Giải Pháp Gia Tăng Khả Năng Xuất Khẩu Gạo của Vinafood II trong Thời Gian tới : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ KIM TUYẾT

NHỮNG GIẢI PHÁP GIA TĂNG
KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA
VINAFOOD II TRONG THỜI GIAN TỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH : NGOẠI THƯƠNG
MÃ SỐ : 5.02.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TIẾN SĨ BÙI LÊ HÀ

TP.HỒ CHÍ MINH 2001

1


PHẦN I
MARKETING XUẤT KHẨU – CÔNG CỤ QUAN TRỌNG
TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
----- ]–^ ----I._ MARKETING XUẤT KHẨU:
Trong nền kinh tế thò trường có sự quản lý của Nhà nước, việc nâng cao hiệu quả hoạt động
Marketing xuất khẩu ở các Doanh nghiệp trong xu hướng toàn cầu hoá khu vực, luôn là công
việc có ý nghóa thiết thực nhất.
I.1 - Nội dung cơ bản cuả quá trình Marketing xuất khẩu :
Marketing xuất khẩu là marketing của các doanh nghiệp của một quốc gia nhất đònh, ứng

• Các chính sách về Marketing – Mix: tổ chức và thực hiện chiến lược thâm nhập thò trường
thế giới, tạo khả năng cạnh tranh tốt trên thò trường thế giới :
* Chiến lược sản phẩm : thiết kế sản phẩm thích ứng với nhu cầu và thò hiếu người tiêu
dùng, đa dạng hóa sản phẩm, tạo cho khách hàng có thói quen dùng sản phẩm đó và nhớ mãi
đến sản phẩm đó.
* Chiến lược giá cả : ấn đònh giá cả sản phẩm để đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, nhưng
phù hợp với chất lượng sản phẩm và khả năng thanh toán của người tiêu thụ, đồng thời có thể
cạnh tranh được trên thò trường.

2


* Chiến lược phân phối : xác đònh kênh phân phối phù hợp với khả năng, trình độ, quy mô
của doanh nghiệp và có hiệu quả cao.
* Chiến lược xúc tiến khuyến mãi : quảng cáo giới thiệu cho người tiêu dùng biết được
chất lượng và giá trò sử dụng của sản phẩm, chiêu hàng, các dòch vụ hậu mãi để thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm.
Đây chính là biểu hiện sự linh hoạt của việc vận dụng bốn chiến lược trong từng giai đoạn
cụ thể trên thò trường. Nếu vận dụng khéo léo, tài tình thì doanh nghiệp chiếm lónh được nhiều
thò trường và thu được nhiều lợi nhuận.
I.2 .1 – Các tiếp cận về việc vận dụng Marketing xuất khẩu :
Marketing giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó
là khởi đầu của quá trình sản xuất và kinh doanh.Việc tìm hiểu nghiên cứu và áp dụng
Marketing xuất khẩu là điều cần thiết, sống còn để mở rộng hoạt động kinh doanh ra thò trường
nước ngòai. Từ sự quốc tế hoá có thể khai thác nhiều cơ hội như: tiếp cận các thò trường mới,
thấy được các nguồn lợi mới, cọ xát với sự cạnh tranh có hiệu quả, luôn đổi mới, mở rộng đầu
tư,sản xuất, kinh doanh. Khi doanh nghiệp mở thò trường ra nước ngoài và cũng cố vò trí tại các
thò trường đó, cần tìm hiểu kỹ các điều kiện nơi đang hoạt động, từ đó tìm cách thích ứng với sự
cạnh tranh và những biến động nói chung cuả thò trường nhằm bảo đảm cho hoạt động kinh
doanh lâu dài và hiệu quả.

Có nghiên cứu tốt thò trường thì mới biết được sản phẩm của mình có thể đứng vững và tồn tại
trên thò trường đó hay không ? Những nguy cơ và rủi ro gắn liền với thò trường quốc tế?
Khi đã chọn được thò trường và đã quyết đònh những mục tiêu cho thò trường đó, trước tiên là
nghiên cứu phương thức thâm nhập thò trường phù hợp. Quá trình thâm nhập thò trường hợp lý
đòi hỏi sự lựa chọn và cân nhắc các chiến lược khác nhau và có sự so sánh giữa lợi ích và giá
thành.
Chiến lược thâm nhập trong Marketing xuất khẩu phải thích ứng với vò trí cạnh tranh của
doanh nghiệp và những mục tiêu Marketing tổng thể trong môi trường đã chọn lựa. Cụ thể cần
giải quyết các vấn đề sau :
II.1 Xây dựng những quan điểm, mục tiêu đònh hướng thâm nhập thò trường thế giới hợp
lý.

3


Khi xây dựng chiến lược thâm nhập thò trường thế giới, phải xác đònh quán triệt những quan
điểm mục tiêu đònh hướng thâm nhập thò trường thế giới của cả nước, nhằm bảo đảm phát triển
xuất khẩu theo mục tiêu đã đònh.
II.2 Xác đònh các nhân tố tác động đến việc lựa chọn chiến lược thâm nhập thò trường thế
giới và lựa chọn được phương thức thâm nhập hợp lý.
Để lựa chọn phương thức thực hiện chiến lược thâm nhập thò trường, các doanh nghiệp xuất
khẩu cần phải tính đến các nhân tố có ảnh hưởng khác nhau, nhưng quan trọng nhất là các khả
năng riêng biệt của doanh nghiệp và áp lực giảm chi phí đối với doanh nghiệp. Cần nghiên cứu:
đặc điểm, tiềm năng và các yêu cầu của thò trường.
II.2.1– Đặc điểm của thò trường thâm nhập :
Muốn thâm nhập vào một thò trường , điều chính yếu là xem xét kỹ thò trường để lựa chọn
phương thức thâm nhập, vì các yếu tố như : xã hội, chính trò, văn hoá kinh tế, pháp luật, môi
trường cạnh tranh, các chính sách áp dụng… ở mỗi thò trường sẽ khác nhau rất nhiều. Cần tìm
hiểu và phân tích kỹ các đặc điểm về thò trường cuả từng quốc gia cụ thể để quyết đònh chiến
lược thâm nhập thích hợp.

thể của thò trường và sản phẩm của mình .
II.3 Xây dựng và thực hiện tốt các chiến lược Marketing hỗn hợp (Marketing-Mix) trong
từng giai đoạn cụ thể.
Khi đã lựa chọn được thò trường phù hợp, cần phải xây dựng chiến lược và thực hiện tốt các
chiến lược Marketing –Mix trong từng giai đoạn cụ thể .

