1
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ DOANH THU VÀ CHI PHÍ TRONG
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY ĐIỆN MÁY
XE ĐẠP XE MÁY
2.1 Giới thiệu chung về công ty Điện máy – Xe đạp – Xe máy:
2.1.1 Quá trình hình THành và phát triển của công Điện máy –
Xe đạp – xe máy:
Công ty Điện máy – xe đạp – xe máy có tên giao dịch quốc tế là
TODIMAX, là một doanh nghiệp thương mại Nhà nước trực thuộc Bộ
Thương mại, có tư cách pháp nhân đầy đủ theo luật pháp Việt Nam có tiền
Việt Nam và tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng TW. Công ty được chính thức
thành lập 22/02/1995 theo quyết định số 106 Bộ thương mại/ TCCB và cấp
giấp phép ĐKKD (11/03/1995).
Công ty có trụ sở giao dịch chính tại 163 Đại La quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội và có 2 chi nhánh tại TP.HCM và Hà Nam Ninh.
Tiền thân của công ty là Cục bách hoá Ngũ Kim được thành lập vào
năm 1958. Đến năm 1970, Chính phủ có quyết định 217/CP ngày
24/11/1970 với nội dung thay đổi cấp quản lí của Bộ nội thương nhằm
thành lập ra các tổng công ty chuyên ngành hàng. Ngày 13/3/1971 theo
quyết định 14NT/ QĐ Cục Bách hoá Ngũ Kim chuyển thành Tổng công ty
Điện máy thực hiện chức năng chủ đạo là kinh doanh mặt hàng điện máy
trên phạm vi toàn quốc.
Tháng 6/1981 Tổng công ty Điện máy tách ra thành hai công ty Trung
ương trực thuộc Bộ nội thương:
- Công ty Điện máy Trung ương đóng tại 163 Đại La – Hai Bà Trưng –
Hà Nội
1
2
- Công ty xe đạp – xe máy Trung ương đóng tại 21 ái Mộ – Gia Lâm –
Hà Nội.
Cả hai công ty đều chịu sự chỉ đạo Bộ Thương Mại cho đến tháng
rộng phạm vi hoạt động sản xuất của công ty để đáp ứng nhu cầu của thị
trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh tế, cơ sở khác của ngành
và các đơn vị liên doanh áp dụng các biện pháp kinh doanh có hiệu quả để
nâng cao mức doanh số bán ra.
- Hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Góp phần thu hút thêm lao động trong xã hội, giải quyết vấn đề việc
làm.
- Thực hiện các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư sản xuất
để khai thác hết mọi nguồn lực của công ty.
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước.
2.1.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh tại công ty Điện máy- Xe
đạp- Xe máy:
Là một doanh nghiệp thương mại, Công ty Điện máy – xe đạp – xe máy
thực hiện khá nhiều chức năng kinh doanh như:
+ Xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng điện máy, kim khí tiêu dùng,
phương tiện đi lại, hàng tiêu dùng
+ Sản xuất gia công lắp ráp hàng điện tử.
+ Kinh doanh vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép xây dựng, thiết bị
trang trí nội thất)
+ Kinh doanh máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị phụ trợ.
3
4
+ Dịch vụ cho thuê văn phòng làm việc, kho hàng, sản xuất kinh doanh
bia và nước giải khát. Kinh doanh hoá chất thông thường (Theo quyết định
số 1537/1998/QĐ-BTM ngày 12/12/1998 của Bộ Thương mại)
+ Kinh doanh nguyên liệu, kim loại màu, kim loại đen, hàng thủ công
mỹ nghệ, cao su và sản phẩm cao su, hàng công nghiệp tiêu dùng khác (VB
cho phép số 0039/1995/QĐ-BTM ngày 13/01/1999 của Bộ Thương mại).
