Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-------oOo------

HUỲNH NGUYỄN BẢO NGUYÊN

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM
PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013


LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên : Huỳnh Nguyễn Bảo Nguyên
Sinh ngày : 25/10/1980
Ngành học : Tài chính doanh nghiệp
Đề tài : Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam
Tác giả xin cam đoan đây là công trình do chính bản thân tác giả nghiên cứu
và trình bày. Các số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu trình bày trong
đề tài này là trung thực.
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài nghiên cứu.

2.4. Các nghiên cứu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. ................... 18
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................................................... 19
3.1. Mô tả về dữ liệu phân tích............................................................................... 19
3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu .............................................................................. 20
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................................... 25
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................................ 39
5.1. Kết luận ........................................................................................................... 39
5.2. Hạn chế của đề tài ........................................................................................... 40

-1-


5.3. Một số khuyến nghị chính sách....................................................................... 40
5.4. Hướng nghiên cứu tiếp theo ............................................................................ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 42
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 45

-2-


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Nguyên văn

Viết tắt
ADF

Augmented Dickey-Fuller

CPI


-4-


DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1: Đường cong Phillips ......................................................................................... 12
Hình 2: Minh họa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ........................................................ 13
Hình 3: Diễn biến tỷ lệ tăng CPI và GDP (%) giai đoạn 1999 – 2012 .......................... 27

-5-


NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này nhằm khám phá mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ 1999 đến 2012. Dữ
liệu nghiên cứu được tác giả thu thập hàng quý từ các công bố của Tổng cục thống kê
tại website gos.gov.vn. Với các kỹ thuật phân tích thống kê cơ bản đã cho thấy các dữ
liệu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hoàn toàn sử dụng được trong nghiên cứu
này. Kiểm định bằng phương pháp Augmented Dickey-Fuller (ADF) cho thấy chuỗi dữ
liệu lạm phát là dừng; tuy nhiên chuỗi dữ liệu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) không
dừng cho tới khi lấy sai phân bậc 1; điều này khiến tác giả cần lưu ý xem xét việc hiệu
chỉnh chuỗi số liệu này trong các phân tích của mình. Kiểm định nhân quả Pairwise
Granger Causality cho biết tồn tại quan hệ nhân quả một chiều giữa tăng trưởng kinh tế
tác động vào lạm phát; đồng thời cũng tồn tại quan hệ một chiều giữa lạm phát tác
động vào biến động của tăng, giảm của tăng trưởng kinh tế. Phân tích đồng liên kết
Johansen và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) cho thấy có tồn tại quan hệ dài hạn giữa
tăng trưởng kinh tế và lạm phát theo chiều hướng tích cực (positive); tuy nhiên trong
ngắn hạn mối quan hệ này là khá tiêu cực (negative). Mặt khác, hồi quy OLS theo

này khiến cho nhiều nhà nghiên cứu luôn tìm kiếm các lời giải cho mối quan hệ này và
tìm các biện pháp để ứng dụng chúng vào trong việc điều hành kinh tế vĩ mô.
Về mặt thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam, quan sát diễn biến của GDP và CPI
các năm giai đoạn 1999 đến 2012 tác giả nhận thấy:

-7-


(i) Thời kỳ từ 1999 đến 2006 GDP có tốc độ tăng trưởng phục hồi và ổn định từ
mức 6,79% lên 8,48%; Thời kỳ 2007 đến 2012, gắn liền với khủng hoảng và suy thoái
nên GDP có xu hướng giảm từ mức 6,23% xuống còn 5,03%.
(ii) Tương ứng với diễn biến của GDP, CPI có các biến động mạnh và bất
thường hơn: CPI duy trì ở mức thấp với mức bình quân là 5.04% từ năm 1999 đến
2003. Sau đó, CPI có dấu hiệu tăng trở lại từ 2004 đến 2011 với mức bình quân là
11.68%, mà đỉnh điểm là năm 2008 với mức tăng 19,90%; Năm 2012 CPI có dấu hiệu
giảm nhiệt còn 6,81%.
(iii) Xét mối quan hệ CPI và GDP thì tác giả nhận thấy: (a) Tỷ lệ CPI duy trì ở
mức trung bình là 5% thì GDP có tốc độ tăng trưởng ổn định; (b) nếu CPI có mức
trung bình trên 11% thì GDP có dấu hiệu suy giảm; (c) Những năm CPI tăng đột biến
18 – 19% thì GDP suy giảm mạnh trong năm đó và năm kế tiếp.
Bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam trong giai đoạn 1999 – 2012 và từ đó đưa ra các dự báo về mối quan hệ
này cũng như những khuyến nghị trong điều hành nền kinh tế vĩ mô theo mục tiêu. Cụ
thể là:
(1) Xem xét diễn biến mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong một
thời kỳ khá dài từ 1999 tới 2012 theo các quý, từ đó sẽ theo sát và cập nhật kịp thời
hơn mối quan hệ này.
(2) Ứng dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để phân tích mối quan hệ này.
(3) Bổ sung những kết luận, khuyến nghị cho việc điều hành nền kinh tế vĩ mô
trong việc cân nhắc hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển
cùng chiều. Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng
trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi.

