lá rụng trong vườn của ma văn kháng - Pdf 35


Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc đến quý thầy cô giáo Trường ĐHQB đã
tận tâm dạy dỗ, truyền đạt cho tôi những kiến
thức quý báu trong suốt khóa học vừa qua.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy
cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa luận
này.
Tôi đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy
giáo Lương Hồng Văn đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận.
Xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm học liệu
Trường ĐHQB đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về
các tài liệu, cám ơn gia đình cũng như bạn bè đã
luôn động viên khích lệ tôi trong suốt khóa học
và trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện
thời gian và năng lực còn hạn chế nên chắc chắn
vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, kính mong nhận được
sự góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận
được hoàn thiện hơn.
Chân thành cảm ơn !


Quaûng Bình, thaùng 6 naêm
2015
Taùc giaû
Phan Thò Thanh Hoa

1.2. Vấn đề con người trong Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1986.........................8
1.3. Các kiểu con người giao thời trong văn học Việt Nam từ 1975 đến năm 1986...............11
1.3.1. Vấn đề con người giao thời trong văn học................................................................11
1.3.2. Các kiểu con người giao thời được đề cập trong văn học giai đoạn từ năm 1975 đến
năm 1986............................................................................................................................13


CHƯƠNG 2......................................................................................................30
CÁC KIỂU CON NGƯỜI GIAO THỜI TRONG TIỂU THUYẾT MÙA. 30
LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG..................................30
2.Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn.......................................................30
2.1.1. Bức tranh xã hội Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1986...........................................30
2.1.2. Tác giả Ma Văn Kháng ..............................................................................................31
2.1.3. Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng..........................................34
3.Các kiểu con người giao thời trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng
...............................................................................................................................................36
2.2.1. Kiểu con người truyền thống...................................................................................36
2.2.2. Kiểu con người đa diện.............................................................................................41
2.2.3. Kiểu con người nạn nhân.........................................................................................51
2.2.4. Kiểu con người tự nhận thức....................................................................................54
2.2.5. Kiểu con người tha hóa chạy trốn thực tại...............................................................58

KẾT LUẬN......................................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................63


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đi qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, cuộc sống lại dần trở lại với
những quy luật bình thường của nó, con người trở về với muôn mặt cuộc sống


luôn đặt niềm tin vào con người, muốn dùng ngòi bút trợ lực con người, thức tỉnh
con người ý thức tự vấn để hướng tới toàn diện. Như vậy, tìm hiểu về con người
trong thời điểm cái cũ đan xen cái mới, sẽ giúp chúng ta khám phá tâm hồn trong
trẻo nhưng nặng trĩu những nỗi niềm của một con người đau đáu với sự đời.
Nhìn vào giai đoạn văn học sau năm 1975 tới năm 1986 nói chung và giai
đoạn văn học năm 1980 nói riêng, văn học bắt đầu có sự đổi mới, cũng như nhà
văn Ma Văn Kháng, một số nhà văn với sự táo bạo trên con đường nghệ thuật,
họ đã nỗ lực đi tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới, những chủ đề mới về cuộc
sống, đặc biệt là vấn đề con người qua hình tượng nhân vật.
Như vậy, việc nghiên cứu con người buổi giao thời trong tác phẩm, sẽ giúp
chúng ta tìm được những nét riêng biệt, nổi bật mang phong cách mà nhà văn đã
sáng tạo trong tác phẩm của mình, mặt khác, sẽ cho chúng ta thấy được cái đa
dạng, phong phú trong tính cách của một bản thể con người, để từ đó tìm ra được
phong cách nhà văn cũng như những tư tưởng của nhà văn về nhân sinh quan, về
con người và xã hội mà tác giả đang phản ánh. Lẽ dĩ nhiên, việc nghiên cứu nhân
vật là con người luôn là đề tài nóng và quan trọng trong bất kì văn học và trường
phái văn học nào.
Mỗi thời đại, con người có những nếp sống, cách sống riêng, đặc biệt là
trong buổi giao thời, với sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, những lối sống mang
hơi thở của cuộc sống thị trường, đặt ra những vấn đề khiến chúng ta phải suy
ngẫm. Với tất cả những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Con người
buổi giao thời trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng để
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng là một nhà văn mà sự nghiệp văn chương đã một phần nào
đó phản ánh quá trình vận động, phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Theo năm tháng, cùng với sự trưởng thành trong kinh nghiệm sáng tác, sự
tinh tế của ngòi bút cũng như sự đổi mới trong sáng tác, số lượng tác phẩm của
ông không những nhiều lên, mà nội dung càng ngày càng phong phú và sâu sắc,

