BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN QUỐC ĐỊNH
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG
KINH DOANH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN QUỐC ĐỊNH
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG
KINH DOANH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐINH CÔNG KHẢI
cảm hứng nghiên cứu và học tập cho tôi. Cảm ơn tập thể anh chị nhân viên trong Trường
đã hỗ trợ tôi trong suốt 2 năm học vừa qua. Mọi người là một phần không thể thiếu trong
ký ức của tôi về ngôi trường này.
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ và Trung
tâm Tư vấn Phát triển nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể
dành thời gian học tập trung 2 năm ở Chương trình này. Cảm ơn anh Tam Giang đã cung
cấp cho tôi nhiều tài liệu hay và cho tôi nhiều lời khuyên bổ ích. Cảm ơn các bạn MPP8 vì
đã làm giàu thêm những kỷ niệm cuộc sống trong tôi.
Và trên hết, tôi muốn nói lời cảm ơn tới Bố Mẹ và Gia đình của tôi. Tôi tự hào vì được là
một thành viên trong Gia đình này.
iii
TÓM TẮT
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam là động lực quan trọng để phát triển kinh tế Việt Nam,
góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam
đang giảm quy mô lao động, hệ quả của tốc độ tăng trưởng lao động thấp hơn tốc độ tăng
doanh nghiệp. Chính vì vậy mà cần tìm ra các nguyên nhân và giải pháp từ môi trường
kinh doanh để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, là cơ sở quan trọng để Việt Nam
hưởng lợi khi tham gia vào các hiệp định thương mại quốc tế.
Sử dụng dữ liệu Khảo sát doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới trong 2 năm 2009 và 2015
và ứng dụng mô hình các yếu tố tác động ngẫu nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố Tiếp
cận tín dụng, Chi phí không chính thức, Thời gian xử lý các quy định của Chính phủ và Số
lần doanh nghiệp tiếp xúc với thanh tra thuế có ý nghĩa thống kê tới tốc độ tăng trưởng lao
động của doanh nghiệp trong giai đoạn 2009-2015, là tiêu chí để đo lường sự phát triển của
doanh nghiệp Việt Nam.
Tham nhũng là nguyên nhân chính tạo nên chi phí không chính thức, làm ảnh hưởng tiêu
cực tới tốc độ tăng trưởng lao động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Tham nhũng
đang làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam kém hấp dẫn so với các nước ASEAN.
TÓM TẮT ........................................................................................................................ iii
MỤC LỤC ........................................................................................................................ v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................................... vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ................................................................................................. viii
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................................... viii
DANH MỤC HỘP ......................................................................................................... viii
Chương 1: GIỚI THIỆU.................................................................................................... 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu ................................................................................................ 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 3
1.3 Câu hỏi chính sách ................................................................................................... 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 4
1.6 Cấu trúc luận văn ..................................................................................................... 4
Chương 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT...................................................................................... 5
2.1 Cơ sở lý thuyết ........................................................................................................ 5
2.1.1 Lý thuyết về chi phí giao dịch ............................................................................... 5
2.1.2 Lý thuyết về thể chế .............................................................................................. 5
2.2 Khái niệm ................................................................................................................ 6
2.2.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa .................................................................... 6
2.2.2 Hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và lợi thế của doanh nghiệp lớn ............................ 7
2.2.3 Tiêu chí đo lường sự phát triển của doanh nghiệp ................................................. 9
2.2.4 Khái niệm môi trường kinh doanh ....................................................................... 10
vi
2.2.5 Các yếu tố môi trường kinh doanh tác động tới sự phát triển DNNVV ................ 11
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
GTGT
Giá trị gia tăng
ECM
Mô hình các thành phần sai số
FEM
Mô hình các ảnh hưởng cố định
GIFT
Graft Index for Firm
Chỉ số tham nhũng cho các giao dịch của doanh
Transaction
nghiệp
REM
Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên
VIF
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy dữ liệu bảng mô hình các ảnh hưởng cố định......................... 25
Bảng 4.4: Một số khoản chi lót tay khi làm thủ tục nhập khẩu ........................................ 30
Bảng 4.5: Số lượng các cuộc tiếp xúc/thanh tra thuế ....................................................... 34
DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1: Phỏng vấn một doanh nghiệp vận tải ở Tp. Hồ Chí Minh ................................. 31
Hộp 4.2: Phỏng vấn một số cán bộ thuế ở Tp.Hồ Chí Minh ............................................ 34
1
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc
gia: giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh
tế xã hội, hỗ trợ quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tăng kim ngạch
xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo
việc làm, xóa đói, giảm nghèo (Ngân hàng Thế giới, 2003). Báo cáo của Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, tính đến cuối năm 2015, DNNVV chiếm
95% số lượng doanh nghiệp, đóng góp khoảng 45% GDP, 31% tổng thu ngân sách và
chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp nói chung, thu hút hơn 5 triệu
lao động và đóng góp xấp xỉ 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của quốc gia.
Tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi, nuôi dưỡng sự phát triển của doanh nghiệp
đã và đang được Chính phủ quan tâm. Trong báo cáo Môi trường kinh doanh 2014, Ngân
hàng Thế giới ghi nhận Việt Nam đã nỗ lực thực hiện 21 cải cách kể từ năm 2005, nhiều
nhất trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, giúp cho môi trường kinh doanh dần cải
thiện, các giải pháp Chính phủ đưa ra để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đi đúng
hướng (CIEM, 2015). Số liệu của Tổng cục thống kê cho thấy số lượng doanh nghiệp giai
đoạn 2007-2015 đã tăng 2,9 lần, từ khoảng 149.000 doanh nghiệp hoạt động năm 2007 lên
436.000 doanh nghiệp năm 2015, trong đó ấn tượng nhất là tốc độ tăng trưởng doanh
3
Tình trạng thiếu vắng doanh nghiệp vừa (Missing the Middle), sự xuất hiện của một số ít
doanh nghiệp lớn nhưng lại nở rộ doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đang là thách thức của
Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hạn chế về quy mô khiến cho doanh
nghiệp Việt Nam mới chỉ đảm nhận những vai trò có giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp
ráp. Giấc mơ về một vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu khó có thể hiện thực
được với quy mô doanh nghiệp nhỏ như hiện nay. Điều này lý giải tại sao đã hơn 30 năm
Đổi mới, Việt Nam vẫn đang ở dưới đáy “đường cong nụ cười” (Vũ Thành Tự Anh, 2016).
Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 6% trong giai đoạn vừa qua.
Tuy nhiên, những rủi ro từ năng suất lao động thấp, già hóa dân số và biến đổi khí hậu sẽ
khiến cho Việt Nam tụt giảm chất lượng tăng trưởng, gây ra những bất ổn xã hội. Điều này
sẽ được giảm nhẹ nếu có những cải cách thể chế mạnh mẽ để phát triển khu vực tư nhân.
Xác định những nhân tố trong môi trường kinh doanh làm sụt giảm tốc độ tăng trưởng lao
động của doanh nghiệp (chỉ số dùng để đánh giá sự phát triển DNNVV) giai đoạn 20092015 là việc làm hết sức cần thiết. Đây là cơ sở để có những khuyến nghị chính sách cải
thiện môi trường kinh doanh trong nước, giúp gia tăng quy mô doanh nghiệp, không chỉ
phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam nói chung mà còn mang lại sự ổn định
về kinh tế và xã hội ở nước ta.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm phát hiện những nhân tố trong môi trường kinh doanh có ảnh hưởng tới
sự phát triển của DNNVV giai đoạn 2009-2015, từ đó đưa ra những khuyến nghị chính
sách cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy sự phát triển DNNVV ở Việt Nam.
1.3 Câu hỏi chính sách
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu trả lời hai câu hỏi chính sách:
(i) Những nhân tố nào trong môi trường kinh doanh ảnh hưởng tới sự phát triển doanh
nghiệp thông qua tốc độ tăng trưởng lao động của doanh nghiệp giai đoạn 2009-2015?
(ii) Chính phủ cần phải làm gì để cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới?
4
2.1.1 Lý thuyết về chi phí giao dịch
Lý thuyết Tân cổ điển cho rằng doanh nghiệp là một hộp đen, trong đó các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp được vận hành trong một môi trường chân không và được quyết
định bởi hàm sản xuất Cobb-Douglas.
Tuy nhiên, lý thuyết về chi phí giao dịch của Ronald Coase (1937) cho thấy lý do chính để
thành lập doanh nghiệp là do có các chi phí giao dịch khi sử dụng cơ chế giá cả. Hay nói
cách khác, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường luôn có sự tương tác của các chủ thể
khác ngoài doanh nghiệp, và những sự tương tác này tạo ra chi phí, trong khi doanh nghiệp
là tổ chức có khả năng làm giảm các chi phí đó. Doanh nghiệp sẽ gánh chịu các chi phí nội
bộ nhưng sẽ tăng trưởng nếu chi phí nội bộ thấp hơn chi phí giao dịch bên ngoài. Như vậy,
doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các mối quan hệ, ra đời khi sự điều động các nguồn
lực phụ thuộc vào một nhà doanh nghiệp (Coase, 1937).