-9-


Theo chủ nghĩa trọng tiền mà đại diện là Milton Friedman cho rằng lạm phát là
sản phẩm của việc gia tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức độ lớn hơn tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Lập luận này cũng được thể hiện trong công thức nổi tiếng của
Irving Fisher (lý thuyết số lượng tiền tệ - Quantity theory of Money):
• MV = PY
• Trong đó:
• M: cung tiền
• V: Hệ số tạo tiền
• P: Giá
• Y: sản lượng đầu ra (GDP thật)
Cũng theo Friedman, nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp 2 lần mà
thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm đến việc tăng
giá hàng hóa. Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng không bị suy giảm bởi lạm phát.
Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì không ảnh hưởng nguy hiểm đến tăng trưởng
kinh tế. Nói tóm lại, theo quan điểm của thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh
hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng. Nếu cung tiền tăng
nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ cung tiền
và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát.
Theo lý thuyết tân cổ điển: Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif
2004) phát triển mô hình Mundell (1963, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) cho
rằng lạm phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển tiền thành
các tài sản sinh lợi. Điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế và thúc
đẩy kinh tế phát triển. Theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ


. Trong bài báo này nhà

kinh tế học Phillip s đã thể h iện mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát trong ngắn

-11-


hạn trên đường cong mà mình đã tìm ra . Và sự kết hợp giữa lạm phát và thất nghiệp
trong ngắn hạn khi có sự dịch chuyển của tổng cầu dọc theo đường tổng cung trong
ngắn hạn.

Hình 1: Đường cong Phillips 1
Nguồn: Phillips Alban W. (1958), "The relationship between unemployment and the
rate of change of money wages in the UK 1861-1957," Economica.
Milton Friedman và Edmund Phelps (1968, 1976, 2006) cho rằng khi kỳ vọng
lạm phát tăng lên thì đường cong Phillips ngắn hạn sẽ dịch chuyển sang phải. Như vậy
với kỳ vọng lạm phát quá cao thì lạm phát đình đốn có thể xảy ra (vừa có lạm phát cao
vừa có thất nghiệp cao) và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo quy
luật Okun (1960) sẽ được biểu diễn như sau:

1

Chú thích: khi tổng cầu tăng từ A đến B thì có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất ngh iệp, sản lượng tăng nên làm
giảm thất nghiệp, giá tăng nên làm tăng lạm phát.

-12-


Hình 2: Minh họa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 2

đã sử dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nhà
nghiên cứu kinh tế cho rằng, đây là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh,
nhưng kém bền vững. Hay còn nói đó là giải pháp tăng trưởng “bong bóng”. Xu hướng
các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó là dựa trên cơ sở
giá cả ổn định ở mức thấp. Căn cứ biện luận cho giải pháp này là: Trong nền kinh tế thị
trường, lạm phát ổn định thì tính dự báo được nâng cao. Điều đó giúp các nhà đầu tư có
thể xây dựng được các phương án đầu tư hiệu quả. Đối với người tiêu dùng thì chi tiêu
yên tâm, họ không phải lo cân nhắc các mặt hàng khác để thay thế do giá tăng. Tất cả
điều đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực chất. Hiện nay các nước phát
triển chọn mức lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho tăng trưởng. Tuy nhiên cũng phải
hiểu rằng, lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện
cần cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn
và công nghệ kỹ thuật, v.v.... Các học thuyết kinh tế vĩ mô đã khẳng định, nếu sản
lượng thực tế vượt sản lượng tiềm năng sẽ làm lạm phát gia tăng. Thực tế 2005-2006
lạm phát thế giới gia tăng, ngoài nguyên nhân giá dầu còn do nền kinh tế nhiều nước
phát triển quá nóng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu cho rằng lạm phát ở một mức
nhẹ lại có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn:
Nhà kinh tế học nổi tiếng Tobin (1965) cho rằng lạm phát làm cho nhà đầu tư tái
phân bổ danh mục đầu tư của mình từ tiền sang chứng khoán, làm giảm lãi suất thực tế

