Phương hướng hoàn thiện mô hình tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại - du lịch có quy mô lớn trên địa bàn Tiền Giang - Pdf 66

LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

[\
ĐOÀN VĂN PHƯƠNG

Đề tài:

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN MÔ HÌNH
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI –
DU LỊCH CÓ QUI MÔ LỚN TRÊN ĐỊA BÀN
TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2005

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 1


LUẬN ÁN CAO HỌC

tán.

4.3. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, tổ chức công tác hạch
toán ban đầu, kế hoạch luân chuyển và xử lý chứng từ.18
4.4. Vân dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất phù hợp
với đặc điểm doanh nghiệp thương mại - du lòch........... 19
4.5. Lựa chọn hình thức kế toán ........................................................... 21
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
4.6. Tổ chức công tác kiểm tra kế toán ....................................................

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 2


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

4.7. Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán ................................... 22
...........................................................................................................................
4.8. Ứng dụng tin học trong công tác kế toán. ..................................... 23

Chương II THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI – DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TIỀN GIANG. ............... 25
1. Tổng quan ngành thương mại – du lòch Tiền Giang .....................................

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 3


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

Những năm gần đây, thực hiện chính sách kinh tế mở, nền kinh tế nước ta
đã có những chuyển biến cơ bản cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Hòa cùng với
việc ổn đònh về chính trò, mở rộng quan hệ ngoại giao, sự tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế, ngành thương mại – du lòch cũng có những chuyển biến
mạnh mẽ và đổi mới thực sự trong cách thức kinh doanh và phương thức quản
lý. Với vai trò là công cụ quản lý kinh tế, kế toán phải được đổi mới một cách
thực sự nhằm đáp ứng với yêu cầu của cơ chế quản lý trong giai đoạn mới hiện
nay, đó là sự đan xen lẫn nhau giữa hội nhập và cạnh tranh đang là xu hướng
diễn ra trên toàn thế giới.
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ
chức công tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và
kiểm tra các hoạt động kinh tế - tài chính trong doanh nghiệp nên công tác kế
toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả quản lý ở một doanh
nghiệp. Hơn thế nữa, nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu quản lý
khác nhau của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp nhưng có quyền lợi trực
tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có các cơ
quan chức năng của nhà nước ( cơ quan tài chính, thuế, ngân hàng...).
Trong điều kiện của nền kinh tế thò trường, khi mà các vấn đề cạnh tranh

_________________________________________________________________________

so sánh, ..... và một số phương pháp khoa học khác để phân tích các vấn đề,
khái quát hóa và tổng hợp để rút ra các kết luận cần thiết. Dựa vào việc khảo
sát thực tế về tổ chức công tác kế toán hiện nay ở các doanh nghòêp thương
mại - du lòch để thấy rõ những tồn tại và những mặt tích cực của nó . Trên cơ sở
đó đưa ra những phương hướng hoàn thiện phù hợp và có khả năng thực hiện
được.
3/ Phạm vi của đề tài: chỉ giới hạn trong nghiên cứu hoàn thiện một số vấn
đề về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại – du lòch thuộc
sở hữu nhà nước, các Công ty cổ phần có qui mô lớn trên đòa bàn Tiền Giang.
Vì tổ chức công tác kế toán là việc làm tương đối phức tạp, đa dạng và phong
phú , do đó để có thể nghiên cứu trọng điểm đề tài chỉ giới hạn ở các vấn đề
chủ yếu.
4/ Những đóng góp của đề tài:
Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích nhiều vấn đề thuộc về lý luận và
thực tiễn, đã có những đóng góp sau đây :
- Luận văn đã làm sáng tỏ khái niệm cũng như những đặc điểm chủ
yếu của doanh nghiệp thương mại- du lòch trong cơ chế thò trường đònh hướng xã
hội chủ nghóa. Đây là vấn đề có ý nghóa thực tiễn to lớn. Thông qua đó luận văn
đã phân tích những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán ở các doanh
nghiệp thương mại – du lòch trong điều kiện thực hiện cơ chế quản lý mới.
- Luận văn đã giải quyết một cách có cơ sở khoa học các mối quan hệ
khách quan giữa việc tổ chức hợp lý và khoa học công tác kế toán với cơ chế
quản lý mới. Hệ thống hóa và phân tích vai trò của kế toán đối với công tác
quản lý hiện nay và chỉ ra rằng cần phải tổ chức hợp lý và khoa học công tác
kế toán.
- Luận văn góp phần hoàn thiện công tác luân chuyển chứng từ, công
tác hạch toán ban đầu, công tác ghi sổ và lập báo cáo kế toán.
- Luận văn góp phần hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát hệ thống