+ Gia công, sản xuất phụ tùng xe máy và lắp ráp xe gắn máy, hàng điện
Công ty TODIMAX có thị trường tiêu thụ trong nước khá rộng lớn. Các
sản phẩm như nguyên vật liệu, hoá chất, thiết bị máy móc, phụ tùng… công
ty có khách hàng lớn thường xuyên là các cơ sở sản xuất trong nước như
Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông, nhà máy Nhựa Hàm Rồng, công ty
xây dựng cầu Thăng Long…
Tuy nhiên cho đến nay thì hoạt động xuất khẩu của công ty gần như
không có, có xuất khẩu chăng đi nữa thì số lượng xuất khẩu cũng là rất nhỏ
và nếu có chỉ là hình thức tái sản xuất sản phẩm. Do kinh doanh nhiều loại
mặt hàng khác nhau, Công ty đã thực hiện bán hàng chủ yếu theo phương
thức tiêu thụ trực tiếp thông qua việc bán buôn và bán lẻ qua khối các trung
tâm kinh doanh, các cửa hàng trực thuộc chi nhánh TP Hồ Chí Minh, chi
nhánh Hà Nam Ninh và các cửa hàng kinh doanh trực thuộc công ty.
2.1. 4 Đặc điểm về lao động và cơ cấu bộ máy trong công ty:
2.1.4.1 Đặc điểm lao động:
Công ty có số lượng lao động tương đối đông, tổng số lao động định
biên của công ty hiện nay là 455 người.
Trong đó có: - Nam: 265 người
- Nữ : 190 người
Đại học: 123, Tiến sĩ: 2, Trung cấp: 63, Sơ cấp: 6.
5
6
Tình hình công ty gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt bộ máy tổ chức cán
bộ còn khá cồng kềnh, đội ngũ công nhân viên có trình độ còn hạn chế, chỉ
chiếm khoảng 1/3 trên tổng số lao động của công ty. Để phát huy hết khả
năng lao động sẵn có của công ty, cũng như tiết kiệm các chi phí nhân công,
đòi hỏi công ty phải có những chính sách sử dụng nguồn nhân lực hết sức
hợp lý, tránh tình trạng không có lao động giỏi trong khi số lao động dư thừa
không có khả năng lao động thì lại quá nhiều, lãng phí nguồn tài chính của
công ty.
2.1.4.2 Cơ cấu bộ máy trong công ty:
KD điện
tử điện
lạnh
Phòng
kinh
doanh xe
đạp xe
máy
Phòng
Trung
tâm kho
Đức
Giang
Trung
tâm kho
Vọng
Chi
nhánh
TP HCM
Trung
tâm KD
xe đạp xe
máy
XN
SX KD
h ngà
điện máy
Chi
nhánh
Nam
* Phòng tài chính kế toán : giúp gím đốc trong khâu quản lý tài chính
toàn công ty, tổ chức hạch toán đầy đủ và đúng pháp lệnh thống kê kế toán
của nhà nước. Định kỳ báo cáo kết quả kinh doanh và tình hình tài chính đơn
vị cho gím đốc và cơ quan quản lý cấp trên theo yêu cầu của nhà nước.
* Phòng thanh tra bảo vệ: giúp giám đốc trong việc thanh tra kiểm tra
mọi hoạt động của đơn vị, đảm bảo an toàn về hàng hóa và trật tự an toàn
trong công ty.
* Mạng lưới kinh doanh của công ty:
8
9
- Có 3 trung tâm kinh doanh đặt tại 163 Đại La, 92 – Hai Bà Trưng,
229 phố Vọng và 115 phố Vọng của công ty.
- 2 chi nhánh đặt tại miền Nam và Nam Định.
Trong quá trình kinh doanh các trung tâm và chi nhánh này tự chịu
trách nhiệm về doanh thu, tự trang trải quỹ lương và các chi phí, lấy thu bù
chi có lãi. Về nguồn hàng có thể lấy từ công ty hoặc mua ngoài. Các đơn vị
bảo toàn vốn và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
Các đơn vị trực thuộc có con dấu riêng, định kì báo cáo kết quả kinh
doanh và các hoát động khác, kiến nghị các biện pháp để hỗ trợ khó khăn
nhằm phát triển kinh doanh ở đơn vị.
- Có 5 cửa hàng trực thuộc công ty:
Có trách nhiệm tổ chức mạng lưới bán lẻ tại đơn vị, tổ chức khai thác
kinh doanh của đơn vị theo hình thức bán lẻ với bán buôn vừa và nhỏ.
Trưởng cửa hàng có trách nhịêm tổ chức bộ máy cửa hàng, bố trí lao động
hợp lý, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả.