Báo cáo tặng thưởng văn xuôi xuất sắc năm 1985, Bùi Hiển đánh giá một
cách đầy đủ, trọn vẹn những ưu và hạn chế của tác phẩm, tác giả chỉ rõ: “Với tác
phẩm Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã nhìn thẳng thắn đề cập một số
vấn đề xã hội đang đặt ra cho gia đình, ngòi bút của tác giả phanh phui một
cách tỉnh táo, vừa da diết quá trình sa đọa, tư tưởng, lối sống của vài trường
hợp điển hình, đồng thời bày tỏ niềm tin cho những con người trung trực thẳng
thắn, giữ được lí tưởng cao đẹp xã hội, truyền thống dân tộc, trung hậu, bền
vững”.
Với bài viết Những vấn đề đời sống gia đình hôm nay, Báo người Phụ nữ Việt
Nam số 17 – 1986, Trần Bảo Anh đã nhận xét về bút pháp của Ma Văn Kháng

3


“Thông qua tác phẩm này, ông đã bộc lộ thêm một số sở trường mới, kỉ năng phân
tích một cách khúc chiết thông minh, kỉ năng biện giải, triết lí hay nghệ thuật viết
tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã có bề dày, kết quả của một quá trình phấn đấu
liên tục, bền bỉ ở tác giả đã có một định hình rõ nét trong phong cách nghệ thuật
của mình”.
Cùng với sự phát triễn của cuộc sống, văn học phải luôn theo sát với từng
nhiệm vụ của xã hội, với sự tìm tòi, sáng tạo của mình, Ma Văn Kháng đã gửi
vào đời nhiều thông điệp mới đáng trân trọng đó là sự thấu hiểu sâu sắc tinh tế
về con người và cuộc đời. Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, thực tế, dẫu tiểu
thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” được khẳng định là tác phẩm có nhiều thành
công, gây được tiếng vang trong lòng độc giả, nhưng cho đến nay vẫn chưa có
một công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về vấn đề con người buổi giao
thời trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng.
Thừa kế từ những bài nghiên cứu đi trước cùng với lòng đam mê, hâm mộ
của bản thân dành cho tác giả Ma Văn Kháng, cũng như sự hấp dẫn của tiểu
thuyết Mùa lá rụng trong vườn, như là chất men giúp chúng tôi mạnh dạn chọn

năm 1975, để thấy được cái riêng trong cách nhìn nhận con người trong từng
thời kì sáng tác của ông, cũng như phong cách nhìn nhận con người của các nhà
văn khác, để từ đó làm nổi bật tư tưởng vấn đề cần nghiên cứu.
6. Đóng góp của khóa luận
Với đề tài này, ngoài việc hiểu rõ thêm về tác giả Ma Văn Kháng và tiểu
thuyết của ông, chúng tôi còn hi vọng có thể đóng góp thêm vào việc nghiên cứu
về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên khía cạnh về nhân vật. Hi vọng khóa luận
này sẽ được dùng như một tài liệu hữu ích cho các bạn sinh viên yêu thích tác giả
Ma Văn Kháng nói riêng và văn học hiện đại của nước nhà nói chung.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận có 2
chương:
Chương 1. Vấn đề con người trong văn học và các kiểu con người giao
thời được đề cập trong văn học từ năm 1975 đến năm 1986.
Chương 2. Con người giao thời trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
của Ma Văn Kháng.

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VÀ CÁC KIỂU CON NGƯỜI
GIAO THỜI ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1986.

5


1.1.Vấn đề con người trong văn học
Từ xa xưa đến nay, văn chương đều lấy con người làm đối tượng miêu tả,
phản ánh, văn chương phục vụ con người.
N