4


II.4 Các phương thức thực hiện chiến lược thâm nhập thò trường thế giới.
Có 3 phương thức thường sử dụng sau đây :

CHIẾN LƯC THÂM NHẬP THỊ
TRƯỜNG THẾ GIỚI

Thâm nhập thò
trường thế giới từ
sản xuất trong

Thâm nhập thò trường
thế giới từ sản xuất ở
nước ngoài

Thâm nhập thò trường
thế giới tại vùng
thương mại tự do

II.4.1 – Thâm nhập thò trường thế giới từ sản xuất trong nước.
Các nước đang phát triển trên thế giới vận dụng phương thức này để đưa sản phẩm của
mình vào thò trường thế giới thông qua xuất khẩu. Đây là phương thức truyền thống, dễ thực

một khi không nắm chắc thông tin kòp thời, hay thiếu am hiểu về thò trường thế giới và đối thủ
cạnh tranh, thì phương thức này mang lại nhiều rủi ro.



5


II.4.1.2 - Xuất khẩu gián tiếp (Indirect exporting):
Phương thức này không yêu cầu có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người nhập khẩu và người sản
xuất , mà thông qua các trung gian để xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài, nên thường được sử
dụng cho các doanh nghiệp sản xuất qui mô nhỏ, chưa đủ điều kiện để trực tiếp xuất khẩu,
không có khách hàng, chưa quen thò trường, thiếu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài, hay
không đủ khả năng tài chính để xuất khẩu trực tiếp và chưa thông thạo các nghiệp vụ xuất
khẩu.
Để xuất khẩu được sản phẩm cuả mình họ thường thông qua các trung gian sau:
• Các Công ty xuất khẩu chuyên nghiệp (Export Mechants): Gồm những công ty không
cần có cơ sở sản xuất, chỉ thuần về thương mại, thông thạo về kinh doanh xuất nhập khẩu trên
thương trường, năng lực tài chính dồi dào, có quan hệ rộng, kinh doanh trên nhiều lónh vực. Họ
mua hàng của nhà sản xuất thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu và chòu mọi rủi ro liên quan đến
việc xuất khẩu. Họ có thể chuyên xuất khẩu một loại hàng như gạo, càphê, chè…và có nhiều
kinh nghiệm, biết rõ phẩm chất theo thời vụ, thò trừơng gía cả và tiêu thụ, thò hiếu khách hàng,
qui cách, vụ mùa…
• Công ty quản trò xuất khẩu EMC ( Export Management Company) :
EMC là công ty quản trò xuất khẩu cho một công ty khác. EMC thực hiện từ đơn chào hàng,
hợp đồng mua bán, chuyên chở, lập hóa đơn đến thu tiền hàng đều với danh nghóa của chủ
hàng. Các EMC chỉ giữ vai trò cố vấn, thực hiện các dòch vụ liên quan đến xuất khẩu và được
thanh toán bằng hoa hồng. Khuynh hướng mới của EMC hiện nay là : các EMC có quy mô lớn,
mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất rồi bán để kiếm lời.
Khi sử dụng EMC, các nhà sản xuất hàng xuất khẩu ít có cơ hội tiếp xúc quan hệ trực tiếp

trong nước ra ngòai nước.

6


- Sản phẩm sản xuất tại nước ngoài sẽ khắc phục hàng rào cản pháp lý liên quan đến xuất
nhập khẩu như : quota xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu.
- Cơ hội để chuyển giao công nghệ kỹ thuật sang những nước chậm phát triển.
• Nhược điểm :
- Việc đầu tư ra nước ngoài sẽ gặp rủi ro, nếu có sự bất ổn về chính trò và kinh tế ở nước sở
tại .
- Yêu cầu doanh nghiệp phải có vốn lớn và khả năng cạnh tranh cao, phải nghiên cứu kỹ thò
trường, môi trường mới của nước sở tại.
Trong chiến lược này có một số hình thức thâm nhập sau :

Nhượng bản quyền (Licensing): Là doanh nghiệp nước ngoài được phép sử dụng các
công nghệ, bí quyết thương mại, bằng sáng chế, qui trình sản xuất, nhãn hiệu,kiểu dáng, dòch
vụ, kỹ thuật hay một số kỹ năng và nhận chi phí thuê bản quyền từ một doanh nghiệp khác.
Do vậy, doanh nghiệp có bản quyền sẽ thâm nhập thò trường với độ rủi ro thấp hoặc có
thể thâm nhập thò trường mà ở đó bò hạn chế bởi hạn ngạch nhập khẩu, thuế nhập khẩu
cao…Đồng thời doanh nghiệp nhận bản quyền có thể sử dụng công nghệ tiên tiến hoặc nhãn
hiệu nổi tiếng. Từ đó sản xuất ra nhiều sản phẩm trong nước và xuất khẩu.
Nhược điểm : Doanh nghiệp có bản quyền khó kiểm soát được bên nhượng bản quyền, so với
việc tự thiết lập ra các xưởng sản xuất cho chính mình.
Khi hợp đồng nhượng bản quyền chấm dứt, doanh nghiệp có bản quyền có thể đã tạo ra một
đối thủ cạnh tranh với chính mình.
• Hợp đồng sản xuất gia công nước ngoài ( Contract manufacturing):
Là sự hợp tác về sản xuất, chế tạo sản phẩm hay lắp đặt trang thiết bò tại nước ngoài để
tận dụng nguyên liệu rẻ, các khoản chi phí thấp.
Thâm nhập thò trường theo hình thức này ít rủi ro hơn các hình thức khác, giá thành phẩm