Sự vận hành của thị trường tạo ra chi phí, và những chi phí giao dịch bao gồm: chi phí tìm
kiếm thông tin, chi phí phân tích và lựa chọn mức giá thích hợp, chi phí thương lượng, kí
kết, chế tài hợp đồng. Ngoài ra, các yếu tố bất định của môi trường kinh doanh, hợp đồng
không hoàn chỉnh, cũng như các chính sách của nhà nước, sự phân công lao động cũng là
lý do để tồn tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi có chi phí giao dịch, các thất bại của thị
trường, bao gồm: độc quyền, bất cân xứng thông tin, hàng hóa công, và ngoại tác, sẽ làm
cho: (i) thị trường không tồn tại; (ii) thị trường không hiệu quả và phân bổ sai nguồn lực;
(iii) nhà nước can thiệp, nhưng không hiệu quả (Nguyễn Xuân Thành, 2014). Như vậy, để
phát triển doanh nghiệp cần giảm thiểu chi phí giao dịch bên ngoài, bằng cách thiết lập một
thể chế hỗ trợ thị trường một cách hiệu quả.
2.1.2 Lý thuyết về thể chế
Mặc dù có nhiều định nghĩa về thể chế nhưng nghiên cứu này sử dụng định nghĩa thể chế
của North (1990). Thể chế là các quy tắc trò chơi trong xã hội, là những giới hạn được
vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người, hình thành nên mối quan hệ
qua lại giữa con người. Thể chế bao gồm ba hợp phần quan trọng: thể chế chính thức, thể
6
Phân bổ nguồn lực hiệu quả và nâng đỡ các chủ thể tham gia thị trường.
2.2 Khái niệm
2.2.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nghiên cứu này dựa trên định nghĩa của Ngân
hàng Thế giới về doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Qua đó doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ có
không quá 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có từ 10 tới 50 lao động, doanh nghiệp vừa có từ
50 tới 300 lao động và từ trên 300 lao động là doanh nghiệp lớn. Ngoài tiêu chí về lao
động toàn thời gian, Ngân hàng Thế giới cũng sử dụng tiêu chí về tài sản hoặc doanh thu
của doanh nghiệp. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung vào số lượng lao động toàn thời
gian để phân loại quy mô của doanh nghiệp.
7
Bảng 2.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp
Quy mô DN Lao động Tài sản
Doanh thu hàng năm
Siêu nhỏ
như vậy sẽ phải đẩy mạnh khai thác nguồn lực tự nhiên, ảnh hưởng tới sự phát triển bền
vững của một quốc gia. Đây là quan điểm chủ đạo hình thành nên Kinh tế học Phật giáo
(Buddhist economics) và được phổ biến nhất trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng năm
1973 và các thách thức nổi lên của toàn cầu hóa.
Một số ý kiến ủng hộ các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì lợi thế của chúng, đó là khả năng đổi
mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm và chi phí quản lý thấp giúp doanh nghiệp hoạt
8
động hiệu quả. Nhiều nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò như “cỗ
máy tăng trưởng” chịu trách nhiệm tạo đa số việc làm mới.
Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra sai lầm của quan điểm “nhỏ mới đẹp”.
Pincus (2012) cho rằng hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp thâm dụng lao động phụ
thuộc vào chi phí tương đối giữa lao động và vốn và khả năng thay thế giữa 2 yếu tố sản
xuất này. Việc chuyển đổi công nghệ hiện đại ở doanh nghiệp lớn sang công nghệ lạc hậu
và thâm dụng lao động ở doanh nghiệp nhỏ sẽ tạo ra một tổn thất ròng về sản lượng cho xã
hội, cũng như làm tăng chi phí cơ hội của người lao động ở doanh nghiệp nhỏ. Pincus sử
dụng kết quả của Ian Little, Dipak Mazumdar và John Page (1987) để minh họa cho lập
luận của mình. Nghiên cứu này cho thấy (i) sự thâm dụng vốn và năng suất lao động tăng
theo quy mô doanh nghiệp (tính theo số đo lao động); (ii) vốn được sử dụng hiệu quả hơn
ở các doanh nghiệp lớn, theo các phát hiện ở Hàn Quốc, Thái Lan và Ấn Độ; (iii) các
doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết hoạt động trong các ngành thâm dụng lao động, nhưng
có thể thâm dụng vốn do sử dụng công nghệ tốn kém được vận hành bởi số ít công nhân.
