Phát triển các chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM



NGUYỄN HỮU HUÂN

PHÁT TRIỂN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU
TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. THÂN THỊ THU THỦY

TP HỒ CHÍ MINH- NĂM 2013


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Phát triển các chỉ số giá cổ phiếu tại thị
trường chứng khoán Việt Nam” là công trình do chính tôi nghiên cứu và thực
hiện.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực. Các thông tin trong
luận văn được lấy từ nhiều nguồn và được ghi chú chi tiết về nguồn lấy thông tin.
TPHCM, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Huân


Ý nghĩa của chỉ số giá cổ phiếu.................................................................................... 7

1.2. Phát triển chỉ số giá cổ phiếu .......................................................................... 11
1.2.1. Khái niệm .......................................................................................................................... 11
1.2.2. Phương pháp xây dựng chỉ số giá cổ phiếu .................................................................... 11

1.2.3. Thị trường mục tiêu và lựa chọn cổ phiếu. ................................................ 12
1.2.4. Quản lý chỉ số giá cổ phiếu .......................................................................... 16
1.3.

Phát triển các chỉ số giá cổ phiếu tại các TTCK thế giới và bài học kinh

nghiệm cho Việt Nam ............................................................................................. 17
1.3.1.

Xây dựng các chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK thế giới ............................................... 17

1.3.2.
Bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát triển các chỉ số giá cổ phiếu cho TTCK
Việt Nam ...................................................................................................................................... 19

Kết luận chương 1 ...................................................................................................... 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU
TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.............................................. 22
2.1. Diễn biến chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK Việt Nam........................................ 22


iv



Xây dựng chỉ số giá cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng

IPOVietNam_Index ................................................................................................ 53
3.2.1.

Tiêu chuẩn lựa chọn cổ phiếu trong rổ chỉ số .......................................................... 54

3.2.2.
Các quy định về các biến số trong thành phần của chỉ số và sự thay đổi của công
ty niêm yết................................................................................................................................... 54
Quy định về sự thay đổi các công ty niêm yết trong rổ chỉ số ................................................ 55
3.2.3.

3.3.

Quy tắc tính chỉ số IPOVietNam_Index................................................................... 56

Xây dựng chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK tập trung VietNam_Index........ 59

3.3.1.

Tiêu chuẩn chọn lựa các cổ phiếu trong bộ chỉ số và xem xét định kỳ.................. 59

3.3.2.
Các quy định về các biến số trong thành phần của rổ chỉ số và sự thay đổi công ty
niêm yết trong rổ chỉ số ............................................................................................................. 60


v


3.5.2.

Thực hiện tốt chức năng quản lý, điều hành thị trường ......................................... 69

3.5.3.

Phổ cập kiến thức chứng khoán cho nhà đầu tư...................................................... 69

3.5.4.

Thành lập công ty định mức tín nhiệm ở Việt Nam ................................................ 71

Kết luận chương 3 ...................................................................................................... 72
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 74
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ................................................ 77
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 78


vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1 : Diễn biến VN_Index ............................................................................. 40
Biểu đồ 2.2 : Diễn biến HNX_Index .......................................................................... 41
Biểu đồ 2.3: Diễn biến VN30_Index .......................................................................... 45
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu ngành VN30_Index ................................................................... 49
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ phân vùng biến động giá .......................................................... 53
Biểu đồ 2.6: Mối quan hệ giữa HNX_Index và HNX_Index2 .................................. 59

TTCK: Thị trường chứng khoán
VN30: Chỉ số VN30
UPCOM_Index: Chỉ số Upcom
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
VN_Index: Chỉ số VN


viii

LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thị trường cổ phiếu đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động vốn
đầu tư cho nền kinh tế và là một kênh đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tổ chức lẫn
cá nhân. Để có được một cái nhìn tổng quát về thị trường cổ phiếu nhằm đánh giá tầm
ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế, và đánh giá được sự phát triển
của chính thị trường cổ phiếu đó thì thông thường dựa vào các chỉ số chung của thị
trường.
Với một thị trường còn khá non trẻ như thị trường cổ phiếu Việt Nam, hiện nay
còn thiếu các chỉ số giá cổ phiếu thực hiện đúng các chức năng của nó, cũng như là một
cơ sở vững chắc để nhà đầu tư tham khảo và ra quyết định đầu tư. Các chỉ số như
VN_Index, HNX_Index trong quá trình hoạt động đã bộc lộ rất nhiều nhược điểm như
tính đại diện cho thị trường không cao, khả năng dự báo nền kinh tế thấp và rất dễ bị
chi phối bởi các mã cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn trên thị trường. Chính vì thế, cần có
nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá các chỉ số hiện tại của thị trường và đề xuất phát triển
các chỉ số cổ phiếu mới, nhằm cung cấp cho nhà đầu tư những cái nhìn trung thực hơn
về thị trường cổ phiếu, và đó cũng là lý do tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “PHÁT
TRIỂN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM”