có tài khoản riêng mở tại các ngân hàng, có trách nhiệm sử dụng vốn có hiệu
quả, bảo toàn vốn và thực hiện nghóa vụ với ngân sách nhà nước theo luật
đònh. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế mới, cơ chế thò trường có sự điều
tiết vó mô của Nhà nước, hoạt động thương mại – du lòch có ý nghóa quan trọng.
Ý nghóa đó thể hiện trên nhiều góc độ khác nhau về kinh tế, chính trò, xã hội ...
Về mặt kinh tế , hoạt động thương mại – du lòch có ý nghóa cụ thể sau đây :
Về thương mại: Trong quá trình tái sản xuất xã hội , thương mại là cầu nối
giữa sản xuất và tiêu dùng, bảo đảm cho quá trình tái sản xuất diễn ra một cách
bình thường và liên tục, bảo đảm cho tiêu dùng ngày một phát triển cả về hiệu
quả và chất lượng, qua đó quyết đònh tính chất và trình độ phát triển của một
nền kinh tế.
Thông qua thương mại mà sản xuất tạo ra các sản phẩm theo yêu cầu của
thò trường cả về số lượng, chất lượng, mẫu mã ... đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và
xuất khẩu. Như vậy, chỉ có thông qua thương mại thì sản xuất mới có thể đổi
mới cơ cấu sản xuất, mở rộng qui mô, cải tiến công nghệ.... tạo ra các sản
phẩm mới, ngày càng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và trên cơ sở đó các cơ sở
sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng hoạt động, mở rộng qui mô phát triển.
Sản phẩm sản xuất ra , thông qua thương mại , sản phẩm được tiêu thụ,
tức là làm cho các nhu cầu tiêu dùng được đáp ứng. Thông qua tiêu dùng,
thương mại phát hiện ra các nhu cầu tiêu dùng mới cũng như sự thay đổi của cơ
cấu tiêu dùng, qua đó thương mại phản ánh lại với sản xuất, tác động đến sản
xuất để sản xuất thay đổi , đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và từ đó làm cho các nhu
cầu tiêu dùng được thỏa mãn và phát triển.
Thương mại có vai trò hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý . Trên cơ sở
các qui luật về giá trò, qui luật về cung cầu, qui luật cạnh tranh,... thương mại
cung cấp thông tin, hướng dẫn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất cho
ai, tiêu thụ ở đâu, cung ứng như thế nào, thời gian nào... ; nên sản xuất với mức
chi phí như thế nào để phù hợp nhu cầu của tiêu dùng có khả năng thanh toán;
tránh và hạn chế việc sản xuất hoặc cung ứng kém hiệu quả, không phù hợp
với nhu cầu tiêu dùng, gây lãng phí các nguồn lực của cải vật chất xã hội.