6


được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người
trong văn học từ đó thấy được giá trị nghệ thuật và thẫm mĩ cho đối tượng nhân
vật. Văn hào Đức, W. Goetheo đã nói“Con người là điều thú vị nhất đối với con
người và con người cũng chỉ có hứng với con người”.
Qủa đúng vậy, vấn đề con người không chỉ giữ vị trí trung tâm của mọi
khoa học, mà còn là vấn đề cốt lõi của lí luận xã hội và nhân văn, trong văn học
con người là điểm xuất phát đồng thời cũng là đích cuối cùng của mọi sáng tạo,
toàn bộ thế giới nghệ thuật trong văn học bộc lộ một quan niệm thẫm mĩ về con
người. Như vậy, xét về mặt khách quan thì quan niệm là điều cốt lõi của sáng tạo
nghệ thuật, nó cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra sự lựa chọn khái quát,
nhào nặn tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí biến đổi hình dạng sự vật hoặc
miêu tả không chính xác về đời sống, rõ ràng, một nền văn học mới, bao giờ
cũng gắn liền con người mới. Quan niệm con người đã tạo nên cơ sở, thành tố,
thấy bản chất nội tại của hiện thực. Nghệ thuật là quá trình vận động của thực tế,
và làm nảy sinh con người mới.
D.X Likhachiev đã nhận định: “Quan niệm nghệ thuật gắn với miêu tả con
người, cái nhìn nghệ thuật về con người trong sự miêu tả đó. Cho nên, quan niệm
nghệ thuật về con người như là cơ sở trung tâm đưa văn học vào đúng quỹ đạo
nhân học của nó, chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con
người thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau có ý nghĩa mở rộng về
lượng trên cùng một chiều sâu, điều đó chứng tỏ sự phát triển của tư duy nghệ thuật
phải song hành cùng sự mở rộng, đào sâu các giới hạn trong quan niệm về con
người”.
Khi con người là đối tượng của văn học, thì con người phải được nhìn nhận
như một nhân cách đích thực và toàn vẹn, được soi ngắm từ nhiều mối quan hệ,
được thừa nhận ở giá trị liên quan tới nó. Vì vậy, quan niệm nghệ thuật về con
người trong văn học sẽ khác với các quan niệm của con người trong hình thái ý

văn hóa của nước Đức nhận xét: “Nghệ thuật không phải bắt đầu bằng một hình
thức mới, nền nghệ thuật mới ra đời cùng với con người mới”.
Nhìn lại văn học giai đoạn trước năm 1975, hình tượng nhân vật quần chúng
được xác định là hình ảnh công nông, binh, họ đóng vai trò là nhân vật trung tâm,
trở thành nguyên tắc xây dựng nghệ thuật và chuẩn mực đánh giá tác phẩm. Vấn
đề mà tác phẩm phải đề cập được lúc này chính là tư tưởng, tình cảm, khát vọng
của quần chúng, phải học cách nói, cách thể hiện của quần chúng. Văn chương
rưng rưng một cảm hứng trước cái cao cả, hào hùng, mỗi con người đều thể hiện
như một đại diện trọn vẹn cho sức mạnh, quyết tâm của cả dân tộc, ý chí ấy đã

8


thấm vào máu vào hành động, suy nghĩ của con người, với chị Út Tịch là câu nói:
“Còn cái lai quần cũng đánh” hay hình tượng chị Sứ, anh Trỗi (Dấu chân người
lính), dù hoàn cảnh thử thách khác nhau, nhưng trước cái chết họ đều giống nhau
trong sự dứt khoát, thanh thản, họ là kết tinh của phẩm chất cộng đồng.
Bằng con đường trưởng thành và vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật đó mà khẳng
định xu thế lạc quan của lịch sử, xung đột dân tộc, xung đột giai cấp buộc văn
học phải nhìn nhận con người trong điểm nhìn ý thức hệ.
Như Hoài Thanh đã phát biểu: “Đoàn thể tái tạo chúng tôi và trong bầu
không khí mới của giang sơn, chúng tôi - những nạn nhân cuả thời đại chữ tôi
hay muốn gọi tội nhân cũng được - chúng tôi thấy rằng đời sống của cá nhân
không có ý nghĩa gì trong đời sống bao la của tập thể” [15; 24].
Có thể nói văn học giai đoạn từ 1945 - 1975, nền văn học mới đã trải qua
một giai đoạn đầy biến động của lịch sử và con người Việt Nam, quan niệm nghệ
thuật về con người trong văn học có cơ sở từ trong đời sống xã hội - chính trị đất
nước, từ hiện thực chiến tranh và cách mạng đồng thời cũng thể hiện trình độ ý
thức, mức độ phát triển của văn học.
Nếu Nguyễn Minh Châu đã nhận định rằng, văn học trước năm 1975, con