7


* Ưu điểm :
- Tận dụng sự ưu đãi về thuế, giá công lao động, chi phí thuê mướn đất đai, nhà cửa, các dòch
vụ ...thường là thấp so với trong nước.
- Các hoạt động tạm nhập, tái xuất cho gia công chế biến hết sức thuận lợi, do thủ tục xuất
nhập khẩu dễ dàng.
- Dễ dàng đưa công nghệ và thiết bò mới hiện đại vào sản xuất chế biến.
- Trong khi chờ một thò trường thuận lợi, nhà xuất khẩu có thể gởi hàng vào khu thương mại tự
do để giữ lại sơ chế, hoặc đóng gói lại trong một thời gian nhất đònh, mà không phải làm thủ tục
hải quan hoặc đóng thuế nhập khẩu
* Nhược điểm :
- Doanh nghiệp muốn vào khu thương mại tự do, yêu cầu phải có vốn và khả năng cạnh tranh
cao .
- Tìm kiếm thò trường để tái xuất và tiêu thụ tại nước chủ nhà .
- Rủi ro xảy ra khi nước chủ nhà có nền chính trò , kinh tế bất ổn .
Trên đây là 3 phương thức thâm nhập thò trường thế giới mà các doanh nghiệp nước ta có thể
chọn lựa. Việc chọn lựa sẽ tùy thuộc hoàn cảnh, điều kiện của từng doanh nghiệp mà áp dụng
cho phù hợp.
III– CHIẾN LƯC MARKETING - MIX
Gọi là Marketing hỗn hợp vì nó phối hợp và sử dụng các thành phần của marketing để
tác động vào thò trường thế giới nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đã hoạch đònh. Khi
đã xây dựng được chiến lược thâm nhập và lựa chọn được phương thức thâm nhập thò trường thế
giới, ta phải thực hiện chiến lược Marketing – Mix để giúp cho chiến lược thâm nhập thò trường
thế giới đã xây dựng và chọn lựa trở thành hiện thực.
III.1 – CHIẾN LƯC SẢN PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
(PRODUCT FOR INTERNATIONAL MARKETS) :
Các quyết đònh về sản phẩm xuất khẩu rất phức tạp, do nhu cầu và môi trường khác nhau.
Sản phẩm được đưa ra chào hàng phải đáp ứng yêu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng, tổng hợp

Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính sản phẩm và đặc điểm thò trường, kết hợp với các khả
năng, mục tiêu của doanh nghiệp để chọn lựa một sách lược về sản phẩm xuất khẩu cho doanh
nghiệp ở thò trường nước ngoài.
III.1.1 - Chính sách sản phẩm quốc tế :
Doanh nghiệp xuất khẩu phải chọn lựa giữa ba sách lược về hàng hóa khả thi :
* Làm cho sản phẩm thích ứng với điều kiện của từng thò trường nước ngoài, bằng cách thiết
kế lại bao bì, mẫu mã mới cho sản phẩm. Cách làm này sẽ tăng thêm sức hấp dẫn cho sản
phẩm, nhưng các chi phí cho nghiên cứu và triển khai sản phẩm, do trang thiết bò và nguyên
liệu mới, mà doanh nghiệp phải trả sẽ làm giá thành sản phẩm có thể tăng.
* Tìm ra công dụng mới của sản phẩm để kéo dài tuổi thọ của sản phẩm.Có thể bán ra nước
ngoài những sản phẩm không đòi hỏi bất kỳ một sự thay đổi, điều chỉnh hay sửa chữa. Với
sách lược này, thì mẫu mã không cần thay đổi, nhà máy và thiết bò hiện tại có thể được sử dụng
để sản xuất hay bán ngay hàng đang tồn kho. Như vậy, số thò trường tiềm tàng có thể bò giới
hạn, giá bán có thể thấp, khó tìm đại lý hay nhà phân phối tốt và khó có thể cạnh tranh với các
nhà xuất khẩu khác,việc thâm nhập thò trường bò hạn chế.
* Sáng tạo sản phẩm mới nếu hai sách lược trên không hiệu quả, DN phải loại bỏ sản phẩm và
tạo ra sản phẩm mới phù hợp với yêu cầu cuả thò trường .
Quá trình hình thành và phát triển sản phẩm mới qua các giai đoạn chính sau:
- Thu thập ý tưởng về sản phẩm mới (Getting new product ideas).
- Gạn lọc ý tưởng sản phẩm (Screening product ideas).
- Phân tích kinh doanh (Business analysis).
- Phát triển sản phẩm (Developing the product).
- Thử sản phẩm (Testing the product).
- Thử nghiệm chương trình marketing (Marketing testing).
III.1.2– Bao bì hàng hóa xuất khẩu
Bao bì là yếu tố gắn liền với chất lượng sản phẩm có chức năng cơ bản sau:
- Bảo vệ, bảo quản sản phẩm trong các quá trình vận chuyển, lưu kho, lưu bãi không bò hư
hỏng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao nhận, buôn bán , phân phối, tiêu thụ, tiêu dùng.
- Là cơ sở để quảng cáo cho sản phẩm của nhà sản xuất, trình bày nổi bật công dụng của sản
phẩm, bảo đảm thông tin cho người tiêu dùng biết thành phần cấu tạo của một loại sản phẩm, vì

Đối với sản phẩm quốc tế, trong nhiều trường hợp phải chuyển đổi hoặc thay hẳn tên gọi,
nhãn hiệu của sản phẩm, để phù hợp với đặc điểm, tính chất của thò trường. Các tên gọi, nhãn
hiệu sản phẩm quốc tế đều phải được đăng ký.
Khi thiết lập nhãn hiệu hàng hóa, cần phải lưu ý một số nguyên tắc quốc tế sau :
- Không sử dụng những hình dáng, kiểu mẫu giống quốc huy, quốc kỳ của bất cứ một quốc gia
nào.
- Không trùng hay giống hệt một nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc sử dụng.
- Không sử dụng chân dung của bất kỳ một người nào khi chưa được sự đồng ý của họ. Nên
chọn những từ, biểu tượng,...dễ nhớ, tạo được ấn tượng tốt ngay khi người xem bắt gặp nên
nhãn hiệu cần phải có nét độc đáo riêng.
III.1.4 – Dòch vụ (Services) :
Dòch vụ gắn liền với sản phẩm. Nhất là các sản phẩm đòi hỏi những điều kiện trợ giúp cho
việc sử dụng được thuận lợi như: lắp ráp, bảo hành máy móc, sửa chữa, phụ tùng thay thế... thì
dòch vụ có tầm quan trọng đặc biệt, các dòch vụ về sản phẩm cần phải được tổ chức thực hiện
tốt.
Dòch vụ tốt thể hiện sự quan tâm của nhà sản xuất đối với khách hàng. Sự quan tâm này
càng lớn sẽ càng nâng cao uy tín của nhà sản xuất, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thò trường thế giới.
III.1.5 - Đóng gói hàng và ghi ký hiệu xuất khẩu :
Các loại hàng hóa xuất khẩu phải biết cần dùng loại bao bì gì và đóng gói như thế nào để
bảo đảm vận chuyển hàng hóa đến nơi an tòan. Ngừơi bán phải có bao bì và kỹ thuật đóng gói
hàng hóa để có thể thay đổi theo phương thức và thời gian vận chuyển. Theo qui đònh ở điều
35.1 và 35.2 của Công ước năm 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán quốc tế Hàng
hoá “..phải thích hợp với mục đích sử dụng mà người bán được thông báo một cách rõ ràng hoặc
đựơc thể hiện một cách ngụ ý …”. Nếu hàng hóa không được bảo vệ đúng mức dẫn đến hư hỏng,
mất mát, sử dụng... sẽ gây thiệt hại, tranh chấp không cần có giữa đôi bên, đặc biệt là uy tín
của người bán.
Việc sử dunïg bao bì đóng gói hàng hóa xuất khẩu còn phải thích hợp với yêu cầu, điều kiện
kỹ thuật cụ thể của mỗi nước, phải ghi ký mã hiệu, mục đích là để nhận dạng hàng gởi, hướng
dẫn cho người chuyên chở, khi bốc xếp, biết cách ứng xử đối với hàng hóa, nhằm tránh làm