-14-


và do đó làm tăng đầu tư và nâng cao năng suất lao động. Ông lập luận thêm rằng “một
chút lạm phát giúp bôi trơn nền kinh tế” vì nó giúp thị trường lao động điều chỉnh cho
phù hợp. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng nhu cầu tăng lên ổn định sẽ gây ra lạm phát ở
mức nhẹ, là cái mà thực ra lại làm tăng, chứ không phải giảm năng suất lao động và, do
đó, tăng tốc độ tăng trưởng. Vì thế, động thái nhằm đạt mức lạm phát bằng 0 chẳng qua
là chính sách trả trước ngay bây giờ cho nhiều thiệt hại hơn sau này.
Theo Mundell (1965), có mối tương quan tỉ lệ thuận giữa lạm phát và tăng

quá trình phân bổ nguồn lực; lạm phát còn được xem như là một loại thuế đánh vào
nền kinh tế. Cụ thể như: Fisch (1993); Bruno và Eastly (1995); Barro(1998) đã nhận
thấy quan hệ âm giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế sau giai đoạn sau khủng hoảng
dầu 1973-1974. Sarel (1996), Gosh và Philip (1998), Khan và Senhadji (2001) … đã cố
gắng tìm ra đặc điểm đặc biệt về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Bằng các nghiên cứu khác nhau họ đã tìm ra một ngưỡng lạm phát, mà tại ngưỡng đó
nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Sarel (1996) cho
rằng ngưỡng lạm phát là 8%. Christoffsen và Doyle (1998) tìm ra ngưỡng là 13% cho
các nền kinh tế chuyển đổi. Khan và Senhadji (2001) đã chỉ ra ngưỡng lạm phát tại các
nước đang phát triển là 11-12%/năm; các nước công nghiệp khoảng 1-3% sẽ gây tác
động tiêu cực cho tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của tác giả Khan (2005) đã tập
trung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu; và Khan đã tìm ra mức lạm phát tối ưu
đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3.2%. Nghiên cứu của Li
(2006): Số liệu cho 90 nước đang phát triển, giai đoạn 1961-2004 lại cho rằng ngưỡng
tạo ra tác động tiêu cực cho tăng trưởng nền kinh tế là 14%/năm.
Nghiên cứu của Omoke Philip Chimobi (2010) là tìm ra sự tồn tại của (nếu có)
một mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria. Ông đã sử dụng các
phương pháp phân tích dữ liệu là kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger, phân tích
đồng liên kết Johansen, kiểm định tính dừng ADF và Phillips Perron, sử dụng mô hình
VAR. Tác giả sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường cho diễn biến lạm phát và
GDP như là một đo lường hoàn hảo cho sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ 1970
để 2005. Kết quả thử nghiệm nghiên cứu cho thấy, cho các giai đoạn, 1970-2005, đã

-16-


không có mối quan hệ đồng liên kết giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Nigeria.
Vì vậy, tác giả đã không thể tìm thấy bất kỳ mối quan hệ dài hạn nào giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế ở Nigeria. Bằng kỹ thuật VAR – Granger với kiểm định 2 trễ tác
giả đã thu được mối quan hệ nhân quả một chiều từ lạm phát tới tăng trưởng kinh tế;

cao gây hại cho tăng trưởng kinh tế, trong khi lạm phát vừa phải có lợi ích cho tăng
trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Trung Quốc nên duy trì một tỷ lệ lạm
phát vừa phải để duy trì tăng trưởng dài hạn.
2.4. Các nghiên cứu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Theo đánh giá của IMF (2006), Lạm phát của Việt Nam gia tăng trong các năm
gần đây, đã chịu ảnh hưởng bởi sự gia tăng sản lượng vuợt mức tiềm năng; bắt đầu từ
năm 2005 có dấu hiệu bởi sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng (những năm trước
đó mối quan hệ này là không nhất quán và không rõ nét). Mức lạm phát chuẩn của Việt
Nam có thể gần với mức lạm phát của các nước Đông Nam Á. Nghiên cứu bước đầu
của IFM (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á cũng đã
chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam
Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3.6%.
Nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân, Hoàng Hải Yến, Vũ Thị Lệ Giang (Lạm phát
và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam). Xét ở thời kỳ dài 20-23 năm (1987-2010)
lạm phát ảnh hưởng tiêu cực yếu đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ảnh hưởng của
lạm phát tới tăng trưởng là tích cực hay tiêu cực còn phụ thuộc vào mức lạm phát sử
dụng để xác định mối tương quan này. Các tác giả cũng đưa ra ngưỡng lạm phát ở Việt
Nam nên từ 5%-6% .
Nghiên cứu của Nguyễn Trung Chính, Đại học Ngoại Thương (Mối quan hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế qua kết quả phân tích tại Việt Nam, 2010),
Nghiên cứu của tác giả là nối tiếp các nghiên cứu trước đây nhằm phân tích sự ảnh
hưởng qua lại giữa tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến hết
nửa đầu năm 2008 bằng các phương pháp hồi qui đồng liên kết, mô hình sai số hiệu
chỉnh ECM và phân tích phương sai dựa trên mô hình VAR, kết quả cho thấy những
bằng chứng thực nghiệm rõ rệt về tương tác qua lại giữa hai yếu tố này trong cả dài hạn