Đối với sản xuất hàng hóa , thương mại thúc đẩy quá trình lưu thông và tiêu
thụ hàng hóa cả trong và ngoài nước, từ đó kích thích và thu hút đầu tư để mở
rộng, phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều của cải, vật chất cho xã hội.
Đối với hoạt động dòch vụ, thương mại thúc đẩy quá trình mở rộng và phát
triển các loại hình dòch vụ : thương mại, du lòch, lao động, bảo hiểm , dòch vụ
ngân hàng, bưu chính viễn thông,......
Trên cơ sở đó , thương mại góp phần thuận lợi hóa các hoạt động kinh tế
xã hội , đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn thu từ xuất
khẩu dòch vụ.
Đối với Tiền Giang, thương mại đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh
tế của tỉnh, thương mại là chiếc cầu nối trong việc tiêu thụ hàng hóa nông sản,
thủy sản và các hàng hóa phục vụ sản xuất, chế biến. Với vò trí thuận lợi là
trung tâm thương mại của đòa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long, được coi
là đầu mối giao lưu thương mại giữa thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền
Tây Nam bộ. Tốc độ phát triển thương mại bình quân hàng năm là 9,4%, tổng
mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 2004: 7.700 tỷ đồng , tăng trưởng bình quân
13,1% năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10%/ năm, kim ngạch nhập
khẩu tăng 15%/năm, tỷ trọng thương mại trong cơ cấu GDP từ 28% lên 32%
trong giai đoạn 2005 – 2010.
Về du lòch : Ngày nay du lòch không chỉ là ngành kinh tế mang lại hiệu quả
kinh tế cao, mà còn là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành
trong nền kinh tế, tạo ra tích lũy ban đầu cho nền kinh tế, là phương tiện quan

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 7


LUẬN ÁN CAO HỌC

du lòch quốc tế đến Tiền Giang trong giai đoạn 2001- 2005 là 15,08%, tốc độ
phát triển khách nội đòa là 9,42% . Tại nghò quyết của ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh khoá VIII xác đònh là “ Thúc đẩy phát triển du lòch tương xứng với tiềm năng
của tỉnh…. Và tạo điều kiện cho ngành du lòch trở thành một ngành kinh tế quan
trọng“
2/. Cơ chế kinh doanh hiện nay và mối quan hệ của nó với vấn đề tổ
chức công tác kế toán.
2.1/ Đặc trưng cơ bản của cơ chế kinh doanh hiện nay .
- Nền kinh tế nước ta đã và đang là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, tương ứng với các thành phần kinh tế đó là chế độ sở hữu khác nhau
được hoạt động bình đẳng và đan xen nhau, được phép cạnh tranh thu lợi nhuận
tối đa trong khuôn khổ của pháp luật. Điều đó tạo ra động lực mạnh mẽ trong
các doanh nghiệp thương mại – du lòch để vươn ra chiếm lónh thò phần; đồng thời
các doanh nghiệp cũng không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý kinh doanh
nhằm đứng vững trên thương trường và đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 8


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

- Nền kinh tế hoạt động tuân theo một hệ thống qui luật kinh tế khách
quan của nền sản xuất hàng hoá. Trong đó , qui luật giá trò, qui luật cung cầu là

a/. Cơ chế mới – cơ chế thò trường thay đổi sẽ làm hàng loạt các chính
sách kinh tế, tài chính thay đổi. Trong đó có cả sự thay đổi về cách thức kinh
doanh, phương pháp quản lý. Điều này đòi hỏi tất yếu phải thay đổi cơ chế
quản lý, mà nội dung cốt lõi là vấn đề tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp
lý, phù hợp với chế độ kế toán và đặc điểm kinh doanh cụ thể của từng doanh
nghiệp.
b/. Trong vấn đề tổ chức công tác kế toán, các doanh nghiệp được
chủ động lựa chọn các hình thức kế toán, các mô hình tổ chức bộ máy kế toán
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 9


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

và các tài khoản kế toán chi tiết hoặc sổ kế toán chi tiết nhằm đáp ứng nhu cầu
quản lý của doanh nghiệp, trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, tuân thủ
các chế độ và các qui đònh của luật kế toán hiện hành.
Tổ chức công tác quản lý thông qua việc sử dụng kế toán làm công
cụ, đòi hỏi phải căn cứ vào yêu cầu quản lý và đặc điểm cụ thể của từng doanh
nghiệp để tổ chức bộ máy kế toán và hình thức kế toán phù hợp. Các tài khoản
hoặc sổ chi tiết kế toán cần mở để theo dõi một cách chi tiết từng đối tượng
theo yêu cầu quản lý. Việc sử dụng các sổ chi tiết để theo dõi chi tiết các đối
tượng có liên quan chặt chẽ đến vấn đề quản lý các đối tượng đó. Chỉ có thể
quản lý tốt khi kế toán theo dõi được tình hình hiện có và sự vận động của các

Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 10


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

không ngừng về nội dung phương pháp ... để đáp ứng được yêu cầu quản lý
ngày càng cao của nền sản xuất xã hội.
Hiện nay, có nhiều đònh nghóa, nhận thức về kế toán ở những phạm
vi, góc độ khác nhau.
Giáo sư , tiến só Robert Anthony – một nhà nghiên cứu lý luận kinh
tế nổi tiếng của trường Đại học Harward của Mỹ cho rằng “Kế toán là ngôn ngữ
kinh doanh”.
Giáo sư , tiến só Grence Allen Gohlke của viện đại học Wisconsin
đònh nghóa : “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi nhận, phân loại,
tóm tắt và giải thích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp cho Ban
Giám đốc có thể căn cứ vào đó để ra các quyết đònh kinh tế”.
Trong tài liệu “Nguyên lý kế toán Mỹ” , Ronanld J. Thacker nêu
quan điểm của mình về kế toán xuất phát từ việc cung cấp thông tin cho công
tác quản lý. Theo Ronanld J . Thacker thì “Kế toán là một phương pháp cung
cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của
mọi tổ chức “.
Các tổ chức kế toán kiểm toán quốc tế cũng nêu ra những khái
niệm về kế toán như sau:
Theo Ủy ban thực hành Kiểm toán Quốc tế (International Auditing

_________________________________________________________________________

Các khái niệm về kế toán nêu trên , cho ta thấy được những nhận
thức, quan niệm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn
kế toán với việc phục vụ cho công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ
không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa
học thu nhận , xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động
của tài sản, các hoạt động kinh tế , tài chính trong đơn vò, nhằm kiểm tra, giám
sát toàn bộ hoạt động kinh tế , tài chính của đơn vò.
Kế toán có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, giúp
cho chúng ta nhận thức được nội dung, mục đích, phạm vi ... của từng loại kế
toán.
Căn cứ vào phương pháp ghi chép , phản ảnh trên các tài khoản kế
toán , thì kế toán chia thành :
- Kế toán đơn : Là việc ghi chép phản ảnh trên các tài khoản kế
toán riêng biệt , không có quan hệ đối ứng với các tài khoản khác.
- Kế toán kép : Là việc ghi chép , phản ánh các nghiệp vụ kinh tế,
tài chính vào các tài khoản kế toán theo mối quan hệ khách quan giữa các đối
tượng kế toán và đúng mối quan hệ đối ứng giữa các tài khoản kế toán.
Căn cứ vào mức độ , tính chất thông tin phản ánh , kế toán được
chia thành:
- Kế toán tổng hợp : Là việc ghi chép phản ánh một cách tổng quát
trên các tài khoản, sổ kế toán và các báo cáo tài chính theo chỉ tiêu giá trò.
- Kế toán chi tiết : Là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết, cụ
thể các đối tượng, các nghiệp vụ cần phải quản lý, theo dõi cụ thể chi tiết và có
thể sử dụng các loại thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trò tùy
theo yêu cầu quản lý .
Căn cứ nội dung , phạm vi tính chất, mục đích cung cấp thông tin
đáp ứng nhu cầu sử dụng của các đối tượng kế toán chia thành:
- Kế toán tài chính: là việc ghi chép, phản ánh xử lý tổng hợp số