cho những sản phẩm khác nhau.
Mục tiêu chính sách giá của Cty thường đáp ứng một số các yêu cầu sau :
• Thoả mãn lợi nhuận trên vốn đầu tư.
• Duy trì thò phần.
• Mở rộng thò phần tối đa.
• Tối đa hoá lợi nhuận.
• Đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trên thò trường.
• Giá cao hay giá thấp tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế .
• Đảm bảo doanh lợi trên vốn đầu tư cao nhất.
Khi muốn thay đổi giá cho sản phẩm của mình, doanh nghiệp phải xem xét phản ứng từ
khách hàng, từ các đối thủ cạnh tranh một cách cẩn thận, phản ứng có thể thay đổi từ chính
sách, hay từ một sự đánh giá mới mẻ của mỗi tình hình, phải tiên liệu những phản ứng có thể
xảy ra của những nhà cung cấp, nhà trung gian (đại lý, nhà phân phối), cuả Nhà nước...để có
chiến lược giá phù hợp.
Những nhân tố ảnh hưởng đến giá hàng xuất khẩu :
- Chi phí sản xuất và phân phối (Cost of product and distribution).
- Điều kiện thò trường (Market conditions).
- Thái độ khách hàng (Customer ).
- Điều kiện cạnh tranh (Competitive conditions).
- Thuế và Hải quan (Taxes and tariffs).
- Chi phí cho trung gian (Middlemen cost).
- Chi phí lãi ngân hàng và sự rủi ro (Financing and risk cost).
- Pháp lý và chính sách (Legal and political factors).
Các nhà xuất khẩu chú trọng trước tiên là phải thu được mức lãi thích hợp từ việc xuất khẩu,
mức lãi có thể là dài hạn hoặc ngắn hạn. Hiện nay, lãi ngắn hạn là một thực tiễn phổ biến để
doanh nghiệp giảm bớt những chi phí cố đònh cho việc sản xuất hàng hóa trong nước.

Nhiều doanh nghiệp đònh gía cho sản phẩm xuất khẩu bằng cách: căn cứ vào giá bán
nội đòa cộng các khỏan cước vận chuyển đến nơi, phí bảo hiểm, các chi phí về bao bì đóng gói
đặc biệt xuất khẩu (nếu có) và chi phí tài liệu xuất khẩu,…tuỳ chi phí cộng thêm vào gía bán nội

Do những điều kiện của mỗi thò trường khác nhau, mà vấn đề đònh giá bán tối đa cho
hàng xuất khẩu ở từng quốc gia có khác nhau.
III.2.1.3 - Điều kiện cạnh tranh (Competitive conditions):
Các chi phí về sản xuất và phân phối quyết đònh giá nền, điều kiện thò trường quyết
đònh mức giá tối đa và điều kiện cạnh tranh sẽ giúp xác đònh thực giá giữa giá của hai cực nói
trên. Một khi doanh nghiệp đònh giá xuất khẩu nhất thiết phải chú ý đến chiến lược giá của các
đối thủ cạnh tranh, gía bán sản phẩm cuả các đối thủ cạnh tranh và chiến lược của mình .
III.2.1.4 - Chi phí về tài chánh và sự rủi ro (Financing and risk cost):
Thời gian vận chuyển của hàng hóa xuất khẩu có thể chậm trể hay kéo dài do nhiều
nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, làm cho nhà xuất khẩu có thể bò đọng vốn trong thời
gian dài. Mặt khác, những cuộc khủng hoảng về tài chính, chính trò, kinh tế, hạn chế về ngọai
hối, sự cấm vận, lạm phát, tiền tệ mất giá, biến động của tỷ giá hối đoái… trở thành những rủi
ro về tài chính cho nhà xuất khẩu và có thể ảnh hưởng đến giá hàng.
III.2.1 5 - Những yếu tố Pháp luật và Chính trò , Thuế và Hải quan ( Legal and Political
factors , Taxes and Tariffs) :
Những yếu tố về luật pháp và chính trò nước ngoài có thể hạn chế sự tự do họat động
kinh doanh của các nhà xuất khẩu. Một số nước có thể không cấp quota nhập khẩu, khi họ cảm
thấy giá hàng nhập khẩu quá cao hoặc quá thấp sẽ làm tê liệt nền sản xuất trong nước. Đôi khi
các nước nhập khẩu vận dụng các tiêu chuẩn từ nguyên tắc chỉ đạo về giá để cấp hoặc tính cho
ngoại hối. Hầu hết các nước công nghiệp đều có luật chống bán phá giá và thuế bù trừ.
Khi hàng nhập khẩu được hưởng trợ cấp trong sản xuất hoặc vận chuyển, thường hay bò
đánh thuế bù trừ. Luật chống phá giá được áp dụng ở những quốc gia khi họ muốn bảo vệ một
số công nghệ, bảo vệ tổ chức, hay những ngành sản xuất trong nước có thể bò phá sản do những
biến động tạm thời về gía cả. Do vậy, pháp chế chống phá giá hàng là đặt ra một giá nền. Một
số nước có biện pháp bù lỗ hoặc trợ cấp cho xuất khẩu hay nhập khẩu như là một phương kế để
hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu chống lại luật bán phá giá. Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như một số
quốc gia khác phải tăng thêm thuế bù trừ mỗi khi có các khoản trợ cấp của chính phủ nước
ngoài để bảo vệ hàng nội đòa.
III.2.1.6- Chính sách của Công ty về Marketing – Mix :
Khi đònh giá cho sản phẩm xuất khẩu phải vận dụng những yếu tố khác của Marketing