Vấn đề nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các chỉ số giá cổ phiếu trên TTCKViệt Nam và thế giới.
Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm có 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý thuyết phát triển các chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK
Chương 2. Thực trạng xây dựng các chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK Việt Nam
Chương 3. Giải pháp phát triển các chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK Việt Nam
Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lý luận: Hệ thống lại các lý thuyết xây dựng chỉ số cổ phiếu cơ bản, cho
thấy được vai trò quan trọng của một chỉ số giá cổ phiếu đối với TTCK và sự phát triển
của nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó, tổng quát hóa kinh nghiệm xây dựng chỉ số giá
cổ phiếu trên thế giới.
Về mặt thực tiễn: kiểm định tính hiệu quả của các chỉ số giá cổ phiếu hiện nay trên
thị trường cổ phiếu Việt Nam, đề xuất xây dựng chỉ số giá cổ phiếu mới, mang tính đại
diện cho thị trường cũng như thực hiện tốt công tác dự báo nền kinh tế.


1

CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN CÁC CHỈ SỐ
GIÁ CỔ PHIẾU TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.

Tổng quan về chỉ số giá tại thị trường chứng khoán

1.1.1. Lịch sử hình thành các chỉ số giá tại thị trường chứng khoán
Nhà đầu tư đã được thường xuyên tiếp cận với các dữ liệu về các cổ phiếu ở
London từ năm 1698, nhưng phải chờ đến hơn 200 năm sau mới được tiếp xúc với một
chỉ số phản ánh được hoạt động của thị trường. Để giúp cho nhà đầu tư nắm bắt được
biến động chung của thị trường cổ phiếu Mỹ hằng ngày, Charles H.Dow và Edward
D.Jones đã giới thiệu chỉ số trung bình Dow Jones, chỉ số cổ phiếu đầu tiên trên thế


chỉ số. Một chỉ số tổng thu nhập, ngược lại, không chỉ phản ánh giá của những cổ phiếu
thành phần mà còn ở việc tái đầu tư tất cả các thu nhập nhận được kể từ thời điểm ban
đầu.
Tại lúc lập ra, giá trị của 2 dạng chỉ số này thì bằng nhau. Tuy nhiên, theo thời
gian, giá trị của chỉ số tổng thu nhập, bao gồm việc tái đầu tư của tất cả các cổ tức hay
lãi nhận được, sẽ vượt quá giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá bởi việc tăng số
lượng. Một cái nhìn về giá trị của mỗi dạng được tính toán vượt quá các minh họa nhiều
khoảng thời gian .
Giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá được tính toán như sau:
N

VPRI 

n P
i 1

i

i

D

(1.1)

Với
VPRI: giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá
ni : số lượng các nhóm đơn lẻ cổ phiếu thành phần i trên hạng mục đầu tư chỉ số.
N : số lượng các cổ phiếu thành phần i trong chỉ số.
Pi : giá cổ phiếu thành phần i


PPRI1  PPRI 0
PPRI 0

(1.3)

Với:
PRi là thu nhập từ chênh lệch giá của cổ phiếu thành phần i (viết ở dạng số thập phân)
Pi1 là giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm cuối.
Pi0 là giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm ban đầu.
Vì thu nhập từ chênh lệch giá của chỉ số bằng với tỷ trọng trung bình của thu
nhập từ chênh lệch giá các cổ phiếu thành phần, nên có thể viết:
𝑁
PRI = ∑𝑁
𝑖=1 𝑤𝑖 𝑃𝑅𝑖 = ∑𝑖=1 𝑤𝑖 (

𝑃𝑖1 − 𝑃𝑖0
𝑃𝑖0

)(1.4)

Với:
PRI : thu nhập từ chênh lệch giá của chỉ số danh mục đầu tư (được viết ở dạng số thập
phân)
PRi : thu nhập từ chênh lệch giá của cổ phiếu thánh phần i (được viết ở dạng số thập
phân)
N : số lượng các cổ phiếu riêng lẻ trong chỉ số.
Wi : tỷ trọng của cổ phiếu i



Tổng thu nhập của một chỉ số được tính toán dựa trên tỷ trọng trung bình của tổng
thu nhập của các cổ phiếu thành phần. Tổng thu nhập của mỗi thành phần cổ phiếu trong
chỉ số được tính toán như sau:
TRi =

𝑃1𝑖 − 𝑃0𝑖 + 𝐼𝑛𝑐𝑖
𝑃0𝑖

(1.7)


5

Với:
TRi tổng thu nhập của các cổ phiếu thành phần i (như 1 số thập phân).
Poi giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm ban đầu
P1i giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm cuối.
Inci : tổng thu nhập (cổ tức/tiền lãi) từ cổ phiếu i trong một khoảng thời gian.
Bởi vì tổng thu nhập của chỉ số được tính toán dựa trên tỷ trọng trung bình của
tổng thu nhập các cổ phiếu thành phần, nên có thể thể hiện tổng thu nhập như sau:
𝑁
TRI = ∑𝑁
𝑖=1 𝑤𝑖 𝑇𝑅𝑖 = ∑𝑖=1 𝑤𝑖 (

𝑃1𝑖 − 𝑃𝑂𝑖 +𝐼𝑛𝑐𝑖
𝑃0𝑖

)(1.8)

Phương trình 8 có thể được viết lại 1 cách đơn giản:

Chỉ số giá đa thị trường thường bao gồm các chỉ số từ những quốc gia khác nhau
và được đưa ra để đại diện cho những thị trường có nhiều cổ phiếu. Chỉ số đa thị trường
có thể đại diện cho những thị trường đa quốc gia, khu vực địa lý, những nhóm phát triển
kinh tế và trong một số trường hợp là đại diện cho toàn bộ thế giới. Chỉ số đa quốc gia
quan trọng đối với những nhà đầu tư tiếp cận toàn cầu để đầu tư vốn mà không có bất
kỳ một sự thiên vị nào về một vùng hay quốc gia cụ thể. Một số nhà cung cấp chỉ số sẽ
công bố một loạt các chỉ số giá đa thị trường.
Một số nhà cung cấp chỉ số đo lường các cổ phiếu trong mỗi quốc gia bằng vốn
hóa thị trường và sau đó đo lường toàn bộ các chỉ số của mỗi quốc gia tương ứng với
GDP của quốc gia đó, tạo ra cách đo lường cơ bản trong các chỉ số đa thị trường. Chỉ
số tỷ trọng GDP là một vài chỉ số được tạo ra bởi chỉ số đo lường cơ bản đầu tiên. Được
giới thiệu vào năm 1987 bởi MSCI để giải quyết 60% tỷ trọng vốn Nhật Bản trong chỉ
số vốn hóa thị trường có điều chỉnh MSCI EAFE lúc bấy giờ, chỉ số tỷ trọng GDP giảm
sự phân bổ vốn Nhật Bản đi một nửa.
1.1.3.3.

Chỉ số giá khu vực.

Chỉ số giá khu vực đại diện cho các khu vực kinh tế khác nhau như hàng hóa tiêu
dùng, năng lượng, tài chính, chăm sóc sức khỏe và kỹ thuật hoặc nền tảng quốc gia, khu
vực, toàn cầu. Bởi vì các khu vực khác nhau của nền kinh tế sẽ hành xử khác nhau trong
diễn biến chu kỳ kinh tế, một số nhà đầu tư có thể tìm kiếm để làm tăng hoặc giảm tỷ
trọng hàng hóa bán ra đối với các khu vực riêng biệt.
Chỉ số giá khu vực được thiết lập như một hệ thống, mỗi chỉ số đại diện cho mỗi
khu vực kinh tế. Điển hình, sự tập hợp của các chỉ số khu vực là tương đương với chỉ
số thị trường chung. Sự phân loại chỉ số kinh tế có thể ứng dụng trên nền tảng toàn cầu,