con người dồn lại và thu hẹp vào quan hệ duy nhất: Sống - Chết, người ta phải
sống phi thường, phi thường có thể cao cả, nhưng phi thường cũng triệt tiêu đi
bao quan hệ bình thường mà vô cùng phong phú, phức tạp của con người, đẩy tất
cả các quan hệ ấy về phía sau, dường như ngọn lửa chiến tranh đã thui rụi, triệt
tiêu những cái nhỏ nhen của cuộc sống thường ngày, nhưng hòa bình lập lại, con
người phải đối mặt với cái hằng ngày, cái bình thường mà muôn thửa, tất cả
những nhiêu khê của xã hội bị chiến tranh vùi lấp thì bây giờ trỗi dậy, vây quanh
con người. Nếu trong chiến tranh chỉ một câu hỏi duy nhất: Sống hay Chết, thì
bây giờ vô số câu hỏi muôn hình muôn vẻ dấy lên từ những tầng sâu của xã hội,
tích lũy âm thầm trong những quá trình lịch sử phức tạp và lâu dài, bày ra trước
mắt con người.
Trong chặng đường của công cuộc đổi mới văn học ở thời điểm trở dạ của
lịch sử đất nước, mỗi một nhà văn với tâm hồn nghệ sĩ luôn khao khát đi tìm cái
đẹp và sự thật của đời sống, họ dứt bỏ con đường bằng phẳng, để lặng lẽ dũng
cảm khai phá con đường mới đầy cheo leo, nhưng đó là con đường giúp họ tìm
đến với sự sâu xa trong đời sống và tâm hồn con người, ngòi bút của nhà văn lật
xới, thăm dò tới nhiều miền và tầng sâu của đời sống con người, làm thay đổi sâu
sắc cái nhìn nghệ thuật về con người, thế giới con người trong sáng tác của mỗi
nhà văn hiện ra với nhiều màu sắc, dáng vẻ, với sự đa sự và đa đoan của nó,

10


nhưng số phận không ai giống ai, và mỗi người cũng không thể “Trùng khít với
chính mình với bộ áo xã hội của nó”( Bakhtin).
Văn học giai đoạn này đã nỗ lực vượt qua giới hạn chật hẹp và cứng nhắc
về cái nhìn con người của văn học giai đoạn trước nên đòi hỏi người cầm bút
phải mở rộng sự phong phú, đa dạng dường như vô tận của thế giới nhân vật,
muốn thế văn học cần được nhận thức lại, đó là việc phải làm những cuộc đối
chứng trong tư tưởng, để vuợt lên những nhận thức sai lầm, máy móc hoặc giản

học mới vừa phát huy những nhân tố hiện đại, vừa kế thừa những thành tựu của
nền văn học cũ. Nói như Trần Đình Hựu và Lê Chí Trung: “Tính chất giao thời đó
được biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng
sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm văn học, nhưng đó chỉ là yếu tố có
tính chất bề nối, cần phải bóc tách lớp vỏ bề ngoài để khai thác mọi vấn đề đang
ẩn trong đó mới có thể phát hiện những cái cốt lõi của nội dung có tính giao thời,
hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền văn
học mới đang tiến tới thay thế nền văn học cũ đang suy yếu dần. Ở giai đoạn giao
thời này, nền văn học cũ, tuy trên đà suy yếu nhưng vẫn giữ vị trí đáng kể, vẫn còn
một tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn học dân tộc”.
Tính chất giao thời thể hiện rõ văn học thế kỉ XIX- XX với tác giả Tản Đà
“ Người vắt mình trong hai thế kỉ”, Tản Đà nhận sứ mệnh tiên phong đưa văn thơ
ra thị trường, chuyển văn học thành tiếng nói của số đông, đáp ứng nhu cầu của
lớp độc giả mới trong trí thức và trong đời sống thị thành. Tản Đà đã làm giàu
cho thơ ca dân tộc về mặt nội dung và hình thức, bởi ông nằm vắt mình qua hai
thế kỉ thế kỉ XIX và XX, chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới. Ông đã phá vỡ cấu
trúc của thơ ca truyền thống để cho nguồn cảm xúc tuôn trào, bất chấp vần luật
cả âm điệu.
Những năm 80, 90 của thế kỉ trước, xã hội và con người Việt Nam trải qua
những cuộc “trở dạ” lớn lao và không ít đau đớn, phải tự tìm hình ảnh của chính
mình cùng việc phải tự hình thành từng bước các tiêu chí giá trị mới, trong tình
hình ấy, đời sống văn hóa tư tưởng cũng có diện mạo và diễn biến khá phức tạp,
bên cạnh những đề tài cũ, một số nhà văn đã có sự tìm tòi trong việc phản ánh
hiện thực cuộc sống đa dạng, phức tạp. Các tác giả như Nguyễn Khải, Ma Văn
Kháng là những tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này. Mỗi sáng tác của tác giả
bên cạnh đề cập con người sử thi trong văn học trước, thì còn có cả những sáng
tác đề cập tới con người đời thường, vốn giai đoạn trước chưa đề cập.
Nói như giáo sư Trần Đình Hựu : “Nếu đặt nó trong đấu tranh giữa cái cũ
và cái mới, nội sinh và ngoại nhập, Đông và Tây ta sẽ thấy bộc lộ ở đây những
vấn đề hết sức thú vị về quy luật vận động và biến đổi của văn học từ truyền thống