theo phương pháp này chỉ tính được những yếu tố bên trong doanh nghiệp mà chưa tính đến các
yếu tố có thể do thò trường gây ra :
- Giá rất thấp so với gía thò trường, doanh nghiệp bỏ quên những lợi thế của mình, làm mất cơ
hội thu thêm lợi nhuận.
- Giá cao hơn so với gía thò trường, doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ được hàng.
III.2.2.2 – Đònh giá vò thò trường (Demand- Oriented Pricing) :
Là phương pháp cập nhật giá thò trường làm cơ sở để xác đònh giá cho sản phẩm của doanh
nghiệp theo đúng giá thò trường.
Việc đònh giá theo phương pháp này rất đơn giản, nhưng gía cả trên thò trừơng thế giới luôn
biến động nên không phải lúc nào cũng thực hiện tốt, vì trong kinh doanh xuất nhập khẩu, từ
khi ký hợp đồng cho đến lúc hợp đồng được thực hiện luôn có một khoảng cách về thời gian.
Nếu gía thò trường nội đòa và gía thò trường thế giới cùng thấp vào lúc ký hợp đồng, nhưng đến
thời điểm thực hiện hợp đồng gía tăng lên, hoặc giá nội đòa tăng, đều gây tổn thất cho doanh
nghiệp.
Hơn nữa, không phải lúc nào cũng được mua và bán với mức giá phổ biến trên thò trường.
Với doanh nghiệp không nằm trong các tổ chức, Hiệp hội, hay thiếu quan hệ thì trong kinh
doanh hay bò ép giá (mua với giá cao, bán với giá thấp). Như một số doanh nghiệp xuất khẩu
gạo của nước ta cũng nằm trong trường hợp thường ký hợp đồng bán gạo với giá thấp hơn giá
thò trường thế giới.
III.2.2.3 – Đònh giá thâm nhập thò trường (Market Penetration Pricing) :
Là đònh gía bán thấp hơn gía thành để đưa sản phẩm thâm nhập thò trường tức là để chiếm
được thò phần cao hay kích thích thò trường đó phát triển sản phẩm của mình. Để thành công từ
việc đònh giá thâm nhập thò trường, cần phải có những điều kiện sau :
- Doanh nghiệp phải có nguồn tài chính đủ mạnh để giảm giá, nếu không sẽ bò phá sản .
- Cầu co giãn theo gía hay thò trường phải nhạy bén với giá cả.
- Giá đơn vò cuả sản xuất và phân phối sẽ hạ thấp với sản lượng tích lũy.
- Giá cả thấp sẽ làm giảm sự cạnh tranh.
III.2.2.4- Đònh giá nhằm chắt lọc thò trường (Skimming the market Pricing) :
Việc đònh gía này thực chất là thu lợi nhuận cao trong một thời gian ngắn lúc đầu theo chiến
lược “Hớt váng sữa”. Nhà sản xuất tận dụng tình hình thực tế từ một số khách hàng trả giá

Gía chuyển nhượng là giá cao. Đây là một thủ thuật nhằm giảm đi lợi tức của doanh
nghiệp và thu lợi bằng cách trốn thuế cách hợp pháp. Thường được các Công ty mẹ - con có
vốn đầu tư nước ngoài sử dụng. họ phải tìm ra những khe hở từ các phương diện pháp lý của
từng quốc gia mà tiến hành một cách hợp pháp.
- Khi xuất hàng ra nước ngòai để kinh doanh, giá ghi trên các hóa đơn thấp hơn gía thực tế, như
vậy số tiền đóng thuế sẽ giảm.
- Khi chuyển tiền lợi nhuận ra nước ngoài, để giảm thuế chuyển tiền lợi nhuận, doanh nghiệp
nhập các lô hàng với giá trò rất thấp nhưng ghi hóa đơn giá cao, thì lợi nhuận còn lại thấp nên
tiền đóng thuế sẽ ít đi.
Thực hiện giá theo phương pháp này doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận đáng kể, đây
là cách làm thiếu minh bạch, không tồn tại lâu dài.
III.2.2.9 – Đònh giá tâm lý :
Đònh giá bán đánh vào tâm lý người tiêu dùng tạo cho họ cảm thấy là giá rẻ. Có các cách
làm như sau :
- Giá ghi luôn luôn là số lẻ : làm cho người mua có cảm nghó rằng đây là giá thấp nhất, họăc
đã được tính toán rất kỹ. Có thể có hai cách ghi số lẻ.
Ví dụ: Gía có thể bán là $15.00/KG trên bao bì có thể ghi:
* Ghi tăng : trên bao bì là $ 15.09/KG
* Ghi giảm : trên bao bì là $14.99/KG
- Giá có chiết khấu: mua số lượng lớn thường xuyên được hạ giá hoặc có thưởng.
- Hạ giá: các sản phẩm tồn kho lâu ngày không phù hợp với thời điểm tiêu thụ.
- Làm nửa giá: Ví dụ:200đ / 1/2 kg người mua có cảm tưởng như giá rẻù.
III.2.2.10 - Đònh giá biên tế (Marginal cost Pricing) :
Người ta đònh giá cho sản phẩm xuất khẩu bằng cách phân tích chi phí ra thành đònh phí và
biến phí, giá của sản phẩm nội đòa sẽ gánh chòu cả biến phí và tổng đònh phí, còn sản phẩm
xuất khẩu chỉ chòu phần biến phí.Với phương pháp này gía của sản phẩm xuất khẩu đựơc gọi là
Gía biên tế.
Chính từ cách phân tích trên mà sản phẩm xuất khẩu có giá thấp, để khả năng cạnh tranh
cao trên thò trường thế giới. Đònh gía theo phương pháp này được sử dụng phổ biến cho hàng


