Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế và thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ - Pdf 66

Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế và thanh toán quốc tế
theo phương thức tín dụng chứng từ
1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan đến
các dịch vụ mua bán hàng hoá hay cung ứng lao vụ... giữa các tổ chức
hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hay
giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các
ngân hàng của các nước liên quan.
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được phân chia thành
hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch. Do đó thanh toán
quốc tế cũng bao gồm: thanh toán phi mậu dịch và thanh toán mậu dịch.
- Thanh toán phi mậu dịch: Là quan hệ thanh toán phát sinh không
liên quan đến hàng hoá cũng như cung ứng lao vụ, nó không mang tính
chất thương mại. Đó là những chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại
thương ở nước sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của các đoàn
khách Nhà nước, các tổ chức, cá nhân.
- Thanh toán mậu dịch: Khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu
dịch, thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và các
dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế. Thông thường trong nghiệp vụ
thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hoá kèm theo. Các bên
mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại, hoặc một
hình thức cam kết khác (thư, điện giao dịch...). Mỗi hợp đồng chỉ ra một
mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định điều kiện thanh
toán cụ thể.
Ngoài hai loại hình thanh toán nêu trên, trong thanh toán quốc tế
còn có: thanh toán vay nợ viện trợ. Thực chất loại thanh toán này cũng
là thanh toán mậu dịch, nhưng chỉ khác nhau ở nguồn vốn. Thanh toán
mậu dịch được thực hiện bằng nguồn vốn tự có, còn thanh toán vay nợ
viện trợ do nước ngoài cấp vốn.
1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
1.2.1 Đối với nền kinh tế

nhập khẩu, do vậy ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi nhuận của
các bên tham gia. Thông qua hoạt động thanh toán, chúng ta có thể
đánh giá khả năng tài chính, uy tín cũng như tiềm lực của mỗi đơn vị.
Chính vì vậy xem xét tình hình thanh toán là một trong những cơ sở để
tìm đối tác, bạn hàng trong quan hệ kinh doanh sao cho có lợi cho mình
nhiều nhất. Có thể nói rằng, kinh tế đối ngoại có được mở rộng hay
không một phần là nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế có được thực
hiện tốt hay không. Thanh toán quốc tế hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện
đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước,
khuyến khích nâng cao chất lượng hàng hoá, thực hiện mục tiêu chiếm
lĩnh thị trường xuất khẩu của các quốc gia.
1.2.2. Đối với Ngân hàng
Đối với Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Đây không chỉ là một dịch vụ thuần tuý mà còn
được coi là không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân
hàng, bổ sung và hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh khác trong Ngân
hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng thu hút thêm
nhiều khách hàng có nhu cầu thanh toán quốc tế, phần lớn là các khách
hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Trên cơ sở
đó, Ngân hàng có thể mở rộng qui mô hoạt động, tăng thêm nguồn thu
nhập, củng cố khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Trên phương diện quản lý nhà nước, thông qua hoạt động thanh
toán quốc tế, Chính phủ thực hiện tốt quản lý nguồn ngoại tệ ra vào của
một quốc gia dựa trên cán cân thanh toán quốc tế và làm cơ sở cho việc
xây dựng và thực hiện chính sách tài khoá - tiền tệ. Như vậy, trong xu
thế phát triển hiện nay thanh toán quốc tế có một vị trí rất quan trọng và
đòi hỏi các Ngân hàng phải nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ thanh
toán quốc tế.