-18-


và ngắn hạn, kết quả thu được giống với các kết quả của Tobin (1965), Mallik and

Việt Nam đã có những bước thay đổi căn bản về chất và lượng; gắn với nhiều mốc lịch
sử quan trọng của đất nước; đồng thời có ý nghĩa trong việc xem xét mối quan hệ lạm
phát và tăng trưởng kinh tế; hơn nữa dữ liệu trong thời kỳ này có thể tiếp cận được và
tương đối ổn định cho việc phân tích mối quan hệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế; đồng
thời trong khoảng thời gian này tác giả cũng có khả năng thu thập được các số liệu về
GDP và CPI phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Việc lựa chọn tỷ lệ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng CPI tính theo % cho việc
nghiên cứu là xuất phát từ thực tiễn của các cơ quan nhà nước thường sử dụng các chỉ
tiêu này để phản ánh các vấn đề tăng trưởng kinh tế và lạm phát một cách phổ thông và
các chỉ tiêu tính tương đối (theo %) sẽ có ý nghĩa hơn trong việc hình dung các diễn
biến so với dùng các chỉ tiêu tuyệt đối (theo giá trị).
Nguồn số liệu được tác giả thu thập theo quý từ công bố từ IMF, Worldbank,
Tổng cục thống kê hàng năm về GDP và CPI theo quý trong thời kỳ 1999 – 2012 thông
qua website gso.gov.vn và một số phương tiện thông tin đại chúng khác như cafef.vn;
vnexpress.net; vietstock.com.vn; stox.vn, các nghiên cứu đã thực hiện trước đây…
3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu
Để phân tích các dữ liệu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế; tác giả đã triển khai
tuần tự các công việc như sau:
(1) Tính toán các chỉ tiêu đại diện cho hai chuỗi số liệu nhằm phản ánh tính
chất, đặc tính của các chuỗi dữ liệu trước khi ứng dụng các kỹ thuật thống kê vào việc
xử lý, cụ thể bao gồm: Trung bình (mean); Trung vị (median); Độ lệch chuẩn
(Std.Dev); Giá trị lớn nhất (Maximum) và nhỏ nhất (Minimum); Độ nghiêng
(Skewness); Độ nhọn (Kurtosis); Kiểm định Jarque-Bera.
(2) Xem xét phương trình biểu diễn mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát
như sau: GDP = α + β*CPI + ε1 và CPI = γ + θ* GDP + ε2; với ε1 và ε2 là phần dư

-20-


phản ánh những diễn biến ngẫu nhiên, phản ánh các tác động khác ngoài CPI và GDP;

0

1

n

t-n

1

t-1

n

t-n

t

CPIt = α + α CPI + … + α CPI + β GDP + … + β GDP + ε
0

1

t-1

n

t-l

1

chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng. Ví dụ, chúng ta hồi quy phương trình:
GDPt = α + β*CPIt + εt … Có thể viết lại là : εt = GDPt - α - β*CPIt
Vậy nếu như phần dư của phương trình hồi quy εt là một chuỗi dừng, thì kết quả
hồi quy của phương trình GDPt = α + β*CPIt + εt có ý nghĩa, tức không có hiện tượng
tương quan giả. Trong trường hợp này, hai biến GDP và CPI được gọi là đồng liên kết
và hệ số ước lượng γ được gọi là hệ số hồi quy đồng liên kết. Nói theo ngôn ngữ kinh
tế học, hai biến đồng liên kết khi chúng có mối quan hệ dài hạn, hay ổn định với nhau.
Như thế thì nếu ta kiểm định phần dư từ phương trình GDPt = α + β*CPIt + εt và
nhận thấy phần dư là dừng (có phân phối chuẩn), thì các kiểm định truyền thống (Kiểm
5

Tác giả còn kết hợp thêm phương pháp VAR Lag Order Selection Criteria để tìm kiếm trễ tối ưu

-22-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status