1

Mặc dù cái tên của nó, the Wilshire 5000 không bị ép buộc về số lượng chứng khoán được bao gồm. Nó bao

cũng như cổ phiếu tăng trưởng hay giá trị. Các nhà cung cấp chỉ số khác nhau sử dụng
các nhân tố khác nhau và tỉ lệ giá trị (tỉ lệ giá theo sổ sách thấp, tỉ lệ giá theo thu nhập
thấp, chi trả cổ tức cao…) để phân biệt giữa nhóm cổ phiếu tăng trưởng và nhóm cổ
phiếu giá trị.
1.1.4. Ý nghĩa của chỉ số giá cổ phiếu
Những chỉ số ban đầu được tạo ra để đưa ra một nhìn nhận về một thị trường
chứng khóan cụ thể thực hiện như thế nào vào một ngày nhất định. Với sự phát triển
của các lý thuyết tài chính hiện đại, những lợi ích trong việc quản lý đầu tư được mở
rộng đáng kể. Lợi ích chính của các chỉ số bao gồm:


8

-

Đo lường tâm lý thị trường.

-

Đại diện cho đo lường và mô hình hóa lợi nhuận, rủi ro hệ thống, và thực hiện

điều chỉnh rủi ro.
-

Đại diện cho hạng mục tài sản cho những mô hình phân cấp tài sản.

-

Tiêu chuẩn cho quản lý tích cực danh mục đầu tư.


của một chứng khóan đối với toàn bộ thị trường. Danh mục đầu tư thị trường trong
CAPM bao gồm tất cả các cổ phiếu rủi ro. Để đại diện cho hiệu suất của các danh mục
đầu tư thị trường, các nhà đầu tư sử dụng một chỉ số chung. Chỉ số giá Tokyo (TOPIX)
và chỉ số S&P 500 thường phục vụ như các đại diện cho danh mục đầu tư thị trường tại
Nhật Bản và Hoa Kỳ, tương ứng, và được sử dụng để đo lường và mô hình hóa rủi ro
hệ thống và lợi nhuận thị trường.


9

Các chỉ số giá TTCK cũng được sử dụng như là đại diện thị trường khi đo lường
hiệu suất điều chỉnh rủi ro. Hệ số beta của một danh mục đầu tư được quản lý tích cực
cho phép các nhà đầu tư tạo ra một giải pháp thay thế thụ động với cùng một mức độ
rủi ro hệ thống.
1.1.4.3.

Đại diện cho các loại tài sản trong các mô hình phân cấp tài sản.

Những chỉ số chỉ ra sơ lược rủi ro và lợi nhuận của nhóm cổ phiếu. Đóng một
vai trò quan trọng như các đại diện cho các loại tài sản trong các mô hình phân cấp tài
sản và cung cấp dữ liệu lịch sử sử dụng để làm mẫu cho những rủi ro và lợi nhuận của
những loại tài sản khác nhau.
1.1.4.4.

Tiêu chuẩn cho quản lý tích cực danh mục đầu tư.

Những nhà đầu tư thường sử dụng những chỉ số giá như tiêu chuẩn để đánh giá
hiệu suất của những danh mục đầu tư quản lý tích cực. Chỉ số được lựa chọn như một
tiêu chuẩn nên phản ánh chiến lược đầu tư của nhà quản lý.
Sự lựa chọn một chỉ số giá để sử dụng như một tiêu chuẩn là quan trọng vì một

1.1.4.6.