Nhiều doanh nghiệp thường phân tích thò trừơng theo 4 nội dung cơ bản của PEST và sử dụng
phương pháp phân tích SWOT .
Bước 3 : Dự báo sản lượng và doanh thu: Từ cơ sở phân tích thò trường, doanh nghiệp dự kiến
sản lượng tiêu thụ, dự đoán mức doanh thu mong muốn.
Bước 4 : Ước lượng các khoản phí - xác đònh giới hạn giá : Xác đònh mức dung sai cho giá bán
sản phẩm xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ mua bán. Đònh giá giới hạn dựa trên
cơ sở phân tích chi phí, phân tích thò trường và mức doanh thu muốn có.
Vì mục tiêu khối lượng bán ra, lợi nhuận hay thâm nhập
Bước 5 : Xác đònh mục tiêu giá :
thò trường,..mà doanh nghiệp xác đònh giá khác nhau. Phân tích chi phí giá bán và chào hàng
của đối thủ cạnh tranh để tránh giá cao quá hay thấp quá.
Bước 6 : Xác đònh cơ cấu giá : Lập bảng cơ cấu giá của cả sản phẩm xuất khẩu để đònh giá bán
cho khách hàng. Trong giá xuất khẩu, phải xác đònh rõ các nhân tố liên quan theo điều kiện
giao hàng, vì hàng được giao bao hàm trách nhiệm và chi phí (vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm,
phí lưu kho, thuế ,..).
Bước 7 : Ấn đònh giá xuất khẩu và báo giá cho khách hàng: Sau khi lập cơ cấu gía thành xuất
khẩu, doanh nghiệp xác đònh mức giá bán, ấn đònh gía xuất khẩu chọn giá bán cuối cùng và báo
gía chính thức cho khách hàng kèm theo điều kiện thương mại. Đây là quyết đònh đàm phán
thương thuyết với khách hàng. Đònh giá sản phẩm XK là một công việc phức tạp, đòi hỏi ngừơi

15


làm gía thực hiện các bước đònh giá một cách đầy đủ chính xác, kòp thời, hợp lý, để vừa đạt
đựơc mục đích của giá, vừa bảo đảm cạnh tranh có hiệu quả trên thò trường thế giới.
III.3 _ CHIẾN LƯC PHÂN PHỐI SẢN PHẨM QUỐC TẾ
(INTERNATIONAL DITRIBUTION STRATEGY) :
Mỗi doanh nghiệp đều có các điều kiện cơ bản và cần thiết để xây dựng chiến lược phân
phối. Kênh phân phối thay đổi nhiều theo hệ thống marketing quốc gia. Vì vậy, chiến lược phân
phối là một trong những yếu tố có nhiều rủi ro và khó quản lý thành công nhất trong một

Khoảng cách giữa nhà xuất khẩu và thò trừơng nhà nhập khẩu càng xa, thì càng gặp
nhiều trở ngại trong việc thu nhập và xử lý thông tin, mà trong kinh doanh các quyết đònh đòi
hỏi phải kòp thời và chính xác. Do đó, khỏang cách đòa lý làm ảnh hửơng đến quyết đònh chọn
lựa kênh phân phối.
III.3.2.3 - Khả năng của nhà xuất khẩu :
Với các nhân tố môi trường và khoảng cách đòa lý đều thuận lợi, nhưng khả năng tài
chính hạn hẹp, tổ chức nhân sự rừơm rà, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, khả
năng về cạnh tranh yếu kém, thì việc chọn lưa kênh phân phối sẽ gặp nhiều trở ngại. Vì vậy,
quyết đònh kênh phân phối phải dựa vào khả năng của nhà xuất khẩu về tài chính, nhân sự,
trình độ và cạnh tranh.
III.3.2.4 - Đặc điểm cụ thể của sản phẩm :
Tùy vào đặc điểm của sản phẩm hay còn gọi là tính thương phẩm của sản phẩm gắn liền
với đặc tính lý hóa, đời sống, điều kiện dự trữ, bảo qủan của sản phẩm, mà nhà xuất khẩu nên
chọn kênh phân phối cho thích hợp.

16


- Đối với sản phẩm dễ bò hư hỏng, cần được phân phối nhanh và điều kiện bảo quản tốt. Vì
vậy, nên chọn kênh phân phối ngắn hoặc trực tiếp.
- Đối với các sản phẩm có kỹ thuật cao, sử dụng kênh chuyên biệt kèm theo các dòch vụ sau
bán hàng, vì các sản phẩm này cần có sự hỗ trợ đắc lực của các chuyên viên kỹ thuật.
III.3.3- Các phương án phân phối :
III.3.3.1 - Phương án phân phối qua trung gian :
Các nhà xuất khẩu có qui mô nhỏ, kinh nghiệm còn hạn chế, chưa thông thạo về nghiệp
vụ xuất khẩu, chưa am hiểu nhiều về thò trường và không được phép xuất khẩu trực tiếp, nên sử
dụng phương án phân phối qua trung gian để xuất khẩu ít bò rủi ro; chi phí có cao, nhưng không
bằng phải tự đi tìm kiếm thò trường, rồi nghiên cứu thò trường cho đến khi bán đựơc hàng xuất
khẩu.
Các nhà sản xuất hàng xuất khẩu nên sử dụng các tổ chức sau đây :

một người hoặc một doanh nghiệp khác (Bên ủy nhiệm) thuê, để tạo mối quan hệ giữa chủ
hàng với bên thứ ba (Bên mua hàng). Khi doanh nghiệp xuất khẩu chọn đại lý như là cách thức
thâm nhập thò trường cần phải thảo luận, đàm phán và cụ thể hóa bằng hợp đồng đại lý.
*Ưu điểm:
- Đại lý ở thò trừơng nứơc ngòai là cách thức thâm nhập thò trường.
- Tận dụng kinh nghiệm của nhà kinh doanh đòa phương.

17


- Thu thập những kinh nghiệm về thò trường thế giới, nắm được tiềm năng cuả thò trường xuất
khẩu .
- Chi phí cho đại lý của doanh nghiệp xuất khẩu không đáng kể.
- Hiệu qủa tiêu thụ hàng hóa nhận thấy được ngay.
*Nhược điểm :
- Những khuyết điểm của nhà xuất khẩu về thời gian hoặc chất lượng hàng hóa đều có thể đưa
đến sự thiếu cam kết tương tự của đại lý.
- Đại lý thừơng kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau cùng một lúc từ nhiều nhà buôn khác
nhau, nên họ không thể chú tâm hết vào sản phẩm của một chủ hàng.
III.3.3.2.3 - Đại lý đặc quyền :
Đại lý được quyền kinh doanh như một chủ sở hữu, các quyền kinh doanh đựơc ghi
trong hợp đồng kinh tế đựơc bảo đảm bởi pháp luật giữa đại lý và bên chủ quyền như là những
đặc quyền, nhưng phải tuân theo một số phương pháp và điều kiện do bên chủ quyền ấn đònh.
Điểm quan trọng của hợp đồng là đại lý đựơc hửơng đặc quyền rộng hay hẹp. Những đặc quyền
có thể như:ø được dùng tên hiệu, sử dụng hệ thống tiếp thu của bên chủ quyền...Tuy nhiên đại lý
đặc quyền vẫn được coi là một doanh nghiệp độc lập.
* Ưu điểm :
- Nhà xuất khẩu kiểm soát việc phân phối sản phẩm trên thò trường nước ngoài.
- Ấn đònh những quy tắc, thiết lập đòa điểm, quảng cáo, trang trí điểm bán, quản trò thương mại.
nhằm bảo đảm hình ảnh sản phẩm, hình ảnh nhãn hiệu công ty.