thành đã lâu đời, trong lối sống, nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế
hệ khác”[18; 256], điều đó cũng có nghĩa là truyền thống đã ăn sâu vào tư
tưởng, tình cảm của con người, mà rộng hơn là dân tộc, nó không phải là hành
động ngẫu nhiên, bất kì mà có tính chuẩn mực, tính ổn định, tính cộng đồng. Nói
đến truyền thống đó là vấn đề rất rộng, nhìn nhận ở nhiều khía cạnh, nhiều vấn
đề, thuộc phần những giá trị tinh thần và giá trị về vật chất. Vẻ đẹp truyền thống

13


đã được hun đức qua chiều dài của lịch sử, được kiểm nghiệm qua những cuộc
đấu tranh bảo vệ nền độc lập.
Trải qua sự thay đổi cuộc sống, thăng trầm của lịch sử, con người Việt Nam
vẫn giữ trong mình những nét đẹp riêng, những phẩm chất riêng, những nhà văn,
nhà thơ với trách nhiệm là “Người thư kí trung thành của thời đại” đã ghi chép
một cách đầy đủ, chân thực những vẻ đẹp rạng ngời của con người Việt Nam, ý
thức độc lập dân tộc đã vượt qua tình yêu đất nước để hướng trọn tình yêu ấy cho
đất nước nói như Chế Lan Viên: “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có
chung khuôn mặt, nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau” .
Vẻ đẹp của con người Việt Nam còn được xây dựng trên mặt trận lao động,
đó là vẻ đẹp của tinh thần lao động say sưa, của tinh thần làm chủ cuộc sống, của
ý thức xây dựng tổ quốc làm giàu đẹp cho quê hương. Bằng cách sống có lí
tưởng, của tinh thần dám ước mơ, biết vươn lên có ý nghĩa để cống hiến, để
thành người có ích cho cộng đồng, Truyện ngắn Lặng lẽ SaPa của Nguyễn
Thành Long đã khắc họa vẻ đẹp của con người lao động bình dị ấy.
Bên cạnh những vẻ đẹp truyền thống, người Việt được biết đến là con
người mang vẻ đẹp trong tâm hồn sâu kín, đời sống nội tâm phong phú, đó là tình
đồng chí, đồng đội, những người bạn tâm giao trên chiến hào, họ chia sẻ ngọt bùi
“Đêm rét chung chăn”, “thành đôi tri kỉ”, đó còn là tình yêu thủy chung trước
sau như một.

trách và đáng thương.
Vấn đề con người nạn nhân đã được đặt ra trong các sáng tác của dòng văn
học phê phán 1930 - 1945 với những cây bút danh như Vũ Trọng Phụng, Nam
Cao, tuy nhiên tính chất nạn nhân của con người trong văn học hiện thực chưa
được chỉ mặt đặt tên, điều đó cũng có nghĩa là chưa được trở thành khái niệm công
cụ. Trong nền văn học hiện đại, các nhà văn đã có một cái nhìn mới về kiểu con
người nạn nhân.
Trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, cái nhìn về trạng huống con người
nạn nhân của Ma Văn Kháng được biểu hiện do quan niệm con người trên tinh
thần giai cấp, văn học hiện thực vì thế lí giải căn nguyên của con người nạn nhân
là do phải tồn tại trong một môi trường xã hội phi nhân tính. Khi những chuẩn
mực giá trị cũ đã lỗi thời, còn những chuẩn mực giá trị mới lại chưa hình thành để
thay thế: Đó là sự chao đảo, những biến dạng của giá trị đạo đức của truyền thống
gia đình, là lối sống vụ lợi, thực dụng đến trắng trợn trong quan hệ giữa người với
người đang hoành hành xã hội. Đó còn là sự chuyên quyền độc đoán, thói tư lợi
của những kẻ a dua, xu thời đang nắm trong tay quyền lực nhà nước tạo nên bất