cứu những thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán để tìm ra những câu trả
lời cho những câu hỏi khác nhau:
- Năng lực sản xuất của đơn vò như thế nào ?
- Đơn vò SXKD có lãi hay không ?
- Tình hình công nợ và khả năng thanh toán công nợ ?
- Hàng hoá tồn kho nhiều hay ít ?
- Quy mô sản xuất nên thu hẹp hay mở rộng ?
- Có nên chuyển hướng kinh doanh hay không ?
- Có thể tăng giá trò sản phẩm hay sản xuất giới thiệu sản phẩm
mới hay không ..?
Như vậy , thông qua các thông tin trên báo cáo kế toán cung cấp,
các nhà quản lý doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng các loại tài sản, lao
động vật tư tiền vốn, tình hình chi phí và kết quả hoạt động SXKD .. . nhằm
phục vụ cho việc điều hành, quản lý kòp thời cũng như việc phân tích, đánh giá
tình hình, kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp từ đó đề ra các biện pháp,
quyết đònh phù hợp cho phương hướng phát triển của doanh nghiệp.
Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán
cung cấp là các chủ đầu tư, chủ nợ, các cổ đông, những đối tác liên doanh. Căn
cứ vào những thông tin kế toán của doanh nghiệp họ có thể ra được các quyết
đònh đầu tư, cho vay, góp vốn nhiều hay ít, đầu tư cho lónh vực ngành nghề nào,
chính sách đầu tư ra sao....
Những đối tượng có lợi ích gián tiếp tới thông tin kế toán, đó là các
cơ quan quản lý chức năng như : Thuế, Tài chính, Thống kê, Chính phủ ...Các
cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước dựa vào thông tin do kế toán cung
cấp để kiểm tra, giám sát các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, để kiểm tra

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 13

- Cung cấp thông tin , số liệu kế toán theo quy đònh của pháp luật.
3.3/ Những căn cứ để tổ chức công tác kế toán một cách khoa học
và hợp lý.
+ Tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý là tiền đề cần thiết để
kế toán thực hiện tốt vai trò của mình và thực sự trở thành công cụ sắc bén
trong quản lý kinh tế. Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận
kế toán trong phòng kế toán cũng như xác đònh các mối quan hệ hữu cơ giữa
các bộ phận kế toán là điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý. Muốn vậy cần phải
lựa chọn được bộ máy kế toán phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh và
trình độ của nhân viên kế toán.
+ Tổ chức vận dụng các phương tiện tính toán hiện đại vào công tác
kế toán, nhằm thu nhận được các thông tin kinh tế tài chính một cách chính xác
và xử lý kòp thời thông tin đó, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin cho lãnh đạo
doanh nghiệp để kòp thời có những phương án kinh doanh tối ưu, tăng năng suất
lao động và giảm nhẹ cường độ của nhân viên kế toán.

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 14


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của tin học , tin
học thực sự trở thành lực lượng sản xuất tham gia trực tiếp vào quá trình sản

quản lý mới.
Cơ chế quản lý hành chính, tập trung bao cấp gắn liền với nền kế toán
kế hoạch hoá tập trung. Nền kinh tế thò trường đòi hỏi phải có sự thay thế, đổi
mới hàng loạt công cụ quản lý và phải có cơ chế quản lý thích hợp, đó là cơ chế
thò trường. Mặc dù nền kinh tế của nước ta được vận hành, quản lý theo một cơ
chế đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện dần, đạt tới sự hoàn chỉnh cho

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 15


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

phù hợp với nền kinh tế thò trường, song vẫn thấy được những nét cơ bản của cơ
chế quản lý mới khác hẳn với cơ chế tập trung, bao cấp, đó là :
- Thay kiểu quản lý theo mệnh lệnh, chủ quan, duy ý chí bằng cơ chế
thò trường, thực hiện việc quản lý bằng các quy luật khách quan vốn có của nền
kinh tế sản xuất hàng hoá, coi trọng tư duy thực tế. Hoạt động SXKD của doanh
nghiệp được quản lý bằng bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình.
- Cơ chế thò trường tạo nên sự chủ động thực sự của các doanh
nghiệp. Doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc xây dựng phương án sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phải tự trang trải, bù đắp chi phí, chòu rủi
ro, chòu trách nhiệm về kết quả hoạt động SXKD của mình. Cơ chế quản lý tập
trung, bao cấp cũng đã từng đề cao nguyên tắc hạch toán kinh doanh, song chỉ