Giám đốc các xí nghiệp, trung tâm chi nhánh trực thuộc công ty: trực
tiếp điều hành hoạt động của đơn vị theo đúng diều lệ tổ chức bộ máy và
hoạt động sản xuâts kinh doanh của đơn vị theo đúng quyền hạn, chức năng,
nhiệm vụ đã được phân cấp và chịu trách nhiệm trước công ty về mọi hoạt
động do mình quản lý điều hành.
cung cấp thông tin về tình hình tài chính đầy đủ kịp thời và chính xác, đánh
giá tình hình sản xuất kinh doanh để từ đó đề ra cấc biện pháp, quyết đinh
đúng đắn và phù hợp với đường lối của công ty.
Ta có sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty Điện máy – xe đạp – xe
máy được trình bày ở trang bên.
10
11
KT tổng hợp
KT quỹ
TM
KT chi tiết
theo dõi KD
KT TSCĐ, quan hệ với NS
Kế toán
công nợ nội bộ
Kế toán ngân h ngà
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán công ty Điện máy – xe đạp – xe máy
* Kế toán trưởng: kiêm trưởng phòng tài chính kế toán chịu trách
nhiệm quản lý và chỉ đạo chung về nghiệp vụ, tham mưu cho giám đốc các
vấn đề về tài chính kế toán.
* Kế toán tổng hợp: phụ trách việc lập phiếu thu, chi theo lệnh, từ đó
căn cứ vào các phiếu thu, phiếu chi kèm theo các giấy tờ hợp lệ để nhập hoặc
xuất quỹ, đối với các số dư trên sổ quỹ với số tiền thực có tại quỹ. Lập báo
cáo kế toán, trợ lý cho kế toán trưởng nếu có yêu cầu và giúp đỡ các bộ phận
khác khi cần thiết.
11
Kế toán
trưởng
12
* Kế toán theo dõi kinh doanh: có nhiệm vụ theo dõi việc mua hàng và
đặc điểm các nguồn vốn đã được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh
doanh.
2.2.2.1 Tình hình sử dụng tài sản:
Thông qua việc nghiên cứu bảng cân đối kế toán của ba năm (2002-
2004) ở trang 40, giúp ta thấy được sự thay đổi của các khoản mục cũng
như cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp.
Qua bảng 2.1 ta thấy tổng tài sản của năm 2003 tăng so với năm 2002
là 1.023,7 trđ tương ứng với tỷ lệ tăng 13,65% chủ yếu là do tăng TSLĐ và
đầu tư tài chính ngắn hạn (TSLĐ năm 2003 tăng so với năm 2002 là
7.752,2trđ), và đến năm 2004 tổng tài sản tăng thêm so với năm 2003 là
14.014,1 trđ, đồng thời TSLĐ năm 2004 tiếp tục tăng lên là 13.865,7 trđ
tương ứng với tỷ lệ tăng là 18,8%.
Xét chi tiết từng khoản mục ta thấy, TSLĐ tăng cao qua các năm chủ
yếu là do sự ảnh hưởng của 2 khoản mục chính của “Các khoản phải thu
khách hàng”, “Hàng tồn kho” tăng lên. Nếu như năm 2002 giá trị hàng tồn
kho là 15.972,8 trđ, thì đến năm 2003 tốc độ tăng hàng tồn kho là 62,7%,
năm 2004 hàng tồn kho đã tăng thêm so với 2003 là 406,3 trđ tương ứng với
tỷ lệ tăng 1,56%. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã để tồn đọng khá nhiều
số lượng hàng hoá, có thể do hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất,
hoặc do sản phẩm không phù hợp với nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó
các khoản phải thu khách hàng liên tiếp tăng cao trong 3 năm 2002 – 2004.