Ở góc độ tạo ra việc làm cho xã hội, các doanh nghiệp nhỏ cũng không tạo ra nhiều việc
làm ròng hơn so với doanh nghiệp lớn vì doanh nghiệp nhỏ dễ phá sản dẫn đến thất nghiệp
cho người lao động. Nghiên cứu của Kelly (2007) cho thấy, mặc dù doanh nghiệp nhỏ ở
Hòa Kỳ tạo ra 36% tổng số công việc mới (gross new jobs) trong giai đoạn 1990-2004,
tương đương 1,8 triệu công việc mỗi năm nhưng lại làm mất đi 1,6 triệu công việc do
doanh nghiệp đóng cửa. Như vậy các doanh nghiệp nhỏ chỉ tạo ra khoảng 13% công việc
không cao, khiến cho doanh nghiệp Việt khó tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Mặc
hàng công nghệ cao đã chiếm 27% giá trị xuất khẩu năm 2015 nhưng Việt Nam vẫn nằm ở
đáy của “đường cong nụ cười” vì giá trị gia tăng thấp của hàng công nghệ cao (Vũ Thành
Tự Anh 2017). Ngoài ra, các doanh nghiệp quy mô nhỏ khó đạt năng suất cao do không
hiệu quả về kinh tế theo quy mô và chuyên môn hóa (Vũ Thành Tự Anh, 2015a).
2.2.3 Tiêu chí đo lường sự phát triển của doanh nghiệp
Sự phát triển của doanh nghiệp có thể được hiểu là sự tăng lên về doanh thu, thị phần,
nguồn vốn, lợi nhuận hoặc số lượng lao động. Nghiên cứu của Soini và Veseli (2011) đã sử
dụng tiêu chí lao động và doanh thu để đo lường sự phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra,
tiêu chí giá trị gia tăng có thể được sử dụng cho trường hợp các doanh nghiệp ở các nước
đang phát triển. Quan điểm lao động và doanh thu được ủng hộ bởi nghiên cứu của Sharu
và Guyo (2015). Tuy nhiên, các tiêu chí liên quan tới tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi lạm
phát, tỷ giá và việc so sánh doanh thu giữa các ngành công nghiệp cũng khá khó khăn.
10
Nghiên cứu này sử dụng tiêu chí tăng trưởng lao động để đo lường sự phát triển của doanh
nghiệp vì số lượng lao động của doanh nghiệp dễ dàng được cung cấp và có độ tin cậy cao;
trong khi các tiêu chí tài chính rất khó tiếp cận và có thể không chính xác vì các vấn đề về
lạm phát và thuế. Ngoài ra, các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu hoạt động trong các lĩnh
vực thâm dụng lao động nên trong bối cảnh năng suất lao động của Việt Nam đang giảm
thì việc phát triển doanh nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất được hiểu như việc tuyển thêm
nhân viên lao động. Tiêu chí tăng trưởng lao động cũng được sử dụng trong nhiều nghiên
cứu khác như Evans (1987), Aterido và Hallward-Driemeier (2009), Correa và cộng sự
(2010), Seker và Correa (2010).
2.2.4 Khái niệm môi trường kinh doanh
Theo Jauch và Gluech (1988), môi trường kinh doanh là tập hợp những điều kiện bên trong
và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đều định nghĩa môi trường kinh doanh
cá nhân (Ngân hàng Thế giới, 2000). Tuy nhiên, tác động của tham nhũng và chi phí không
chính thức không theo khuôn mẫu nhất định. Nhiều nghiên cứu cho thấy các khoản chi
không chính thức cho các dịch vụ công sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động thuận lợi hơn, đặc
biệt ở các nước có thể chế yếu vì sẽ thúc đẩy viên chức tích cực làm việc, đáp ứng nhanh
các yêu cầu của doanh nghiệp, như nghiên cứu của Vial và Hanoteau (2010) tìm thấy tác
động tích cực của tham nhũng với tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp ở
Indonesia. Ngược lại, nghiên cứu của Krueger (1993) phát hiện ra chi phí bôi trơn làm
giảm đầu tư của doanh nghiệp vì chi tiền bôi trơn lần trước sẽ dẫn tới tiền bôi trơn lần sau
cao hơn; còn Mauro (1995) lại cho rằng chi phí bôi trơn làm giảm năng suất biên của vốn
đầu tư, làm giảm lợi nhuận đầu tư nên doanh nghiệp không muốn đầu tư mới. Tương tự,
Fisman và Svensson (2007) tìm thấy mối tương quan ngược giữa tham nhũng và tăng
trưởng doanh thu ở các doanh nghiệp Uganda.
Theo Beck và cộng sự (2005), tham nhũng gây nên những hệ lụy cho nền kinh tế bởi nó
bóp méo sự phát triển của các doanh nghiệp; đẩy kinh doanh vào khu vực không chính
thức với chi phí giao dịch tốn kém và không chắc chắn, gây tác động xấu đến đầu tư của
doanh nghiệp (Kato và Sato, 2014). Tuy nhiên, những nghiên cứu về chủ đề này thường
dựa trên nhận thức về tham nhũng, nhưng phần lớn nhận thức là sự phản ánh nghèo nàn về
sự phổ biến của các hành vi tham nhũng (Olken, 2007; Weber, 2007, dẫn lại trong
Gonzales và cộng sự, 2007). Ngoài ra, các phương pháp đo lường tham nhũng hiện nay
thường dựa trên khảo sát của một số chuyên gia và một số doanh nghiệp không mang tính
12
đại diện (ví dụ công ty đa quốc gia, hộ kinh doanh cá thể) vì thế không nhất thiết phản ánh
kinh nghiệm của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Gonzales và cộng sự, 2007).
Để giải quyết hạn chế về dữ liệu và khác biệt trong nhận thức về tham nhũng, Gonzaléz và
cộng sự (2007) đã xây dựng chỉ số tham nhũng cho các giao dịch của doanh nghiệp, gọi tắt
là GIFT (Graft Index for Firm Transaction) từ dữ liệu Khảo sát doanh nghiệp của Ngân
hàng Thế giới:
Quản lý thuế: Nghiên cứu của Baurer (2005) đã cho thấy ảnh hưởng của thuế và các vấn đề
liên quan tới sự thịnh vượng (well-beings) của một quốc gia thông qua sự phát triển của
DNVVN. Ông cho rằng các doanh nghiệp tư nhân ở các nước đang phát triển gặp khó khăn
khi phải đối mặt với các chính sách thuế trừu tượng (conceived) và thiếu sự chắc chắn về
những thay đổi chính sách trong tương lai. Ngoài ra, doanh nghiệp thường bị áp lực về báo
cáo và ghi chép; bị tiến hành kiểm tra và kiểm toán quá mức; gặp phải cán bộ thuế tham
nhũng; và không được cung cấp thông tin minh bạch trong hoạt động quản lý thuế. Hậu
quả của những rắc rối này là doanh nghiệp phải tìm cách báo cáo sai lợi nhuận và doanh
thu, khai tăng số lượng nhân viên, không đăng ký hoặc nộp tờ khai thuế. Kết quả nghiên
cứu này được ủng hộ bởi nghiên cứu của Ojeka và cộng sự (2012). Nhóm nghiên cứu cho
rằng DNNVV ở Nigeria nên được hưởng mức thuế suất thấp hơn để có thể dành nguồn tiền
đó tái đầu tư doanh nghiệp, cũng như có các chính sách khuyến khích về thuế tốt hơn như
miễn giảm thuế hoặc có thời gian ưu đãi thuế (tax holiday). Ngoài ra, doanh nghiệp không
nên bị làm phiền nhiều bởi các cuộc kiểm tra thuế không định kỳ.
Hệ thống tín dụng: Tiếp cận tín dụng luôn là thách thức đối với DNNVV ở các quốc gia.
Nghiên cứu của Seker và Correa (2010) ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy yêu cầu cao về tài sản thế
chấp khiến cho doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn vay, dẫn đến không mở rộng
hoạt động sản xuất, tiếp cận với công nghệ mới. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy
trong nghiên cứu của Cooley và Quadrini (2001) khi cho rằng khả năng tài chính là nền
tảng để phát triển doanh nghiệp và là cơ sở để doanh nghiệp chống chọi với các cú sốc
kinh tế, tuy nhiên ngân hàng lại sợ rủi ro khi cho doanh nghiệp nhỏ vay tín dụng.
Cơ sở hạ tầng: là tổng hợp các hệ thống giao thông, điện, nước, viễn thông... nhưng nghiên
cứu này chỉ tập trung vào nguồn năng lượng điện. Năng lượng là yếu tố cần thiết để tạo ra
công việc, hoạt động sản xuất, giao thông, thương mại, phát triển doanh nghiệp và sản xuất
nông nghiệp (Liên Hiệp Quốc, 2005).
Sự thiếu hụt nguồn điện ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng
chi phí cho doanh nghiệp. Nghiên cứu của Scott và cộng sự (2014) ở 4 bốn nước có thu
nhập trung bình thấp, gồm Nigeria, Uganda, Bangladesh và Nepal cho thấy mất điện nhiều
làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp do gây ra hư hỏng máy móc; ngoài ra còn
+
3
Quản lý thuế
+
4
Tiếp cận tín dụng
+
5
Tiếp cận điện năng
+
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
+/-