- Những tài liệu quảng cáo không gây hiểu lầm hoặc những ý nghó phủ nhận.

18


Động cơ thúc đẩy việc mua sắm và điều kiện sử dụng giống nhau.
Nếu một hoặc nhiều điều kiện trên không được đáp ứng, nên thực hiện phương pháp quảng
cáo theo từng thò trường một.
* Thay đổi quảng cáo nội đòa để thích nghi với thò trường nước ngoài :
Một quảng cáo rất thành công với thò trường nước này có thể thất bại ở thò trường nước khác.
Nên quảng cáo phải phù hợp với những biến đổi và xu hướng văn hóa hiện tại. Áp dụng phương
pháp này cho nhưng sản phẩm có các yếu tố sau đây :
- Chu kỳ sống của sản phẩm ở từng nước khác nhau, như sản phẩm theo mùa...
- Các thò trừơng có sự khác nhau về môi trừơng, ngôn ngữ, trình độ giáo dục, văn hóa xã
hội,..ảnh hưởng đến suy nghó, nhận thức và trình độ tiếp nhận quảng cáo.
III.4.1.2 - Phương tiện và nội dung quảng cáo :
* Phương tiện quảng cáo :
Nên chọn các phương tiện thông tin đại chúng. Phương tiện được dùng cho quảng cáo như :
Báo chí, Tạp chí, Phim ảnh, Tivi, Radio, Internet, Website, quảng cáo qua nhân viên bán hàng,
cataloge, bích chương, bao bì mẫu mã,... quảng cáo qua niên giám điện thoại, sử dụng những
sản phẩm có mang biểu tượng và tên thương hiệu của đơn vò như : bút, gạt tàn, móc chìa khóa,
mũ, áo, túi xách, ly tách ...
* Nội dung quảng cáo :
- Mục đích nêu bật ngay được sự khác biệt giữa sản phẩm của mình với sản phẩm của nhà sản
xuất khác, nên nội dung phải dể hiểu, ngắn gọn, xác thực, luôn bám sát với mục tiêu đã đề ra.
Quảng cáo làm tăng khối lượng hàng bán ra, cách làm cho khách hàng biết đến sản phẩm của
công ty.
- Quảng cáo để khách hàng càng hiểu rõ chi tiết, sự hữu dụng của sản phẩm và làm tăng thêm
lòng ham muốn của khách hàng.
- Nội dung quảng cáo cần dựa trên các nguyên tắc sau :

Hội chợ thương mại quốc tế được tổ chức đònh kỳ hàng năm. Mục đích các bên tham gia
hội chợ là để ký hợp đồng xuất nhập khẩu, nghiên cứu thò trường, duy trì các mối quan hệ với
khách hàng.
Hội chợ thương mại thế giới có hai hình thưc chính: hội chợ chuyên ngành và hội chợ
tổng hợp.
Triển lãm có thể không đònh kỳ và có mục đích giới thiệu sản phẩm nhiều hơn và mục
tiêu đặt ra cũng không cao như hội chợ.
Tóm lược:
Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, hầu hết các doanh nghiệp đều áp dụng nguyên tắc , qui
trình và các kỹ thuật marketing . Chìa khoá để hoạt động marketing quốc tế thành công là sự
thích nghi đối với những khác biệt về môi trường trên các thò trường xuất khẩu khác nhau.
Marketing xuất khẩu là một công cụ quan trọng không thể thiếu đối với các nhà doanh nghiệp
xuất khẩu. Khi biết kết hợp một cách hài hoà và thích hợp các kỹ thuật chiến lược Marketing –
Mix trong kinh doanh hiện đại ngày nay , một cách đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung
và linh hoạt về phương thức. Doanh nghiệp sẽ ngày càng phát triển và không ngừng mở rộng
xuất khẩu trên thò trường thế giới .

20


PHẦN II
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT - KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
GẠO TRÊN THẾ GIỚI & CỦA VINAFOOD II
CHƯƠNG I
TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG GẠO TRÊN THẾ GIỚI
Gạo đựơc dùng làm thực phẩm chủ yếu cho trên một nửa dân số thế giới, và là thực phẩm
chính trong những bữa ăn hàng ngày của gần 4 tỉ người ở các quốc gia trên thế giới thuộc Châu
Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Trung Đông.…,nhưng Châu Á là nơi sản xuất trên
90% lựơng gạo trên thế giới.
• Về giống lúa : Trên thế giới có khoảng 7.000 giống lúa, riêng Ấn độ đã có đến 4.000

• Dân cư thành thò ở Madagasca ưa loại gạo xát kỹ và cả loại gạo lứt .
• Dân nông thôn ở Ghana, Iraq, Madagasca thích gạo hạt đỏ do nhiều cám.
• Philippines, n Độ, Guyana thích gạo hạt trong, nhưng gạo cũ được ưa chuộng hơn vì nở và
không nhão như gạo mùa mới.
• Thái Lan, Nhật, Hàn quốc, Đài Loan, Việt Nam thích gạo thơm. Miền Bắc và Đông Bắc
Thái Lan trồng nhiều gạo nếp. Ở Nhật, Malaysia, Thái Lan gạo nếp đựơc tiêu dùng thông
thường trong các bữa ăn đặc biệt, làm bánh. Ở Việt Nam gạo nếp được dùng nhiều vào

