NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 66

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
1. Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.Khái niệm, nguồn gốc lợi nhuận doanh nghiệp.
Tuỳ theo quan điểm và góc độ xem xét, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau
về lợi nhuận:
- Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Mark cho rằng: “ Cái phần trội lên
nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”. Theo Ađam Smith, lợi
nhuận là “ khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động. Còn theo
David Ricardo, lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công.
- K.Mark thì khẳng định: “ Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn
bộ giá trị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được
trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”.
- Các nhà kinh tế học tư sản hiện đại như P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus
lại cho rằng: “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ
đi tổng số chi”, hay nói cách khác: “ Lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệch
giữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng chi phí”.
Như vậy, xét về mặt lượng các định nghĩa đều thống nhất rằng: Lợi nhuận là
số thu dôi ra so với chi phí đã bỏ ra.
Từ góc độ doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là
khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt
được doanh thu từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.
Nguồn gốc của lợi nhuận cũng là một chủ đề được các nhà kinh tế học
tranh cãi.
- Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: “ Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh
vực lưu thông. Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không
ngang giá, là sự lừa gạt”.
- Chủ nghĩa trọng nông lại khẳng định: “ Nguồn gốc sự giàu có của xã hội
là thu nhập trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp”.
- Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh mà đại diện là Adam Smith lại
cho rằng: “ Lợi nhuận trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho

nhiều yếu tố: có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố thuộc về
khách quan và có sự bù trừ lẫn nhau.
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu
thụ, thời điểm tiêu thụ khác nhau thường làm cho lợi nhuận doanh nghiệp
cũng không giống nhau.
- Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi nhuận
thu được sẽ khác nhau. Những doanh nghiệp lớn dù công tác quản lý kém số
lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp quy mô nhỏ
nhưng công tác quản lý tốt hơn.
Cho nên để đánh giá, so sánh chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp
ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng chỉ tiêu tương đối là tỷ suất
lợi nhuận.
Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh tế khác
nhau. Sau đây là một số cách tính tỷ suất lợi nhuận thường gặp:
1.2.1. Tỷ suất lợi nhuận vốn.
Tỷ suất lợi nhuận vốn là quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế với tổng nguồn
vốn trong kỳ.
Công thức:
100*
V
P
T
V
=
Trong đó:
T
V
:Tỷ suất lợi nhuận vốn.
P : Lợi nhuận sau thuế.
V : Tổng nguồn vốn trong kỳ.

100*
T
P
T
dt
=
Trong đó:
T
dt
: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
P: Lợi nhuận sau thuế
T: Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu có bao nhiêu lợi nhuận sau
thuế.
Nếu tỷ suất này thấp hơn tỷ suất chung của toàn ngành chứng tỏ doanh
nghiệp bán hàng với giá thấp hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao
hơn so với doanh nghiệp cùng ngành. Chỉ tiêu cao hay thấp phụ thuộc vào đặc
thù của từng ngành sản xuất vào phương hướng sản xuất kinh doanh của
từng ngành.
Như vậy, nhiệm vụ đối với các doanh nghiệp không chỉ là phấn đấu
tăng lợi nhuận mà hơn thế phải làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
1.3.Vai trò của lợi nhuận.
Để thấy được vai trò của lợi nhuận, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu lợi nhuận
được phân phối như thế nào.
Phân phối lợi nhuận không phải là việc phân chia số tiền lãi một cách đơn
thuần mà là việc giải quyết tổng hợp các mối quan hệ kinh tế diễn ra đối với
doanh nghiệp. Việc phân phối đúng đắn sẽ trở thành động lực thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển, sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp tiếp tục công việc kinh doanh của mình.
Lợi nhuận thực hiện cả năm được phân phối theo thứ tự sau đây;

thuế đã trở thành nguồn thu quan trọng, chiếm khoảng 80% tổng thu của
ngân sách Nhà nước mà trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn. Như vậy, lợi nhuận góp phần để ngân sách Nhà nước thực hiện các vai trò
của mình về mặt kinh tế,đó là để khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị
trường, là tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh,
kích thích phát triển sản xuất kinh doanh tức là lợi nhuận đã trở thành nguồn
tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội, là cơ sở để tăng thu nhập quốc
dân.
1.3.2. Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp.
 Nếu như cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã biến các doanh nghiệp trở thành
những tổng kho thực hiện việc giao nộp, cung ứng một cách đơn thuần dẫn
đến thủ tiêu tính năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bởi tách rời chức năng sản xuất và kinh doanh, doanh nghiệp sẽ hoàn
toàn không quan tâm đến mục tiêu lợi nhuận vì giá cả thì được định trước còn
sản phẩm thì luôn luôn có người mua. Ngược lại trong cơ chế thị trường, lợi
nhuận lại giữ một vị trí quan trọng trọng hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường đòi hỏi doanh
nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không, điều quyết định là doanh
nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Vì thế, lợi nhuận được coi là đòn
bẩy kinh tế quan trọng, là động lực thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi cách để
nâng cao năng suất lao động, hiện đại hoá trang thiết bị, sử dụng nguyên vật
liệu tiết kiệm và hợp lý….nhằm tối thiểu hoá chi phí, không ngừng nâng cao lợi
nhuận. Lợi nhuận đã trở thành động lực chi phối hoạt động của người kinh
doanh. Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến các khu vực sản xuất hàng hoá
mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có ít người tiêu dùng, lợi
nhuận đưa các doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất hiệu quả
nhất. Tóm lại, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, là cái đích cuối cùng mà mọi
doanh nghiệp đều hướng tới.
 Lợi nhuận là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Thật vậy lợi nhuận chính là thước đo đo lường kết quả của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status