Trang 16


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

- Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ , tiết
kiệm và hiệu quả.
Những nguyên tắc trên phải được thực hiện một cách đồng bộ mới có
thể tổ chức thực hiện tốt và đầy đủ các nội dung tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp.
Thực chất của việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
là việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phương pháp khoa học
của kế toán, phù hợp với chính sách chế độ quản lý kinh tế quy đònh, phù hợp
với đặc điểm tình hình cụ thể của doanh nghiệp để phát huy chức năng, vai trò
quan trọng của kế toán trong quản lý vó mô và vi mô nền kinh tế.
Những nội dung cơ bản của việc tổ chức công tác kế toán trong doanh
nghiệp bao gồm:
- Tổ chức bộ máy kế toán;
- Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp;
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán;
- Tổ chức kiểm tra kế toán;
- Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán;
- Tổ chức trang bò, ứng dụng các phương tiện kỹ thuật xử lý thông tin.
4.2/ Lựa chọn hình thức tổ chức kế toán và xây dựng mô hình bộ
máy kế toán.

viên hạch toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận kiểm tra và xử lý
chứng từ, gửi các chứng từ về phòng kế toán theo đònh kỳ để phòng kế toán
kiểm tra và ghi sổ.
Tổ chức hình thức kế toán theo kiểu tập trung có ưu điểm là mọi
công việc của kế toán đều được tập trung giải quyết ở phòng kế toán công ty,
nên đảm bảo được sự thống nhất , tập trung trong việc chỉ đạo công tác kế
toán. Mặt khác có điều kiện thuận lợi hơn trong việc ứng dụng tin học trong
công tác kế toán, đồng thời bộ máy gọn nhẹ, ít cồng kềnh; cung cấp thông tin
một cách kòp thời và đầy đủ phục vụ cho phân tích các hoạt động kinh tế và ra
quyết đònh kòp thời các phương án kinh doanh.
Tuy nhiên , mô hình này còn bộc lộ một số nhược điểm sau : không
cung cấp kòp thời các thông tin cần thiết ở từng đơn vò phụ thuộc, không tạo điều
kiện cho việc chỉ đạo trực tiếp về công tác kế toán ở các đơn vò phụ thuộc, nên
việc chỉ đạo công tác kế toán, công tác quản lý ở đơn vò cấp dưới không được
sát sao.

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẬP TRUNG
Kế toán trưởng
(Trưởng phòng kế toán)
Bộ phận kế toán vốn
bằng tiền, thanh toán và
tiền vay

Bộ phận kế toán tiền
lương, BHXH và các quỹ

Bộ phận kế toán hàng
hóa và tiêu thụ

Bộ phận kế toán

báo cáo đã được phân cấp về phòng kế toán để tổng hợp và lập báo cáo tài
chính chung cho toàn doanh nghiệp.
Hình thức tổ chức kế toán này có ưu điểm là công tác kế toán được
chỉ đạo sát sao, thu thập và xử lý thông tin kòp thời ngay ở đơn vò phụ thuộc.
Song hình thức này có nhược điểm là bộ máy cồng kềnh, cần nhiều nhân viên
kế toán có trình độ cao.

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN PHÂN TÁN

Kế toán trưởng

Bộ phận kế toán
văn phòng

Bộ phận
tổng hợp

Bộ phận
tài chính

Trưởng phòng kế toán
Bộ phận phụ thuộc

Bộ phận
kế toán
vật tư
TSCĐ

Bộ phận
kế toán

chi phí
.........

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 19

Bộ phận
kế toán
........