nghĩa được phục hồi và dần dần phát triển thì quan hệ trao đổi hàng hoá
giữa các nước cũng được mở rộng, từ đó hình thành quan hệ thanh
toán Clearing tay đôi giữa các nước Xã hội chủ nghĩa với nhau.
Quá trình phát triển quan hệ thanh toán quốc tế giữa Việt Nam với
các nước Xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu từ chế độ thanh toán Clearing
hai bên (Việt nam với Liên Xô, Việt Nam với Tiệp Khắc...), tiếp đến là
chế độ thanh toán Clearing nhiều bên và thanh toán Clearing nhiều bên
bằng đồng Rup chuyển khoản qua Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế
(RCK).
Bước sang những năm 90, tình hình Thế giới có nhiều biến động
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị... Theo xu hướng mới, hệ thống các
nước Xã hội chủ nghĩa ngày càng giảm sút, tan rã..., cơ chế thanh toán
nhiều bên bằng RCK không còn phù hợp nữa vì vậy từ năm 1991, đồng
RCK đã bị loại bỏ khỏi Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế, đồng thời
Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế cũng được cải tổ lại thành một Ngân
hàng thương mại khu vực.
Từ năm 1990 trở về trước, song song với hệ thống thanh toán của
khối các nước Xã hội chủ nghĩa thì các nước Tư bản chủ nghĩa cũng
thiết lập cho riêng mình một hệ thống thanh toán Tư bản chủ nghĩa.
Trong giai đoạn hiện nay, với sự tác động mạnh mẽ của thành tựu
khoa học kỹ thuật, cùng với xu hướng mới của thời đại, quan hệ quốc tế
đã và đang chuyển sang một thời kỳ mới. Sự giao lưu hàng hoá không
còn bị giới hạn bởi chế độ chính trị của mỗi quốc gia, thị trường quốc tế
mở rộng, việc mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ sử dụng hệ thống giá
cả thống nhất vì vậy nội dung thanh toán quốc tế của mỗi nước cũng đổi
mới sử dụng các điều kiện thanh toán (phương thức, tiền tệ) thống nhất
trên phạm vi toàn Thế giới, không còn phân biệt màu sắc chính trị như
trước đây.
1.4. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
1.4.1 Phương thức chuyển tiền.

(người bán) để thực hiện nghiệp vụ uỷ thác thu.
Ngân hàng bên mua: là Ngân hàng phục vụ người mua. Ngân hàng
này thường là Ngân hàng đại lý của Ngân hàng bên bán và ở nước của
người mua.
Ngân hàng trung gian: Đứng ra làm trung gian thanh toán khi Ngân
hàng bên bán và Ngân hàng bên mua không có quan hệ đại lý với nhau
(Ngân hàng trung gian có thể có hoặc không).
Phương thức nhờ thu được phân thành hai loại: đó là phương thức
nhờ thu phiếu trơn và phương thức nhờ thu kèm chứng từ.
1.4.2.1 Phương thức nhờ thu phiếu trơn.
Đây là phương thức thanh toán mà người bán ký phát hối phiếu
nhờ Ngân hàng thu hộ số tiền bán hàng ghi trên hối phiếu từ người
mua, mà không gửi kèm theo bất cứ một chứng từ thương mại nào.
Cùng với việc gửi hàng hoá cho người mua, người bán gửi thẳng bộ
chứng từ cho người mua để người mua đi nhận hàng.
Phương thức này chỉ được áp dụng trong trường hợp:
- Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau, hoặc có quan hệ liên
doanh với nhau dưới dạng công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các chi
nhánh.
- Thanh toán các dịch vụ có liên quan tới xuất nhập khẩu hàng hoá
như tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, phạt. Do đó thanh toán này không
cần thiết phải kèm theo chứng từ.
Phương thức này ít được sử dụng trong thanh toán quốc tế vì
không đảm bảo quyền lợi cho người bán và người mua do việc nhận
hàng và thanh toán hoàn toàn tách rời nhau.
1.4.2.2 Phương thức nhờ thu kèm chứng từ.
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó người
bán sau khi giao hàng, ký phát hối phiếu và kèm theo với bộ chứng từ
gửi hàng hoá để nhờ Ngân hàng thu hộ tiền từ người mua. Với điều kiện
là Ngân hàng chỉ trao bộ chứng từ cho người mua để đi nhận hàng sau

