Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty sản xuất bao
bì và hàng xuất khẩu trong thời gian qua.
I- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT BAO BÌ
VÀ HÀNG XUẤT KHẨU HÀ NỘI.
1- Hoàn cảnh ra đời
Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu Hà Nội. Tiền thân là xí nghiệp
thương binh 27/7 Hà Nội.
Được thành lập theo quyết định số 268/CV ngày 22/8/1975 của Uỷ ban
nhân dân Thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ của Công ty là được Thành phố giao cho tiếp nhận số anh chị
em thương binh sau chiến tranh kết thúc. Không đủ điều kiện làm việc trong
các cơ quan Nhà nước (tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, tay nghề.. ) của 4
quận, huyện nơi ngoại thành để tổ chức sản xuất làm ra của cải vật chất cho xã
hội và tự nuôi sống bản thân mình. Đồng thời thực hiện chính sách hậu
phương quân đội của Đảng và Nhà nước sau chiến tranh.
Giai đoạn đầu của Công ty sản xuất các mặt hàng dây chun và chỉ khâu
cung cấp cho ngành nội thương và quân đội.
2-Quá trình phát triển.
Từ năm 1987 Nhà nước chuyển nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Công ty được bàn giao tổng tài sản: 280.826.615đồng.
Trong đó tài sản cố định: 164.405.000đồng.
Bao gồm nhà xưởng đã sử dụng trên 15 năm, các máy móc thiết bị được
sản xuất trong nước lạc hậu đã khấu hao gần hết.
Tài sản lưu động: 116.421.615đồng.
Gồm: dụng cụ văn phòng, phụ tùng thay thế, vật rẻ tiền mau hỏng dùng
cho sản xuất dây chun và chỉ khâu. Số trên đã chiếm 2/3 tài sản lưu động, số
còn lại là sản xuất chun, chỉ tồn kho không tiêu thụ được.
Số lao động là thương binh chiếm 70% tổng số lao động của Công ty.
Trong điều kiện cơ sở vật chất rất nghèo nàn, kinh nghiệm quản lý sản xuất
kỹ thuật, công nghệ...
Một niềm vinh dự to lớn đối với quá trình phát triển và trưởng thành của
Công ty là ngày 31/10/1997 Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam Trần Đức Lương đã ký quyết định tặng thưởng danh hiệu "Đơn vị anh
hùng" cho tập thể các bộ công nhân viên của Công ty.
3- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty sản xuất
bao bì và hàng xuất khẩu Hà nội trong một số năm gần đây.
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Thực hiện Thực hiện So sánh 1999 - 2000
1997 1998 1999 2000 + / - %
1.Giá trị tổng sản
lượng
Triệu đồng 4.999 7.271 9.090 16.614 +7.524 182,77
2. Tổng doanh thu
Triệu đồng 5.154 7.420 12.112 18.614 +6.502 153,68
3.Lợi nhận thuần (lợi
tức sau thuế)
Triệu đồng 378 384 532 638 +106 119,93
4.nộp ngân sách
Triệu đồng 291,7 400 800,9 964,5 +163,6 120,43
5. số lao động
Người 160 180 210 250 +40 119,05
6. thu nhập bìnhquân
Triệu đồng 0,520 0,550 0,715 0,738 +0,023 103,2
7 vốn kinh doanh
Triệu đồng 10.304 11.350 12.302 12.802 +500 104,06
- vốn cố định
nhựa các loại, bao bì carton sóng phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
1-2- Sản xuất: Công ty xác định sản xuất là chính, là khâu then chốt quyết
định sự tồn tại và phát triển của Công ty. Sản phẩm bao bì các loại được sản
xuất trên các máy móc tự động, bán tự động của nước ngoài, được chế tạo từ
năm 1993 - 1995. Chủ yếu là máy móc nhập của Đài Loan và Nhật Bản.
2. Cơ sở vật chất: Công ty hiện có 2 cơ sở:
- Cơ sở I: Số 4 đường Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội, chuyên làm văn phòng
và dịch vụ gần 4000 m
2
.
- Cơ sở II: Làng Vàng - xã Cổ Bi - huyện Gia Lâm - Hà Nội làm cơ sở sản
xuất của Công ty hơn 10.000 m
2
.
Cả 2 cơ sở này nhà xưởng tương đối khang trang và đầy đủ tiện nghi.
Công ty hiện có 15 dây chuyền sản xuất bao bì mềm gồm 30 đơn vị máy
với công suất 1.000 tấn/năm trị giá khoảng 7 tỷ đồng Việt Nam.
Ngoài ra Công ty còn có 05 xe vận tải từ 1 đến 5 tấn chuyên chở hàng
cho khách.
3-Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của Công ty đa dạng, gồm nhiều chủng loại, mẫu mã, kích cỡ
khác nhau.
Trong những năm gần đây sự phát triển của ngành công nghiệp ngày một
tăng góp phần đẩy mạnh sự nghiệp “Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá” đất
nước. Trong đó công nghiệp bao bì đã và đang phát triển mạnh trên thị
trường, ngày nay các nhà sản xuất đã thấu hiểu chuỗi xích tăng giá trị sản
phẩm bao gồm tất cả các khâu đầu vào, chế biến (sản xuất) đầu ra. Marketing,
bán hàng và dịch vụ sau bán là các khái niệm phổ thông trong nền kinh tế thị
trường. Việc đóng gói với bao bì tốt, đẹp là một việc vô cùng quan trọng trong
các khâu hoạt động này. Bao bì, đóng gói đẹp hấp dẫn sẽ tăng được giá trị
khi bán hàng và cũng như làm bao bì bảo quản được đóng cố định với sản
phẩm từ trong xưởng sản xuất, túi nilon được dùng cho công nghiệp chế biến
thực phẩm, làm bao gói cho các loại hàng đóng gói như: bánh, mứt, kẹo, mì
chính, chè, đường... cho ngành dệt và may mặc sẵn: túi bọc quần áo, chăn màn..
cho mọi ngành sản xuất khác kể cả điện tử và chế tạo máy (làm túi gói các linh
kiện, chi tiết.... ) cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự nhận thức của người tiêu
dùng, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong nền kinh tế thị trường, bao bì
đóng gói luôn được quan tâm cải tiến kế cả kiểu dáng lẫn chất lượng, mẫu
mã...
4- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Công ty đã tìm hiểu thị trường, định hướng chính xác mặt hàng sản xuất,
nắm được nhu cầu của thị trường và dự đoán cầu trong các năm tới. Công ty
đã lập dự án đầu tư chiều sâu sản xuất các loại bao bì công suất 1000 tấn/năm
và đã được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Uỷ ban Khoa học Hà Nội phê
duyệt dự án vào năm 1992 bằng các nguồn vốn: tự có, vốn vay và vốn ngân
sách cấp, hàng năm Công ty đã đầu tư các loại máy móc thiết bị mới hơn có
đặc tính kỹ thuật cao hơn, có năng suất, chất lượng đáp ứng được nhu cầu thị
trường phía Bắc và xuất khẩu.
Trong cơ chế thị trường hiện nay đã xuất hiện nhiều tổ chức, Doanh
nghiệp tư nhân cùng sản xuất chung một loại mặt hàng. Vì vậy tính cạnh tranh
cao.
Công ty nhanh chóng đổi mới lĩnh vực tổ chức quản lý điều hành sản
xuất cho phù hợp với điều kiện hoạt động, mở rộng quy mô, phạm vi kinh
doanh. Để thực hiện được sản lượng kế hoạch của các năm vấn đề mấu chốt là
phải khai thác và mở rộng thị trường.
Xác định chiến lược về thị trường, có các biện pháp phối hợp tốt trong
quá trình tiếp thị để mở rộng thị trường và tạo thế cạnh tranh. Công ty phải
mở rộng hợp tác với các cơ quan, đơn vị bạn hàng, mở rộng mạng lưới tiêu
thụ sản phẩm ra các tỉnh phía Bắc.
Liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước. Tạo nguồn đầu
TẠO HẠT
PH N XÂ ƯỞNG PPPH N XÂ ƯỞNG
HD
PH N XÂ ƯỞNG
LD
PH N XÂ ƯỞNG
CARTON SÓNG
Chức năng nhiệm vụ: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty có dạng cơ cấu
trực tuyến hợp cơ cấu này hình thành từ việc kết hợp cơ cấu tổ chức trực
tuyến nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục những nhược điểm của từng loại
hình tổ chức riêng biệt.
Lãnh đạo Công ty là một Giám đốc, là người chỉ huy cao nhất trong Doanh
nghiệp là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước tập thể cán bộ công
nhân viên chức trong Doanh nghiệp về mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, quản lý và sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất, cải
thiện và không ngừng nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên chức, là
người đại diện pháp nhân của Doanh nghiệp trong việc thực hiện đường nối
chính sách pháp lệnh của Nhà nước.
Giúp việc Giám đốc có các Phó giám đốc là người được Giám đốc uỷ quyền
cao nhất trong việc tổ chức và điều hành quản trị Doanh nghiệp từ khâu tổ
chức sản xuất đến quá trình sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm. Phó giám đốc
là người trực tiếp chỉ huy các trưởng ngành và thường là người có quyền cao
nhất thay mặt cho Giám đốc quyết định những vấn đề liên quan đến sản xuất
và báo cáo tình hình công việc cho Giám đốc.
Bộ máy của công tư được hình thành từ hai tuyến
- Tuyến chức năng: gồm các phòng ban có nhiệm vụ tham mưu cho
Giám đốc ở từng lĩnh vực:
+ Phòng hành chính tổ chức: Điều hành nhân sự, tổ chức đào tạo cán bộ,
tổ chức thi tay nghề... công tác hành chính văn phòng...
+ Phòng kế toán tài chính: có nhiệm vụ xây dựng phương án về tài chính,
3- Theo độ tuổi
- Dưới 30 Người 42 75
Tỉ lệ % 20 30
- Từ 31 đến 45 Người 153 160
Tỉ lệ % 72,86 64
Trên 45 Người 15 15
Tỉ lệ % 7,14 6
4- Theo trình độ
- Đại học và trên đại học Người 6 8
Tỉ lệ % 2,85 3,2
- Trung cấp và cao đẳng Người 10 10
Tỉ lệ % 4,76 4
- Phổ thông Người 194 232
Tỉ lệ % 92,38 92,8
5- Tính chất lao động
- Trực tiếp lao động Người 194 232
Tỉ lệ % 92,38 92,8
- Gián tiếp lao động Người 16 18
Tỉ lệ % 7,62 7,2
Qua bảng cơ cấu lao động trên ta thấy tổng số lao động của năm sau cao
hơn năm trước 40 người. Điều này cho thấy Công ty hoạt động có hướng mở
rộng hơn.
Số thương binh có giảm 15 người nhưng số con em thương binh và người
ngoài tăng 55 người qua đó ta thấy lực lượng lao động trẻ có sự bổ sung lớn
cho Công ty.
Lao động chủ yếu của Công ty là Nam, năm 1999 có 179 người chiếm
85,24 % ; năm 2000 có 215 người chiếm 86%.
Phần lớn lao động từ độ tuổi 31 đến 45 năm 1999 có 153 người chiếm
72,86%, năm 2000 có 160 người chiếm 64% còn lao động trẻ dưới 30 đã tăng
so với năm 1999.