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

Theo hình thức tổ chức kế toán phân tán bộ máy kế toán của
doanh nghiệp bao gồm các bộ phận dưới đây :
+ Kế toán trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo chung về công tác kế toán,
công tác tài chính, công tác thống kê.
+ Bộ phận kế toán văn phòng công ty bao gồm kế toán tổng hợp
và kế toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở văn phòng công ty.
+ Bộ phận kế toán tổng hợp có nhiệm vụ tổng hợp số liệu, tài liệu
từ các đơn vò phụ thuộc gửi đến để lập báo cáo tài chính chung toàn công ty.
Đồng thời hạch toán các chứng từ kế toán từ các đơn vò phụ thuộc không có tổ
chức kế toán riêng gửi đến.
+ Bộ phận kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra tình hình chấp hành các


Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ

_________________________________________________________________________

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN VỪA TẬP TRUNG VỪA
PHÂN TÁN

Kế toán trưởng
(Trưởng phòng kế toán) đơn vò

Bộ phận
tài chính

Bộ phận kiểm
tra kế toán

Bộ phận kế toán
tổng hơp

Các nhân viên kinh tế
ở các bộ phận
phụ thuộc

Bộ phận kế toán
vật tư TSCĐ

Bộ phận kế toán
tiền lương


Đặc trưng cơ bản của kế toán khác với các loại hạch toán khác ở
nhiều vấn đề. Song, chủ yếu là ở chỗ giá trò pháp lý của số liệu mà kế toán ghi
nhận và cung cấp. Không có chứng từ kế toán thì không thể nói đến ghi chép kế
toán.
Nói cách khác là cơ sở pháp lý để ghi sổ kế toán là các chứng từ kế
toán hợp lý, hợp pháp.
Chứng từ kế toán hợp lý, hợp pháp là những chứng từ phản ánh đầy
đủ các yếu tố đã được quy đònh như ngày và số chứng từ, tên đòa chỉ người có
quan hệ đến chứng từ, nội dung cơ bản của nghòêp vụ kinh tế , các đơn vò tính
toán và chữ ký của người có liên quan, có trách nhiệm. Những khoản tiền ghi
trong chứng từ phải hợp lý với nội dung nghiệp vụ.
Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán. Tổ
chức hệ thống chứng từ kế toán hợp lý, khoa học và phù hợp với tình hình
SXKD của ngành và của doanh nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng
và là khâu mở đầu cho công tác kế toán. Do vậy , kế toán ở doanh nghiệp cần
phải căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế mà
soát xét nội dung của chứng từ nhằm giảm bớt các yếu tố không cần thiết. Mặt
khác, phải tiêu chuẩn hóa chứng từ nhằm đảm bảo sự thống nhất của hạch toán
kế toán và nâng cao hiệu suất công tác kế toán, đảm bảo tính pháp lý của việc
ghi chép kế toán.
Dựa vào nội dung cụ thể của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để có
những qui đònh cụ thể cho việc lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán được lập
ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành tại một đòa điểm và
thời gian nhất đònh nào đó. Sau khi lập xong, chứng từ kế toán được chuyển đến
nhân viên kế toán để kiểm tra, xử lý và hoàn thiện. Sau đó là quá trình hạch
toán và ghi sổ kế toán. Việc kiểm tra chứng từ được thực hiện bằng việc kiểm
tra các yếu tố của chứng từ, kiểm tra tính chính xác của số liệu ghi chép trong
chứng từ, nhằm đảm bảo tính pháp lý của nó khi ghi sổ kế toán. Sau khi chứng
từ kế toán được kiểm tra là việc hoàn thiện chứng từ như ghi giá tiền theo