đem lại sự bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia
trong quá trình mua bán. Cùng vớí sự tham gia của các ngân hàng trong
quá trình thanh toán, rủi ro được hạn chế và chia đều cho người mua và
người bán. Đây cũng chính là nội dung chính của đề tài nghiên cứu.
* Khái niệm và đặc điểm thư tín dụng.
Theo định nghĩa trong UCP 600 (Quy tắc và thực hành thống nhất
tín dụng chứng từ, bản sửa đổi năm 1993, số xuất bản 600 do phòng
Thương mại quốc tế Paris phát hành), tín dụng chứng từ là bất cứ thỏa
thuận nào trong đó Ngân hàng phát hành hành động theo yêu cầu và chỉ
thị của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) hoặc nhân danh
chính bản thân mình để:
- Thanh toán cho, hoặc theo lệnh của phía thứ ba (người hưởng lợi)
hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người hưởng lợi ký phát,
hoặc
- Uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền, chấp nhận và thanh toán
hối phiếu hoặc cho phép Ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định
trong thư tín dụng với điều kiện chúng phù hợp với tất cả các điều
khoản và điều kiện của thư tín dụng.
Với giác độ là một phương thức thanh toán, tín dụng chứng từ có
lợi cho cả người mua và người bán. Người mua yêu cầu ngân hàng mở
một thư tín dụng trong đó ngân hàng cam kết sẽ trả tiền cho người bán
nếu họ xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ chứng tỏ rằng họ đã
giao hàng theo đúng yêu cầu của thư tín dụng. Như vậy, người bán tin
chắc sẽ nhận được tiền hàng đã xuất khi anh ta thực hiện nghĩa vụ của
mình là lập và xuất trình chứng từ đầy đủ, đúng hạn như đã quy định
trong Thư tín dụng tại ngân hàng được chỉ định. Còn đối với người mua
thì quyền lợi của anh ta cũng được đảm bảo chỉ trả tiền khi hàng hoá đã
được giao thể hiện qua bộ chứng từ mà người bán xuất trình theo L/C.
Ngân hàng không đơn thuần là một trung gian thu hộ mà là người
đại diện bên nhập khẩu, trực tiếp cam kết thanh toán tiền hàng cho bên

- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising bank): thường là
Ngân hàng đại lý của Ngân hàng mở thư tín dụng hoặc Ngân hàng bên
bán. Đây là Ngân hàng ở nước người bán.
- Ngân hàng xác nhận (Confirming bank), Ngân hàng chiết khấu
(Negotiating bank), Ngân hàng trả tiền (Reimbursing bank): các Ngân
hàng này có thể có hoặc không tùy thuộc vào yêu cầu của người mua
trong đơn xin mở thư tín dụng và sự uỷ nhiệm của Ngân hàng mở thư
tín dụng.
* Quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
Ng©n hµng më th­ tÝn dông
Ng­êi NhËp khÈu
Ng©n hµng th«ng b¸o th­ tÝn dông
Ng­êiXuÊt khÈu
(8) (7) (2)
(3)(5)(6)
(6) (5) (4)
(1)
Tùy từng trường hợp cụ thể, tùy vào yêu cầu của người xin mở thư
tín dụng và tùy vào sự uỷ nhiệm của Ngân hàng mở thư tín dụng mà
trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có sự tham gia của
bao nhiêu Ngân hàng, Ngân hàng nào là Ngân hàng thông báo, Ngân
hàng trả tiền, Ngân hàng chấp nhận hay Ngân hàng chiết khấu và với
mỗi trường hợp thì trình tự thực hiện của phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ cũng lại khác nhau. Trong khuôn khổ của mục này, em
xin trình bày trình tự thực hiện của phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ khi có sự tham gia của hai Ngân hàng đó là Ngân hàng mở
thư tín dụng và Ngân hàng thông báo (là Ngân hàng đại lý của Ngân
hàng mở thư tín dụng ở nước người xuất khẩu), trong đó Ngân hàng
mở thư tín dụng là Ngân hàng trả tiền. Đây là trường hợp thường xảy ra
trong thực tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status