Phong vũ biểu cho nền kinh tế

Mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và các chỉ số của thị trường tài chính
đã được nghiên cứu đầu tiên bởi Goldsmith(1969), Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973),
đây là những nhà khoa học đã tìm thấy được bằng chứng về mối liên hệ này. Và các nhà
nghiên cứu khác đã phát triển nên lý thuyết từ các nghiên cứu thực nghiệm này như
Greenwood và Jovanovic (1990) hay Pagano (1993), các nhà nghiên cứu này đã tìm
được bằng chứng chứng minh tác động cùng chiều của chỉ số tài chính đến tăng trưởng
kinh tế.
Ake và Dehuan (2010) sử dụng Granger Causality Test để tìm kiếm mối quan hệ
giữa thị trường cổ phiếu thông qua các chỉ số vốn hóa thị trường, tổng khối lượng giao
dịch, lợi nhuận thị trường đến tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia (France và United
Kingdom). Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa thị trường cổ
phiếu và tăng trưởng kinh tế ở Pháp và Anh, tuy nhiên hai nhà khoa học này lại không
tìm thấy mối quan hệ trên ở Bồ Đào Nha và Bỉ.
Harris(1997) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thị
trường cổ phiếu và tăng trưởng kinh tế và đưa ra kết luận rằng không có bằng chứng
mạnh mẽ về hoạt động của thị trường cổ phiếu giúp ích cho sự phát triển kinh tế.
Ake và Ognaligui(2010) sử dụng Granger Causality Test để xác định mối quan
hệ giữa thị trường cổ phiếu và tăng trưởng kinh tế ở Cameron, dựa vào dữ liệu chuỗi
thời gian từ năm 2006-2010. Và họ chỉ ra rằng chỉ số cổ phiếu Douala Stock Exchange
không có tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng không có một kết quả nghiên cứu đồng
nhất nào về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thị trường cổ phiếu, tuy nhiên, số


11



Thời gian chỉ số được tái cân bằng

-

Thời gian kiểm tra lại việc lựa chọn cổ phiếu và định tỷ trọng của các cổ phiếu
thành phần

1.2.3. Thị trường mục tiêu và lựa chọn cổ phiếu.
Thị trường mục tiêu quyết định toàn bộ các đầu tư và các cổ phiếu có hiệu lực
kể cả các chữ số. Một khi mà toàn bộ đầu tư được xác định, số lượng các cổ phiếu và
các cổ phiếu đặc trưng bao gồm các chỉ số phải được xác định. Các cổ phiếu thành phần
có thể gần như đại diện cho toàn bộ trong thị trường mục tiêu hay 1 mẫu đại diện của
thị trường mục tiêu. Một vài chỉ số cổ phần như chỉ số S&P 500 và FTSE 100, ấn định
số lượng các cổ phiếu được xác định trong các chỉ số và cho biết con số này trong tên
các chỉ số. Những chỉ số khác cho phép số lượng các cổ phiếu được biến đổi để phản
ánh sự thay đổi trong thị trường mục tiêu hay duy trì tỷ lệ phần trăm chắc chắn của thị
trường mục tiêu.
1.2.3.1.

Chỉ số tỷ trọng.

Việc quyết định tỷ trọng mỗi cổ phiếu bao gồm các chỉ số và có ảnh hưởng đáng
kể đến giá trị của chỉ số. Người xây dựng chỉ số sử dụng một số phương pháp để tính
toán tỷ trọng các cổ phiếu thành phần trong chỉ số. Một số phương pháp là tỷ trọng theo
giá, tỷ trọng ngang bằng, tỷ trọng vốn hóa thị trường, tỷ trọng căn bản. Mỗi phương
pháp định tỷ trọng có những ưu và khuyết điểm riêng.
 Tỷ trọng theo giá.
Phương pháp đơn giản nhất để tính các chỉ số và cách mà Charles Dow xây dựng
chỉ số trung bình công nghiệp Dow- Jones là tính tỷ trọng theo giá. Với phương pháp

1
𝑁

(1.11)

Trong đó:
wi: tỷ số trong danh mục được phân phối theo cổ phiếu i hay tỷ trọng cổ phiếu i
N: Số cổ phiếu i trong chỉ số
Như phương pháp tính tỷ trọng theo giá, những lợi ích ban đầu của tỷ trọng ngang
bằng là đơn giản. Tuy nhiên, tỷ trọng ngang bằng có một số những bất lợi. Thứ nhất,
những cổ phiếu mà chiếm một phần lớn nhất trong giá trị thị trường mục tiêu thì thiếu
tính đại diện, và những cổ phiếu chiếm một phần nhỏ trong giá trị thị trường mục tiêu
thì tính đại diện quá cao. Thứ hai, sau những chỉ số được cấu thành và gía của mỗi cổ
phiếu thành phần thay đổi, thì chỉ số không còn ngang bằng theo tỷ trọng nữa. Do đó,
việc duy trì tỷ trọng ngang bằng theo yêu cầu phải thường xuyên điều chỉnh tái cân bằng
cho chỉ số.