về tổ chức bộ máy kế toán ở đơn vò để xác đònh. Trong chu trình luân chuyển
chứng từ cần có qui đònh rõ ràng các khâu vận động của chứng từ kế toán như
việc lập, kiểm tra, hoàn chỉnh , sử dụng và lưu trữ chứng từ. Kế hoạch luân
chuyển chứng từ có thể nhiều loại tùy thuộc vào nội dung cụ thể của nghiệp vụ
kinh tế đã phản ánh trong chứng từ. Ví dụ : phiếu xuất kho được bộ phận nghiệp
vụ (phòng nghiệp vụ) của đơn vò lập. Phiếu xuất kho được chuyển đến thủ kho
để xuất hàng. Sau khi hàng hoá đã xuất kho , chứng từ được chuyển đến phòng
kế toán kiểm tra, ghi sổ và lưu trữ.
4.4/ Vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất phù hợp với
đặc điểm doanh nghiệp thương mại - du lòch .
Hệ thống tài khoản kế toán là bộ phận cấu thành quan trọng nhất
trong toàn bộ hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp. Bắt đầu từ 01/01/1996 tất
cả các doanh nghiệp thuộc mọi lónh vực , mọi thành phần kinh tế đều phải được
thực hiện áp dụng thống nhất hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp ban
hành theo quyết đònh 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Trưởng Bộ
Tài chính, cùng với các văn bản quy đònh bổ sung, sửa đổi.
Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện hành , bao gồm các tài
khoản được chia làm 9 loại trong bảng cân đối kế toán và 1 loại tài khoản ngoài
bảng cân đối kế toán.
- Các tài khoản loại 1, 2, 3, 4 là các tài khoản luôn luôn có số dư (dư
nợ hoặc dư có ) còn gọi là tài khoản thực, các tài khoản loại 5, 6, 7, 8, 9 không
có số dư , còn gọi là tài khoản tạm thời. Các tài khoản ngoài bảng ( loại 0 ) cũng
luôn luôn có số dư nợ.
Hệ thống Tài khoản kế toán doanh nghiệp được ban hành theo quyết
đònh 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 đến nay đã được sửa đổi , bổ sung bởi
nhiều thông tư như thông tư số 10/TC/CĐKT ngày 20/3/1997, thông tư số
60/TC/CĐKT ngày 01/9/1997, thông tư 100/1998/TC- BTC ngày 15/7/1998 và
Quyết đònh 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 , thông tư 89/2002/TT-BTC
ngày 9/10/2002 và thông tư 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 của Bộ Tài


bản hướng dẫn thực hiện của Bộ chủ quản, cơ quan quản lý cấp trên.
- Phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh, trình
độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
- Đảm bảo mối quan hệ với các chỉ tiêu báo cáo tài chính.
- Đáp ứng yêu cầu xử lý thông tin trên máy vi tính và thỏa mãn nhu
cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng.
Tổ chức lựa chọn, vận dụng hình thức kế toán phù hợp
Hình thức kế toán là hệ thống kế toán sử dụng để ghi chép, hệ thống
hóa và tổng hợp số liệu từ chứng từ gốc theo một trình tự và phương pháp ghi
chép nhất đònh . Như vậy, hình thức kế toán thực chất là hình thức tổ chức hệ
thống sổ kế toán bao gồm số lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng
hợp, kết cấu sổ, mối quan hệ kiểm tra, đối chiếu giữa các sổ kế toán, trình tự và
phương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu để lập báo cáo kế toán.
Doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán, chế độ, thể
lệ kế toán của nhà nước, căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động SXKD, yêu
cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán cũng như điều kiện trang bò
phương tiện, kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin mà lựa chọn vận dụng hình thức
kế toán và tổ chức hệ thống sổ kế toán. Nhằm cung cấp thông tin kòp thời, đầy
đủ, chính xác và nâng cao hiệu quả công tác kế toán.

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 24


LUẬN ÁN CAO HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ


dụng thích hợp. Do vậy, tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm của doanh nghiệp và
trình độ của nhân viên kế toán mà áp dụng hình thức kế toán thích hợp, nhằm
phát huy tốt nhất vai trò chức năng kế toán trong công tác quản lý.
4.6/ Tổ chức công tác kiểm tra kế toán
Để đảm bảo cho công tác kế toán trong các doanh nghiệp thực hiện
tốt các yêu cầu, nhiệm vụ và chức năng của mình trong công tác quản lý, nhằm
cung cấp cho các đối tượng sử dụng khác nhau những thông tin kế toán tài
chính của doanh nghiệp một cách trung thực, minh bạch, công khai và chấp
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status