THỰC TRẠNG SỰ CỐ TRÀN DẦU TẠI VÙNG BIỂN QUẢNG
NAM 1/2007
2.1 GIỚI THIỆU VỀ QUẢNG NAM
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền
Trung. Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km
bờ biển; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng
hoà dân chủ nhân dân Lào. Quảng Nam có 14 huyện và 2 thị xã, trong đó có 08 huyện
miền núi là Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước
Sơn, Hiệp Đức và Tiên Phước. Diện tích tự nhiên 10.406,83 km
2
, dân số 1.438,81 nghìn
người (2003), chiếm khoảng 3,1% về diện tích và 1,8% về dân số so với cả nước.
2.1.1 Vị trí địa lý kinh tế
Với vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm
miền Trung tạo cho Quảng Nam có lợi thế trong việc giao lưu kinh tế và thu hút nhà
đầu tư trong và ngoài nước.
Quảng Nam ở vào vị trí trung độ của đất nước, thuộc vùng phát triển kinh tế trọng
điểm miền Trung, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ và
đường biển và đường hàng không, có đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối
đồng bằng ven biển qua các huyện trung du miền núi của tỉnh đến biên giới Việt - Lào
và các tỉnh Tây Nguyên; trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á tạo vị
trí thuận lợi cho tỉnh về giao lưu kinh tế với bên ngoài.
Quảng Nam nằm giữa thành phố Đà Nẵng (Trung tâm kinh tế lớn của khu vực miền
Trung) và khu vực phát triển công nghiệp dịch vụ Chu Lai Dung Quất, đây là một khu
vực đang được hình thành và phát triển ở phía Nam. Cảng Kỳ Hà, sân bay Chu Lai,
cùng với diện tích mặt bằng đất cát ven biển rộng, gần hệ thống lưới điện quốc gia, có
nguồn nước ngọt dồi dào, gần trục giao thông đường bộ, đường sắt, tạo thuận lợi cho
việc hình thành các khu công nghiệp, dịch vụ du lịch, các đô thị mới.
Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Quảng Nam
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Địa hình
lượng khai thác hải sản: 90.000 tấn / năm.
• Tài nguyên rừng
Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai diện tích rừng tự nhiện tại tỉnh Quảng Nam còn
khoảng 388,8 nghìn ha với trữ lượng gỗ khoảng 30 triệu m
3
và 50 triệu cây tre nứa,
trong đó rừng giàu có khoảng 10 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các đỉnh núi cao, giao
thông đi lại khó khăn; diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và
rừng tái sinh trữ lượng gỗ trung bình khoảng 69 m
3
/ha, đường kính nhỏ chưa thể khai
thác. Ngoài gỗ (sản lượng khai thác có thể đạt trên dưới 80.000 m
3
/năm), còn có các
loại lâm sản quí như trầm, quế, sâm, trẩu, song mây...
• Tài nguyên thuỷ sản
Quảng Nam có bờ biển dài trên 125 km và thềm lục địa rộng lớn, có nguồn hải
sản phong phú thuộc vùng biển Nam Trung bộ. Theo số liệu của Viện Quy hoạch thuỷ
sản thì vùng biển Nam Trung bộ có trữ lượng cá 42 vạn tấn, khả năng đánh bắt hàng
năm 20 vạn tấn, trữ lượng mực 7000 tấn, tôm biển 4000 tấn. Trữ lượng hải sản không
có ranh giới theo tỉnh và di chuyển giữa các tỉnh trong vùng. Quảng Nam có điều kiện
để phát triển ngành đánh bắt xa bờ. Bên cạnh khai thác tiềm năng phát triển nghề khơi
cũng cần chú ý khai thác tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng ven sông, ven biển
và ở đảo Cù Lao Chàm.
• Tài nguyên khoáng sản
Nguồn tài nguyên khoáng sản của Quảng Nam là một tiềm năng đang được khai
thác, mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh với nhiều loại đa dạng và phong phú. Trong đó
đáng kể là:
- Than đá ở Nông Sơn trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đã và đang khai thác với sản
lượng năm cao nhất đạt khoảng 5 vạn tấn/năm. Ngoài ra còn có mỏ than Ngọc Kinh (trữ
%
%
1.479,1
20-22
1,39
1.579,32
28-30
1,32
1.679,7
35-38
1,24
Nguồn: Quảng Nam (2004)
Nguồn nhân lực dồi dào với truyền thống hiếu học, lao động cần cù là nhân tố quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Nhân khẩu trong tuổi lao động (15-60) hiện nay có khoảng 817,24 nghìn người
(56,8% dân số), hiện nay số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là
702,8 nghìn người, trong đó khu vực công nghiệp chiếm 7,5%, xây dựng 2,4%, nông
lâm nghiệp 70,7%, thủy sản 3,9%, khu vực dịch vụ 9,2%. Lao động chưa có việc làm
hiện nay chiếm khoảng 5,65% so với số lao động cần bố trí việc làm.
- Tỉ lệ lao động có trình độ cao đẳng, Đại học trở lên chiếm 2%, công nhân kỹ thuật
chiếm 1,4%, trung học chuyên nghiệp chiếm 2,4 % so với số lượng lao động trong độ
tuổi . Với cơ cấu lao động là 1kỹ sư tương ứng 0,7 kỹ thuật viên, 1,4 công nhân kỹ
thuật, so với tình chung của cả nước và khu vực thì chỉ số trên còn quá thấp, nguyên
nhân chủ yếu là lực lượng lao động tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đa
phần là lao động thủ công.
2.1.5 Tình hình kinh tế-xã hội
2.1.5.1 Tình hình kinh tế
Kinh tế của tỉnh năm 2007 đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 11 năm qua
(14,38%), tạo khả năng hoàn thành nhiều mức chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm