BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Luận văn thạc sĩ:
NGHIÊN CỨU TÍNH HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THÔNG QUA TỶ SUẤT
SINH LỢI BẤT THƯỜNG TỪ CÁC ĐỢT IPO
GVHD : PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Tên học viên: Cao Hồng Minh – CH K19
9/18/2013
i
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, học tập chương trình cao học tại khoa Tài chính doanh
nghiệp Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, em đã hoàn thành chương
trình học và bài luận văn nghiên cứu về “NGHIÊN CỨU TÍNH HIỆU QUẢ CỦA
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THÔNG QUA TỶ SUẤT SINH
LỢI BẤT THƯỜNG TỪ CÁC ĐỢT IPO”
Để có được kết quả này cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn đến Cô –
PGS.TS.Nguyễn Thị Liên Hoa đã quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành một
cách tốt nhất bài nghiên cứu này trong thời gian qua.
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, chưa hiểu biết sâu rộng
về nền kinh tế Việt Nam nên bài nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn
nữa.
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
iii
Tóm tắt
Cùng với việc đẩy mạnh chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước và sự
phát triển của thị trường trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra một làn sóng mới
ồ ạt phát hành cổ phiếu ra công chúng (đặc biệt là năm 2006 với khoảng 140 công
ty, năm 2010 gần 180 công ty). Qua nghiên cứu về những sự kiện xảy trên thị
trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2000 đến nay, tôi nhận thấy rằng thị trường
chứng khoán Việt Nam đang còn rất non trẻ và phải gánh nhiều tác động không chỉ
từ nền kinh tế tài chính trong nước, nước ngoài mà còn chịu ảnh hưởng từ tâm lý
của các công ty, các nhà đầu tư. Chứng kiến giai đoạn thị trường bắt đầu mở cửa
(thời điểm thành lập 2 sở giao dịch chứng khoán Hà Nội – HNX và sở giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh – HOSE) đến lúc phát triển nóng (năm 20062007) trở thành bong bóng và bùng nổ vào năm 2008 (cùng với sự suy thoái của
kinh tế thế giới). Ta có thể nhận thấy tùy vào từng thời điểm thị trường mà các công
ty có đắn đo về những chính sách tài chính của mình, và một trong số đó là việc
phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Họ hi vọng rằng đợt phát hành sẽ
diễn ra suôn sẻ nếu họ định giá thấp hoặc là công ty họ sẽ được đánh giá cao khi giá
cổ phiếu IPO được định giá cao. Tuy nhiên thời gian gần đây nhà đầu tư rất dè dặt
trong việc mua cổ phiếu IPO do tỷ suất sinh lợi từ việc mua bán hay nắm giữ những
cổ phiếu này không đem lại như mong đợi cho các nhà đầu tư. Luận văn này là một
nghiên cứu về quá trình điều chỉnh của thị trường về trạng thái cân bằng từ sau sự
kiện phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO). Thị trường sẽ có những điều chỉnh cho việc
định giá thấp này dường như ngay lập tức, vì thế, thường tạo ra lợi nhuận bất
thường cho ngày đầu tiên chào sàn. Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, thị trường sẽ
điều chỉnh về đúng với giá trị thực của nó, và việc xem xét trong dài hạn là cần
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ....................................................... ii
Tóm tắt ...................................................................................................................... iii
MỤC LỤC ...................................................................................................................v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ..................................................................................... vii
1.
Giới thiệu.............................................................................................................1
2.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây ..................................................................2
2.1. Thuyết định giá thấp và lợi nhuận bất thường ngắn hạn ...............................2
2.2. Thuyết điều chỉnh về giá trị cân bằng trong dài hạn .....................................4
2.3. Lý thuyết thị trường hiệu quả ........................................................................6
3.
Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ...................................................................7
3.1. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................7
3.1.1.
Nghiên cứu sự kiện ..............................................................................7
3.1.2.
Nghiên cứu định lượng ........................................................................8
3.2. Dữ liệu .........................................................................................................11
CAR
Lợi nhuận bất thường trung bình tích lũy
EMH
Lý thuyết thị trường hiệu quả
EW-CAR
Trung bình lợi nhuận bất thường tích lũy
HNX
Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
IPO
Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng
Vn-Index
Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam
VW-CAR
họ_những người trực tiếp hay gián tiếp bị ảnh hưởng mà còn có các nhà nghiên
cứu, họ xem đó như một đề tài nóng và đã gây nhiều tranh cãi. Với tầm quan trọng
của IPO, nhiều học giả trên thế giới đã tập trung nghiên cứu những yếu tố tác động
đến giá chứng khoán (giá trị doanh nghiệp) trước, và sau IPO. Họ đã tiến hành ứng
dụng nhiều phương pháp vào các khoảng thời gian nghiên cứu khác nhau. Trong
thời gian bùng nổ dot-com đã có rất nhiều bài báo trong tờ Wall Street Journal về
mức tỷ suất sinh lời là 100%, khối lượng giao dịch lớn và những cú “hit” đẩy giá
chứng khoán mà công ty đưa ra thị trường. Kể từ đó, một số vụ bê bối về giao dịch
IPO đã được phát hiện trong đó có sự phân bổ ưu đãi. Ngay cả trước khi sự bùng nổ
dot-com, các phương tiện truyền thông đã làm nổi bật vai trò của các "chân chèo"
(flippers) trong giao dịch IPO và bảo lãnh trong việc đưa ra ý kiến phát hành hạn
chế (Peers (1993), Siconolfi và McGeehan (1998)). Chân chèo là các thương nhân
bán cổ phiếu giao ngay khi cổ phiếu bắt đầu giao dịch. Họ là những thành phần
quan trọng trong thị trường thứ cấp sau sự kiện IPO và được xem là cần thiết để bắt
đầu một thị trường (Tam và Ewing (2000)). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các công ty
IPO thường bị định giá thấp bởi giá chào sàn mà công ty chứng khoán đề xuất.
Mặc dù IPO có tầm quan trọng rất lớn đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
và ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu IPO, nhưng rất ít học giả
Việt Nam nghiên cứu yếu tố hành vi của IPO, từ đó đề ra các chiến lược IPO hợp lý
cho các doanh nghiệp Việt Nam có ý định lên sàn. Hoặc những lý thuyết đúng đắn
cho các nhà đầu tư. Do đó, luận văn này sẽ tổng hợp một số nghiên cứu của các học
giả quốc tế về yếu tố hành vi của IPO và kiểm định các kết quả nghiên cứu này với
các công ty IPO ở Việt Nam. Trong bài nghiên cứu này, tôi đã xem xét, tiếp thu
phương pháp của những nghiên cứu và đề xuất một mô hình có thể xem xét cả ngắn
hạn lẫn dài hạn.
2
Tóm lại, với mục tiêu xem xét tính hiệu quả thị trường chứng khoán Việt Nam
của các công ty Hoa Kì. Mặt khác, theo kết quả nghiên cứu của Rajan và Servaes
3
(1997), Bossaerts và Hillion (1998), họ cho rằng có hiện tượng định giá thấp là do
sự kỳ vọng quá mức vào triển vọng các cổ phiếu IPO. Đi sâu vào sự kỳ vọng của
các nhà đầu tư, chúng ta có thể xem xét đến kết quả bài nghiên cứu "Are IPOs
Really Underpriced? (2003)" của tác giả Amiyatosh và Bhaskaran được thực hiện
trên thị trường Mỹ, họ cho rằng việc đánh giá quá cao của các nhà đầu tư trên thị
trường là có khả năng là nguyên nhân cho lợi nhuận bất thường. Bởi vì, một mặt các
công ty IPO này được định giá thấp và mặt khác lại có tỷ suất sinh lợi mong đợi cao
sau khi trở thành công ty đại chúng điều này làm cho giá tăng. Các công ty bắt đầu
một cuộc IPO khi có điều kiện thị trường thuận lợi. Khi các nhà đầu tư lạc quan họ
sẵn sàng trả giá cao hơn cho các cổ phiếu phát hành. Trong bài nghiên cứu này ông
đưa ra mô hình trong ngắn hạn và dài hạn để kiểm ra khả năng điều chỉnh của thị
trường. Xét trong ngắn hạn, tác giả sử dụng biến phụ thuộc là chênh lệch giá chứng
khoán trong ngày giao dịch đầu tiên, khi kiểm tra trong dài hạn là họ sử dụng
phương pháp Buy-and-Hold Abnormal Returns (BHAR), cùng với các biến độc lập
đặt trưng như là qui mô công ty (lnSales), lợi nhuận (EBITDA), giá trị thị trường
(PV), giá trị sổ sách (BV),… Một kết luận khác của Tinic (1988), thì đây là kết quả
của hành vi không hợp lí do tâm lí đầu cơ của các nhà đầu tư. Xem xét các nghiên
cứu trước đây, tôi đã cố gắng phân loại bất cân xứng thông tin đưa đến hành vi định
giá cổ phiếu thấp khi các công ty này tiến hành IPO.
Thứ nhất, thông tin bất cân xứng giữa các nhà đầu tư, như vậy sẽ có một số nhà đầu
tư nắm được nhiều thông tin hơn và sớm hơn, số khác thì ngược lại. Như vậy, sẽ có
nhà đầu tư chiến thắng và một số đi sau gặp bất lợi. Và bất cân xứng thông tin giữa
nhà phát hành và các nhà đầu tư.
Thứ hai, bất cân xứng thông tin giữa công ty và nhà bảo lãnh phát hành về hai
phương diện: giá cả và nhu cầu cổ phiếu. Theo Benveniste và Wilhelm (1990), họ
cả của cổ phiếu như là một tín hiệu của sự kỳ vọng tỷ suất sinh lợi cũng như là chi
phí hoạt động của công ty.
2.2.
Thuyết điều chỉnh về giá trị cân bằng trong dài hạn
Trong ngắn hạn, tỷ suất sinh lợi chứng khoán được xem xét trong thời gian vài ngày
hoặc vài tuần, có những bằng chứng chống lại thuyết thị trường hiệu quả (trường
hợp định giá thấp, tỷ suất sinh lợi bất thường). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho
5
thấy có sự đảo chiều nếu thời gian nghiên cứu dài hơn. Ví dụ: trong nghiên cứu của
Fama và French (1998), họ phát hiện rằng khoảng 25-40% sự thay đổi tỷ suất sinh
lợi trong dài hạn có mối tương quan nghịch với tỷ suất sinh lợi trước đó. Tương tự,
Poterba và Summers (1988) cũng tìm thấy sự đảo ngược, nghĩa là thị trường chứng
khoán sẽ quay trở lại vị trí cân bằng vốn có của nó. Những “phản ứng thái quá” của
các nhà đầu tư có thể là làn sóng bi quan hoặc lạc quan (DeBondt và Thaler (1985))
là nguyên nhân khiến giá đi lệch hệ thống giá trị, và sau đó là sự điều chỉnh về đúng
giá trị. Các tác giả cho rằng, những phản ứng thái quá như vậy hoàn toàn phù hợp
với thuyết quyết định hành vi của Kahneman và Tversky (1979). Thuyết này có nội
dung: Nhà đầu tư quá tự tin vào bản thân, đây cũng là vết lõm trong khả năng của
họ khi dự báo về giá cổ phiếu và lợi nhuận công ty trong tương lai.Vì thế gây ra
bong bóng giá chứng khoán, đến một thời điểm nào đó, thị trường đủ thời gian để
điều chỉnh về đúng giá trị của nó thì bong bóng này sẽ vỡ, đưa chúng về giá trị thực
(một bằng chứng rõ ràng về sự điều chỉnh của thị trường gần đây nhất chính là sự
kiện bong bóng nhà đất ở Mỹ, và suy thoái toàn cầu năm 2008).
Nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả cho thấy rằng giá cổ phiếu từ thời điểm
Thuyết thị trường hiệu quả – EMH – là giả thiết cho rằng nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội
vượt trội hơn những người khác bởi nhờ vận hành hiệu quả của thị trường chứng
khoán mà giá của các cổ phiếu hiện có trên thị trường luôn phản ánh đầy đủ tác
động của thông tin có liên quan.
Một thị trường vốn hiệu quả là nơi mà giá chứng khoán điều chỉnh nhanh chóng
mỗi khi xuất hiện thông tin mới và do đó, mức giá hiện tại của một chứng khoán bất
kỳ là kết quả phản ánh mọi thông tin liên quan đến nó. Nói cách khác, mọi thành
viên trên thị trường đều có khả năng tiếp cận thông tin như nhau.
Theo lý thuyết này, chứng khoán sẽ được mua bán trao đổi ngang giá trên sàn giao
dịch. Thành viên của thị trường sẽ không có cơ hội để mua ép giá cổ phiếu hoặc
thổi phồng mức giá khi bán. Điểm mấu chốt của EMH là các nhà đầu tư sẽ không
có khả năng thành công trên thị trường chứng khoán nếu chỉ dựa vào việc lựa chọn
chính xác loại chứng khoán và định đúng thời gian tiến hành giao dịch. Cách duy
nhất để có được lợi nhuận cao trên thị trường này là thực thi các quyết định đầu tư
có mức độ rủi ro cao hơn.
Fama (1998) cho rằng "thị trường hiệu quả còn tồn tại những thách thức từ các tài
liệu về lợi nhuận bất thường trong dài hạn". Lợi nhuận đột biến trong dài hạn sẽ
giảm sút dần và có xu hướng biến mất nếu các kỹ thuật áp dụng tính toán hợp lý, do
đó sự bất thường có thể phụ thuộc vào phương pháp sử dụng. Xét tổng thể, một sự
7
xuất hiện chi phối của phản ứng thái quá không thể xác định chính xác được. Nếu
thị trường hiệu quả, lợi nhuận bất thường tích lũy dài hạn dự kiến sẽ bằng 0.
Gompers và Lerner (2003) cũng cho rằng sự bất thường còn phụ thuộc vào các
phương pháp đo lường được sử dụng. Họ cho rằng phương pháp lợi nhuận bất
thường từ việc mua và giữ chứng khoán (HBAR) được sử dụng dường như có hiệu
quả thấp. Ngoài ra, nếu lợi nhuận bất thường tích lũy (CAR) được sử dụng thì hiện
tượng này biến mất. Sau khi sử dụng các tiêu chuẩn kiểm soát cho các biến này họ
Định lượng về tỷ suất sinh lợi hay lợi nhuận qua các nghiên cứu trước đây, có thể
chia làm hai giai đoạn nghiên cứu và những phương pháp thích hợp. Với thời gian
nghiên cứu là ngắn hạn, các phương pháp được đề xuất là mô hình CAPM của ba
nhà kinh tế học William Sharpe, John Lintner và Jack Treynor, mô hình ba nhân tố
của Fama và French, mô hình lợi nhuận bất thường trung bình tích lũy (CARs). Khi
nghiên cứu dài hạn chúng ta sẽ lưu ý phương pháp lợi nhuận bất thường từ việc mua
và nắm giữ chứng khoán (BHARs).
Đầu tiên, bất kỳ mô hình định giá tài sản nào cũng không hoàn toàn mô tả lợi nhuận
kỳ vọng. Ví dụ như mô hình CAPM của Sharpe (1964) và Lintner (1965) dường
như không mô tả được lợi nhuận kì vọng đối với mẫu cổ phiếu các công ty nhỏ
(Banz, 1981). Nếu một mẫu nghiêng về phía cổ phiếu các công ty nhỏ, điều chỉnh
rủi ro với mô hình CAPM có thể tạo ra lợi nhuận bất thường giả. Thứ hai, ngay cả
khi có một mô hình thực sự, sẽ luôn có thời kỳ mẫu có sự sai lệch so với những dự
đoán của mô hình. Nếu một mẫu sự kiện nghiêng về phía mô hình mẫu (ví dụ như
có sự bất thường trong lợi nhuận trung bình) thì một sự bất thường giả có thể xảy ra
ngay cả với nguy cơ điều chỉnh bằng cách sử dụng mô hình định giá tài sản thực sự.
Một cách tiếp cận để hạn chế vấn đề trên là bỏ qua mô hình định giá tài sản thực
bằng cách sử dụng mô hình tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Ví dụ như bài nghiên cứu phân
chia cổ phiếu của Fama và cộng sự (1969) sử dụng mô hình thị trường để đo lường
lợi nhuận bất thường. Hệ số chặn và hệ số hồi qui từ những hồi quy về sự điều
chỉnh tỷ suất sinh lợi về lại mức thị trường, được ước tính trên các khung thời gian
sự kiện. Không giống như các mô hình định giá tài sản, mô hình thị trường cho
phép tiếp cận, so sánh từng giai đoạn ước tính lợi nhuận kỳ vọng, nghĩa là, một
chứng khoán dự kiến sẽ được thị trường điều chỉnh về lại trạng thái cân bằng mà
không hạn chế các mặt cắt ngang (thời điểm) của quá trình điều chỉnh đó. Vì vậy,
9
các phương pháp tiếp cận này có thể được sử dụng để nghiên cứu phản ứng của giá
Ta có công thức cho lợi nhuận điều chỉnh trung bình (hay còn gọi lợi nhuận bất
10
thường trung bình (average adjusted return) đối với n cổ phiếu của n công ty vào
tháng t như sau:
AARt =
n
1
n
ar
it
i 1
Tổng lợi nhuận bất thường trung bình tích lũy từ tháng x đến tháng y:
CARx,y =
y
AAR
t
tx
t
Như vậy, lợi nhuận bất thường từ việc mua và nắm giữ (buy-and-hold abnormal
return) tính cho từng chứng khoán:
BHARi,t:T = BHRi,t:T - BHRctrl,t:T
Hạn chế của việc sử dụng BHAR:
+ Cần có một thị trường ổn định, hiệu quả để xác định được lợi nhuận của danh
mục so sánh đúng, nhưng phải cùng thời kì và những tác động như danh mục tính
toán.
11
+ Một số nhà nghiên cứu cho rằng, phương pháp này có thể phóng đại những điều
chỉnh thị trường, thậm chí nếu nó xảy ra chỉ trong một khoảng thời gian duy nhất
nhưng lại là hệ quả của toàn bộ giai đoạn mà chúng ta nghiên cứu.
Lí do chọn mô hình CAR:
Vì những phân tích trên, tôi quyết định chọn phương pháp định lượng CARs nhằm
nghiên cứu cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Một ưu điểm của CARS so với BHARs là
phương pháp này tính theo từng thời điểm cắt ngang vì thế không cần thiết sử dụng
yếu tố lãi kép vào mô hình, như thế sẽ đơn giản hơn một phần.
3.2.
Dữ liệu
Dữ liệu gồm các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán HNX, HOSE vẫn tồn
tại, hoạt động giai đoạn 2005- 2012 và được xác định thời điểm IPO bằng cách tra
cứu thông tin sự kiện công ty trên trang thông tin tài chính của vietstock.vn. Việc
xác định thời điểm IPO cho phép tiến hành xem xét, kiểm tra những thay đổi của tỷ
2003
3,488,395
5,841,941
3,383,150
4,500,000
5,600,000 19,726,840
1,587,280
1,500,000
2,107,421
5,577,069
0.0366490 1.9062420
1.0581350 5.5153690
2,498,870
2,498,870
3,200,000
1,797,740
991,548
0.0000000
1.0000000
2004
2005
2006
2007
1,700,000
1,000,000
1,000,000
1,000,000
1,000,000
1,200,000
1,000,000
1,561,244
1,028,000
1,272,792
33,864,404
36,948,660
57,436,953
61,757,997 103,000,000
30,320,385 18,256,626
384,000,000
0.0000000
2.9432940
5.2609360
4.6096640
6.5922280
6.2374130
4.2885310 2.3375550
4.5788440
1.0000000 10.1218000 36.1794700 27.7234000 49.7675600 45.0519600 26.4303700 8.3099990
21.9936300
20,422,584
10,000,000
95,513,523
2
2
46.243130 6966.625000 1537.536000 7574.987000 9940.606000 4565.353000 102.191000
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000
13
138
53
77
124
176
444.621300
0.000000
15.683430
0.000393
phương bé nhất).
Biến VOL/S1 (Khối lượng giao dịch ngày đầu tiên / Cổ phần chào bán): đây là
tỷ lệ của khối lượng giao dịch ngày đầu tiên so với cổ phiếu chào bán. Một mối
quan hệ chặt chẽ đã được tìm thấy giữa lợi nhuận ban đầu và khối lượng thương
mại cho những ngày đầu tiên. Đặc trưng của sự kiện "hot IPO" là lợi nhuận ban đầu
cao và khối lượng giao dịch cao, thường trong các vụ IPO được định giá thấp, hoặc
công ty được nhà đầu tư ưu tiên săn đón. Trong khi "cold IPO" cho thấy điều ngược
lại, lợi nhuận ban đầu thấp và khối lượng giao dịch cũng thấp (Ellis 2006), đặc
trưng có thể nhận thấy từ các đợt IPO được định giá quá cao. Dự liệu rằng sẽ có một
mối tương quan dương với biến giải thích, như một hàng hóa thông thường, nếu
lượng giao dịch lớn, nhu cầu đầu tư cao thì ắt hẳn nó đem lại nhiều lợi nhuận, tỷ
suất sinh lợi cao.
1
VOL/S : Volume of trading first day / Shares offered
14
Biến Float (Tỷ lệ phát hành cổ phiếu lần đầu) là phần trăm số cổ phiếu được phát
hành trong lần đầu tiên trên tổng số cổ phiếu đã phát hành. Tỷ lệ phần trăm này có
ảnh hưởng 2 mặt tới giá cổ phiếu. Tỷ lệ phần trăm phát hành thấp sẽ đẩy giá cổ
phiếu lên cao. Tuy nhiên, nếu quá thấp, cổ phiếu sẽ không có tính thanh khoản,
khiến giá cổ phiếu bị giảm (Ogden cùng cộng sự (2003)). Zheng năm 2007 đã tìm
thấy một mối tương quan cao giữa Float và tỷ lệ tiền mặt là 0,86. Tỷ lệ tiền mặt mới
có liên quan đến kích thước của công ty sau khi IPO. Trong bài nghiên cứu của
mình, Ogden và cộng sự cho rằng Float là một khái niệm dễ hiểu và họ quyết định
đưa vào mô hình biến này và tỷ lệ tiền mặt, vì họ cho rằng hai biến này có tương
quan với nhau. Tuy nghiên, trong bài nghiên cứu này, để tạo lập một mô hình thống
16
phân tích trên hay không. Tôi hi vọng sẽ có mối quan hệ giữa biến giả này với biến
qui mô.
Bảng 3.2: Thống kê mô tả số liệu khối lượng IPO ở hai sàn giao dịch chứng khoán
HNX và HOSE (đơn vị: vnđ)
Mean
HNX
9,572,696
HOSE
40,657,267
TOTAL 23,327,732
Median
Maximum
3,748,300
12,337,423
8,000,000
150,000,000
1,900,000,000
1,900,000,000
Minimum Jarque-Bera Probability Observations
cơ cấu số lượng IPO có ảnh hưởng đến kết quả giá trị tỷ suất sinh lợi tích lũy của
toàn bộ thị trường hay không?
17
Bảng 3.3: Thống kê mô tả dữ liệu khối lượng IPO theo ngành (đơn vị: vnđ)
Xây Dựng
Bất Động Sản
Vật Liệu Xây Dựng
Vận Tải/ Cảng / Taxi
Sản Xuất - Kinh doanh
Nhóm Dầu Khí
Khoáng Sản
Thực Phẩm
Công Nghệ Viễn Thông
Giáo Dục
Chứng Khoán
Thương Mại
Dược Phẩm / Y Tế / Hóa Chất
Nhựa - Bao Bì
Năng lượng Điện/Khí/Gas
Thủy Sản
Ngân hàng- Bảo hiểm
Ngành Thép
Dịch vụ - Du lịch
Cao Su
Mean
5,525,000
15,000,000
4,000,000
6,705,640
6,000,126
24,000,000
6,000,000
7,574,750
4,050,000
1,200,000
30,000,000
8,054,993
8,000,000
3,900,000
20,000,000
8,550,000
100,000,000
15,000,000
3,127,250
19,250,000
150,000,000
250,000,000
90,000,000
140,000,000
18,982,497
500,000,000
100,000,000
476,000,000
63,536,267
1,598,500
8,249,998
84
57
53
47
38
34
31
28
25
25
23
22
21
21
20
20
17
15
14
9
3.2.2. Kiểm tra dữ liệu
Để thực hiện nghiên cứu diễn biến của giá cổ phiếu được xung quanh sự kiện IPO.
Sự khác nhau giữa phân tích “event” và “post event” được sử dụng để đo lường
hành vi của giá IPO trong ngắn hạn và dài hạn. Nghiên cứu “event” được sử dụng
để đo lường các dị thường của lợi nhuận IPO trong ngắn hạn. Bao gồm giai đoạn
ngay sau ngày chào bán. Tôi chia nó thành phần khác nhau của thời gian. Đầu tiên