21


những dòp Tết, cưới hỏi để làm món xôi cổ truyền, món bánh chưng truyền thống và các
loại bánh khác.
Nói chung, người tiêu dùng gạo trên thế giới đều thích gạo có mùi thơm tự nhiên, không có
mùi đăïc biệt, gạo trắng được ưa chuộng hơn và người ta đều thích tỷ lệ tấm và hạt hư hỏng
trong gạo càng ít càng tốt; tuỳ theo mức giá và thu nhập của mình mà có sự lựa chọn khác
nhau, nên mỗi dân tộc có nhu cầu khác nhau:
• Châu Âu chỉ chuộng gạo 5% tấm, 10% tấm, 15% tấm trở lại.
• Nhật, Thái Lan, Costa Rica, Malaysia có thể chấp nhận gạo từ 5% - 20% tấm.
• Philippines, Cuba, Châu Phi thì lại có nhu cầu tiêu thụ gạo 25% - 45% tấm.
I. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG CÁC KHU VỰC :

Bắc Mỹ : Gạo không phải là thực phẩm chính hàng ngày, nhưng có sức mua cao và yêu
cầu chất lựơng tốt, vì đa số đựơc dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và Cộng đồng
người Châu Á sống ở Bắc Mỹ. Gạo được tiêu thụ với chủng loại rất đa dạng: gạo hạt tròn, gạo
hạt dài, gạo lức, gạo trắng, gạo Basmati, gạo thơm, và các lọai gạo đặc sản khác.Gạo bán lẽ
trong các siêu thò, đóng gói nho,û mẫu mã đẹp, hấp dẫn (0,5kg, 1kg, 2kg, 5kg, 10kg & 25kg). Thò
trừơng nầy quy đònh kiểm dòch thực vật rất khắt khe nhưng là thò trường tái xuất lý tưởng qua
các chương trình viện trợ lương thực. Có Hiệp đònh mậu dòch chung là NAFTA.


xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới như Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan,
Indonesia… nên mọi sự biến động về sản lượng, mức tiêu thụ, khả năng xuất khẩu của các nước
này đều ảnh hửơng đến giá gạo trên thế giới. Là thò trường có sức mua và thò hiếu tiêu dùng
khác nhau theo từng nứơc. Mọi sự thâm hụt trong Dự trữ lương thực Quốc Gia, đều có thể xảy
ra nạn đói cho cả nứơc, tạo ra bất ổn về chính trò, nên việc mua bán gạo thường được Chính
phủ quản lý.

Pakistan : Có loại gaọ thơm đặc biệt Basmati, là mặt hàng đặc trưng trên thế giới,
không có đối thủ cạnh tranh.

22


Trung Đông: Đây là thò trường khá đặc biệt, đầy tiềm năng và ổn đònh. Gạo là thực
phẩm chính yếu hàng ngày, nhu cầu nhập khẩu gạo thường xuyên, vì đất nứơc đầy những sa
mạc, nhưng đựơc thiên nhiên ưu đãi cho tài nguyên dầu hỏa. Một khu vực với nhiều xung đột,
chi phí quân sự nhiều hơn thực phẩm, Iraq bắt đầu nhập khẩu gạo mạnh sau chính sách đổi dầu
lấy lương thực cuả Liên Hợp Quốc, có một số nứơc trong vùng thừơng gặp khó khăn trong việc
chuyển đổi giữa đồng nội tệ và USD để thanh toán nhập hàng khẩu. Yêu cầu gạo chất lượng
cao, tiêu chuẩn kỹ thuật rất chặït chẽ đôi khi phi lý, Quy đònh kiểm dòch thực vật có lúc dựa theo
cảm tính, nhưng chấp nhận giá cao. Sức mua trong nước mạnh.

Châu Phi: Là thò trường rộng lớn, đông dân nhưng đất đai khô cằn, chiến tranh liên
miên, nạn đói thường xuyên xảy ra, chi phí quân sự cao hơn cho thực phẩm. Gạo là một trong
những thức ăn chính của dân chúng. Nhu cầu gạo lớn nhưng việc nhập khẩu gạo gặp khó khăn,
vì cán cân thanh toán yếu, chủ lực nhờ vào các chương trình viện trợ của Liên Hợp Quốc.
Trong kinh doanh thường qua trung gian hay đổi hàng. Tiêu thụ gạo chất lượng thấp từ 25 - 45%
tấm vì giá rẻ.
II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT GẠO TRÊN THẾ GIỚI:
II.1 - Tình hình sản xuất gạo thế giới năm 2001:

128.263
130.513
3. Indonesia
49.237
50.400
52.919
50.633
51.424
4. Việt Nam
28.930
30.467
31.435
31.542
31.818
5. Bangladesh
28.296
29.784
34.642
36.004
35.245
6. Thái Lan
23.500
23.650
25.000
25.500
25.500
7. Burma
15.345
16.000
17.000

Biểu đồ: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT GẠO TRÊN THẾ GIỚI(1.000MT)
(Nguồn bộ Thương mại 11/2001)
11/7/2001
1. Trung Quốc
2. India

187.91
128.263

3. Indonesia

50.633

4. Việt Nam

31.542

5. Bangladesh

36.004

6. Thái Lan
7. Burma

25.5
17

8. Japan

11.863


24


III. TÌNH HÌNH DỰ TRỮ TRÊN THẾ GIỚI
III.1 – Tình hình dự trữ trên thế giới năm 2001 :
Theo nguồn tin cuả USDA ngày 13/11/2001 : Dự trữ toàn cầu còn ở mức 137,197 triệu tấn,
giảm 05 triệu tấn so năm 2000, chủ yếu ở các nước :
- Trung Quốc : dự trữ 94,200 triệu tấn, giảm 4,300 triệu tấn so với năm 2000.
- Indonesia : dự trữ 3,800 triệu tấn, giảm 2,577 triệu tấn so với năm 2000.
- Ấn Độ
: dự trữ 18,866 triệu tấn, tăng 1,100 triệu tấn so với năm 2000.
Các nước khác theo thứ tự bảng kê sau:
BẢNG 2 : TÌNH HÌNH DỰ TRỮ GẠO TRÊN THẾ GIỚI (1000MT)
(Nguồn bộ Thương mại tháng 11/2001)
Tên nước
1998
1999
2000
11/7/2001
1. China
93.000
96.000
98.500
94.200
2. India
10.500
12.000
17.716
18.866

9. Philippines
7.800
8.000
8.400
8.750
10. Brazil
7.980
7.955
7.959
7.958
11. South Korea
5.110
5.021
4.986
5.000
12. United States
3.278
3.587
3.846
3.572

11/7/2002
86.600
19.866
36.308
24.025
17.100
9.450
9.300
10.000

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status