2

Tỷ trọng vốn hóa thị trường

Một chứng khoán bị phân hóa là số lượng cổ phần đặc trưng tăng lên và tỷ lệ giảm trong giá mỗi cổ phần rằng

tổng vốn cổ phần của gía trị thị trường cũng như tỷ lệ sỡ hữu của các nhà đầu tư trong công ty là không thay đổi.


14

Trong tỷ trọng vốn hóa thị trường, hoặc tỷ trọng giá trị, tỷ trọng trên mỗi cổ phiếu

như là “những chỉ số tỷ trọng vốn hóa thị trường thả nổi có điều chỉnh”.
Những chỉ số vốn hóa thị trường thả nổi có điều chỉnh phản ánh những cổ phần
mà sẵn sàng được chuyển nhượng bằng cách nhân giá thị trường mỗi cổ phần với số cổ
phần thực sự đang lưu hành.


15

Tỷ trọng vốn hóa thị trường điều chỉnh linh hoạt của cổ phiếu thứ i được tính
như sau:
𝑓𝑖𝑄𝑖𝑃𝑖

𝑤𝑖𝑀 = ∑𝑁

𝑗=1 𝑓𝑗𝑄𝑗𝑃𝑗

(1.14)

Trong đó:
fi: tỷ số của những cổ phần thực sự lưu hành trên thị trường
wi: tỷ số trong danh mục đầu tư được phân phối theo cổ phiếu thứ i hay tỷ trọng của
cổ phiếu thứ i
Qi: số cổ phần đang lưu hành của cổ phiếu i
Pi: giá cổ phần của cổ phiếu i
N: tổng số cổ phiếu trong chỉ số
Những lợi ích ban đầu của tỷ trọng vốn hóa thị trường có điều chỉnh cho thấy những
cổ phiếu thành phần được tổ chức theo danh mục giá trị của chúng trong thị trường mục
tiêu. Những bất lợi ban đầu chỉ ra rằng những cổ phiếu thành phần, giá của chúng tăng
nhanh nhất (giảm nhanh nhất) có một tỷ trọng lớn hơn (hay thấp hơn) trong chỉ số (ví
dụ, như giá cổ phiếu tăng lên mà có liên quan tới các cổ phiếu khác trong chỉ số, tỷ


Tương quan với chỉ số vốn hóa thị trường, một chỉ số căn bản với tỷ trọng dựa
vào một yếu tố như là một khoản thu nhập sẽ cho kết quả một tỷ trọng lớn hơn trong cổ
phiếu thành phần so với những khoản lợi nhuận mà lớn hơn so với các khoản lợi nhuận
từ danh mục đầu tư trên toàn bộ tỷ trọng vốn hóa thị trường. Tương tự, những cổ phiếu
với các khoản lợi nhuận ít hơn các khoản từ các danh mục đầu tư theo tỷ trọng thị
trường.
Tính chất quan trọng nhất của tỷ trọng căn bản là dẫn đến các chỉ số mà có một
độ nghiêng giá trị. Điều này cho thấy chỉ số tỷ trọng căn bản có tỉ lệ của giá trị sổ sách,
thu nhập, cổ tức, v.v với giá trị thị trường lớn hơn tỷ trọng vốn hóa thị trường tương
ứng của nó. Ngược lại với những tác động thuận chiều của chỉ số tỷ trọng vốn hóa thị
trường, chỉ số tỷ trọng căn bản thường sẽ có những tác động nghịch mà tỷ trọng danh
mục đầu tư sẽ dịch chuyển từ những cổ phiếu đã gia tăng trong giá trị tương đối và
hướng tới những cổ phiếu giảm trong giá trị tương đối bất kì khi nào danh mục đầu tư
được cân bằng.
1.2.4. Quản lý chỉ số giá cổ phiếu
Sự quản lí chỉ số kéo theo hai vấn đề
+ Thời điểm chỉ số giá cổ phiếu nên được tái cân bằng
+ Thời điểm việc lựa chọn cổ phiếu và những quyết định tỷ trọng nên được tái
kiểm tra.
1.2.4.1.

Tái cân bằng.

Tái cân bằng liên quan đến việc điều chỉnh của những tỷ trọng cổ phiếu thành
phần có trong chỉ số. Để duy trì tỷ trọng của mỗi loại cổ phiếu phù hợp với phương
pháp tỷ trọng của chỉ số, nhà xây dựng chỉ số tái cân bằng chỉ số bằng cách điều chỉnh




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status