Năm 2002 các khoản phải thu khách hàng chỉ là 29.070,9 trđ chiếm tỷ trọng
38,82% trong tổng tài sản, năm 2003 con số này đã lên đến là 34.237,3trđ
13
14
chiếm tỷ trọng 40,19%, đến năm 2004 là 43.211, trđ chiếm 43,6%. Tốc độ
tăng nhanh cũng như việc tăng tỷ trọng các khoản phải thu là một báo động
trong công tác tổ chức thanh toán, giao dịch với khách hàng của doanh
nghiệp. Có thể thấy rằng những số liệu của hai chỉ tiêu này trong 3 năm kinh
doanh của doanh nghiệp cho thấy công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm của
trọng
A. TSLĐ và ĐTNH:
1. Tiền
2. ĐTTCNH
3. Các khoản phải thu
4. Hàng tồn kho
5. TSLĐ khác
6. Chi sự nghiệp
B. TSCĐ và ĐTDH:
1. TSCĐ
2. ĐTTCDH
3. Chi phí XDCBDD
4. Các khoản kí quỹ, kí
cược DH
65.890,6
17.433,7
30
29.097,9
15.972,8
3.383,1
0
98.052,6
5.705,7
2.191,9
1.154,8
0
87,94
23,26
0,04
38,82
2,6
0
87.508,5
14.880,6
30
43.211,3
26.400,1
2.986,3
0
11.686,2
8.549,6
2.191,9
944,5
0
88,23
15
0,03
43,6
26,6
3
0
11,77
8,6
2,2
0,95
0
7.752
-6.293
0
5.167
-1.278,9
0
118,8
133,6
100
126,2
101,56
133,25
0
101,2
124,8
100
42,47
0
Tổng tài sản 74.943,2 100 85.180,6 100 99.194,7 100 1.123,7 113,65 14.014,1 116,45
A. Nợ phải trả
1. Nợ ngắn hạn
2. Nợ dài hạn
3. Nợ khác
B. Nguồn vốn chủ sở
hữu:
1. Nguồn vốn quỹ
2. Nguồn kinh phí
70.333,2
70.332,6
0
0,592
4.610,6
4.610,6
0
0
0
3,6
3,6
0
11.968,3
3
11.498,6
345,1
-1.731,0
-1.731,0
0
117
116,3
345,1
21131
62
62,44
0
13.296,3
13365,4
-345,1
-125,1
717,7
717,7
0
116
116,3
-345,1
-12510
vào năm 2004 thì tỷ trọng nguồn vốn này có nhích lên song rất nhỏ chỉ là
3,6% tương ứng với tốc độ tăng so với năm 2003 là 24,9%. Trong khi đó nợ
phải trả của năm 2004 chiếm tới 96,4% so với tổng nguồn vốn. Tỷ trọng công
nợ tăng mạnh vào năm 2003 chiếm 96,6% trong tổng ngồn vốn, tăng so với
17
18
năm 2002 là 17% tương ứng tăng 11.968,3 trđ. Với tỷ lệ chiếm 96,6% trong
tổng nguồn vốn là nợ vay cho thấy mức độ phụ thuộc của công ty vào các chủ
nợ là rất cao. Trong khi đó tỷ trọng vốn chủ sở hữu lại rất thấp, chỉ chiếm
khoảng 3,6% vào 2004 là do hoạt động kinh doanh thua lỗ từ các năm trước
tích luỹ lại, làm suy giảm nguồn vốn chủ sở hữu. Đồng thời ta thấy rằng trong
100% nợ phải trả thì có tới 99,58% là nợ ngắn hạn (chủ yếu là nợ ngân
hàng). Như vậy, hầu hết tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn
vốn ngắn hạn mặc dù chi phí trả lãi vay thấp hơn so với dùng nguồn dài hạn
song thời gian đáo hạn ngắn sẽ gây khó khăn lớn cho công ty khi trả nợ và
trả lãi vay. Trong khi đó tỷ trọng vốn vay dài hạn gần như bằng 0.
Tuy nhiên , việc sử dụng nợ ngắn hạn cao lại là một chính sách tài
chính có lợi cho doanh nghiệp vì doanh nghiệp được sử dụng một lượng tài
sản lớn mà chỉ phải đầu tư một lượng vốn nhỏ, đồng thời doanh nghiệp có
thể dễ dàng chuyển rủi ro của mình cho chủ nợ.
Đánh giá chung tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty điện máy –
xe đạp – xe máy cho thấy công ty đang nằm trong tình trạng chung của các
doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay. Đó là thực trạng, các doanh
nghiệp hoạt động trên cơ sở vốn công – nợ là chủ yếu, hơn 90% vốn hoanh
nghiệp là vốn đi vay từ bên ngoài, tỷ lệ này so với các doanh nghiệp trong
cùng ngành là khá cao, điều này cho thấy tình hình tài chính của công ty
không mấy ổn định.
Hơn nữa trong điều kiện sản xuất kinh doanh như hiện nay, tỷ lệ nợ
cao sẽ khiến công ty phải chịu gánh nặng về lãi suất tiền vay (thực tế năm
2003 công ty đã phải trả hơn 2,5 tỷ đồng tiền lãi). Nếu như tổng tài sản