15


công vô lí đến nghẹt thở, tất cả đã rơi vào hỗn tạp, biến dạng khiến cuộc sống trở
nên chao đảo, bất an.
Đời sống xã hội càng ngày càng vận động theo hướng khẳng định cá nhân,
những tác động xã hội bên ngoài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến từng thành viên của
cộng đồng, cho nên mọi mặt cuộc sống đều biến đổi, nhân tố riêng tư cá nhân xé
rào đòi giải phóng trước một môi trường xã hội hết sức năng động bên ngoài,
kiểu gia đình nặng nề ràng buộc cá nhân sẽ là điểm nóng, gánh nặng trung tâm
tác động đến số phận con người đẩy con người vào bi kịch của sự bảo thủ, lỗi
thời, tù túng và đẩy họ vào bi kịch hoặc là sống cô đơn, hoặc chấp nhận cái chết.
Con người trong xã hội ấy, đặc biệt là người có tâm huyết, có trách nhiệm

phẩm giá của mình thì phải chịu một kết cục thiệt thòi, còn những người không ý
thức được thì bị rơi vào sự tha hóa. Dù con người đó là con người nạn nhân của
hoàn cảnh hay nạn nhân của chính mình thì đều khiến cho tác phẩm đậm chất
luận đề. Như vậy, cắt nghĩa, lí giải trạng huống nạn nhân của con người như để
bộc bạch, chia sẻ, đồng cảm như để thức tỉnh, cảnh báo đã trở thành tôn chỉ và
lòng nhiệt thành nghề nghiệp của nhà văn.
Mỗi tác phẩm là một quá trình vật lộn với những vấn đề bức xúc, nhức nhối
của xã hội để nói lên tiếng nói chân thành, tha thiết của mình dẫu biết rằng tiếng
nói thật, sự ngay thẳng đôi lúc phải trả giá.
1.3.2.3. Kiểu con người tha hóa
Theo Từ điển tiếng Việt của nhiều tác giả, NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ
điển học, 2003, trang 909 viết: “Tha hóa là khái niệm chỉ hiện tượng con người
biến chất thành xấu đi”[ 28; 909]. Ở Việt Nam, nhân vật tha hóa xuất hiện cùng với
trào lưu văn học phê phán (1930 – 1945) trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, đặc biệt là Nam Cao. Sau năm 1975, nhân vật tha hóa
có sự xuất hiện ở nhiều cây bút văn xuôi: Ma Văn Kháng, PhạmThị Hoài.
Hệ thống nhân vật tha hóa được nhà văn tái hiện có khá đầy đủ các tầng lớp
xã hội chứng tỏ không đơn giản trong cách nhìn nhận, khám phá hiện thực cuộc
sống, con người.
Trong cuộc sống đời thường muôn mặt, nhà văn đã có độ lùi cần thiết về
thời gian để nhìn về quá khứ, nhà văn nhìn kĩ hơn về góc khuất, về nỗi đau của
con người Việt Nam khi chiến tranh đi qua số phận họ, bức tranh hậu chiến của
một đất nước mà ở đó con người luôn phải gồng mình lên để gánh chịu những
nỗi đau, mất mát về vật chất lẫn tinh thần, lẽ dĩ nhiên trong cái ngổn ngang, bề
bộn đầy biến động, quay đảo hỗn tạp của thế giới, con người dễ bị tha hóa, biến
chất. Sống một đời sống bất ổn, sự tha hóa diễn ra nhiều cấp độ, và biểu hiện vô

17



vùng dậy để thoát khỏi bi kịch cá nhân và trong quá trình tìm đường, họ rơi vào

18


những kết cục khác nhau có nhân vật xuôi theo cái xấu, có nhân vật ý thức rõ về
sự tha hóa của bản thân và cố gắng vượt qua mình nhưng thật khó khăn và chẳng
đi đến đâu. Tác giả chủ yếu miêu tả trạng thái tinh thần, những việc làm, cử chỉ
thói quen, có tính chất lặp lại của nhân vật, dường như cuộc đời họ buồn tẻ, dậm
chân tại chổ: “Cuộc đời là một vòng quay” nếu ép và dồn đẩy họ tới chân tường
của sự thống khổ thì họ sẽ không thể thoát ra khỏi sự bủa vây của vấn đề cơm áo
ghì sát đất.
Ý thức được điều này, Lê Minh Khuê đã tỉnh táo chỉ ra căn nguyên sâu xa
dẫn đến bi kịch của con người hiện đại không hẳn là chuyện cơm áo mà chính là
sự trì trệ, bảo thủ, lạc hậu so với bước tiến của xã hội, họ kém một bản lĩnh để
vượt mình, để vươn tới ánh sáng văn hóa văn minh, cứ tự giam mình trong cái
vòng luẩn quẩn của cuộc sống để rồi bị mài mòn tất cả, họ bị buông xuôi đi theo
những thói xấu của cuộc sống mà không thể cứu vãn nỗi lòng tự trọng và nhân
cách của mình phải chấp nhận cuộc sống tầm thường, bạc nhược.
Dù được miêu tả, phản ánh thế nào đi chăng nữa, nhà văn cũng chỉ có một
mục đích duy nhất là cảnh báo về hiện tượng đánh mất mình một cách vô thức
trong xã hội hiện đại, sự suy thoái này như một căn bệnh ngấm ngầm khó chữa và
không chừa một ai kể cả những người có bằng cấp, học vị xã hội, nếu cá nhân
không tự khẳng định mình, không tự giải phóng chính mình thì sẽ phải làm nô lệ
của hoàn cảnh.
Đem đến cho văn học sự tự vấn với những suy tư, triết lí, trải nghiệm của
những con người tự đi tìm nhân cách cho mình trong đời sống tinh thần phong
phú, hiện thực bề bộn không đơn giản như trước đây thúc giục con người nhìn
lại, đặt ra những câu hỏi, khái quát thành vấn đề, rút ra chiêm nghiệm lẽ đời,
cuộc sống cá nhân như một tất yếu.

Con người ta không chỉ tính toán đến việc dùng người mà còn tính cả
chuyện hành hạ người khác, người ở vừa là người giúp việc, những công việc
không tên, và họ cũng là người câm để chủ hành hạ. Đau đớn thay, cùng là kiếp
người không đùm bọc nhau lại cố đè lên nhau mà tồn tại.

20


Trong văn học hiện đại, sự tha hóa trong lối sống, hành vi được các tác giả
đề cập rất nhiều, đó là hình ảnh một cô Thủy sẵn sàng lấy nhau thai cho chó ăn
trong tác phẩm Tướng Về hưu, là một cô Lí trong Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng sẵn sàng bỏ một khoản tiền lớn mua cây quất chỉ vì muốn hơn
vợ của trưởng phòng, và còn biết bao kẻ sẵn sàng dùng thủ đoạn dìm người khác
xuống để đạt mục đích. Suy cho cùng cuộc sống con người thật sự tốt đẹp khi
con người sống với nhau chan hòa, đối xử với người khác như đối xử với chính
mình, điều này văn học đã thực hiện được chức năng truyền chở đạo lí cho con
người - cái đạo ở đời.
1.3.2.3.3 Kiểu con người tha hóa trốn tránh thực tại
Theo Từ điển tiếng Việt “Thực tại là tổng thể nói chung những gì hiện đang
tồn tại chung quanh chúng ta”[18;213].
Trong cuộc sống “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” ( Mác),
còn phần con là hoạt động tự nhiên với bản chất người, con người nhận ra chính
đời sống tình cảm đã tác động mạnh mẽ tới tinh thần của con người.
Nói tới sự trốn tránh thực tại là đề cập tới một quá trình nhân vật phải đối
diện với chính mình, với thực tại, nhân vật luôn có sự đấu tranh, đấu tranh trong
tư tưởng để vươn lên cuộc sống, sự trốn chạy ấy suy cho cùng cũng là sự chạy
trốn có ý thức, khi họ biết họ không thể sống trong hoàn cảnh như thế. Từ xa
xưa, các nhà nho cũng đã chọn cách ở ẩn để chạy trốn thực tại của chế độ thối
nát, nơi mà ở đó họ nhận thấy nếu cam chịu sống dưới chế độ đó thì lòng tự
trọng, khí tiết của họ sẽ bị vẫn đục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status