cơ sở lý luận về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ - Pdf 64

cơ sở lý luận về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1.Bản chất của thanh toán quốc tế
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Mỗi quốc gia đều có đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hội tạo
nên lợi thế tương đối của quốc gia đó trong việc xuất khẩu hàng
hoá.Do đó phân công lao động quốc tế ra đời một cách khách quan
và ngày càng sâu sắc. Điều đó đòi hỏi các nước phải tham gia vào quá
trình hợp tác và trao đổi quốc tế.
Thanh toán quốc tế là khâu không thể thiếu được trong thương
mại quốc tế. Thanh toán quốc tế quốc tế thực hiện tốt là cơ sở thúc
đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Thanh toán trong nội bộ
quốc gia đã phức tạp, thanh toán quốc tế còn khó khăn hơn rất nhiều
do ảnh hưởng của các yếu tố tiền tệ, tín dụng, sự khác biệt về ngôn
ngữ, tập quán... Chính vì vậy, khi nền kinh tế thị trường phát triển thì
thanh toán quốc tế sẽ ngày càng phức tạp, điều đó đòi hỏi các ngân
hàng thương mại cũng như các bên tham gia phải hiểu rõ bản chất
của thanh toán quốc tế, đồng thời tuân thủ một cách nghiêm túc trên
nguyên tắc “bình đẳng - cùng có lợi”.
Như vậy, thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi
trả về tiền tệ phát sinh từ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín
dụng giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của
các nước khác nhau để thúc đẩy một chu trình hoạt động trong lĩnh
vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên
các tài khoản tại ngân hàng....
1.2.Vai trò của ngân hàng thương mại trong thanh toán quốc
tế
Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát
triển kinh tế của loài người. Từ thế kỷ thứ V, ở Châu Âu đã hình thành

nhận trả tiền trong giao dịch, mua bán ngoại thương giữa người
nhập khẩu và người xuất khẩu. Mỗi phương thức thanh toán đều có
ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Vì vậy việc lựa chọn phương thức
thanh toán thích hợp phải được hai bên thoả thuận bàn bạc và ghi
vào hợp đồng mua bán ngoại thương. Việc lựa chọn phương thức
thanh toán nào cũng phải xuất phát từ người mua là nhập hàng đúng
số lượng, chất lượng và đúng thời hạn, từ yêu cầu của người bán là
thu hồi tiền nhanh và đầy đủ.
Tại ngân hàng thương mại các phương thức thanh toán được sử
dụng chủ yếu gồm.
1.3.1. Phương thức ghi sổ (open account)
Đây là phương thức thanh toán mà qua đó đơn vị xuất khẩu khi
cung ứng hàng hoá dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một
cuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này được
thực hiện trong từng thời kỳ nhất định. Phương thức này ngân hàng
không tham gia là người mở tài khoản và thực thi thanh toán.
- Ưu điểm: Phương thức này có lợi cho người mua bởi người
mua có thể mua chịu hàng và chỉ thanh toán thường xuyên trong một
thời kỳ nhất địng (6 tháng, 1 năm).
- Nhược điểm: Phương thức này chỉ áp dụng trong không gian
hẹp là thanh toán nội địa và người mua, người bán thực sự tin cậy
nhau.
1.3.2. Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Đây là phương thức thanh toán mà trong đó khách hàng (người
trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định
cho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền mà khách hàng yêu cầu. Các phương tiện
này là Séc, Điện vàThư.
- Ưu điểm: Là phương tiện thanh toán đơn giản, thuận tiện,
thanh toán trực tiếp giữa bên mua và bên bán, ngân hàng chỉ giữ vai

mua trả tiền hối phiếu hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu. Tuỳ theo
điều kiện trả tiền mà phương thức này chia làm hai loại:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documentary against
payment-D/P) phương thức này chỉ sử dụng khi người bán trả tiền
ngay.
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documentary against
acceptance- D/A) phương thức này chỉ áp dụng trong trường hợp
mua chịu.
So với trường hợp nhờ thu phiếu trơn phương thưc này đảm
bảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán khống chế bộ chứng
từ. Tuy nhiên ngân hàng chỉ có trách nhiệm là trung gian thu hộ tiền
mà không có trách nhiệm gì về việc trả tiền của người mua cũng như
kiểm tra bộ chứng từ. Phương thức này chỉ áp dụng trong trường
hợp hàng bán lần đầu, hàng ứ đọng, khó tiêu thụ, thu cước phí vận
tải...
1.3.4.Phương thức tín dụng chứng từ (letter credit)
Đây là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến
nhất hiện nay. Với những đặc điểm của phương thức thanh toán này
nó bảo vệ được quyền lợi của cả người mua lẫn người bán. Nội dung
của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo
“quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ - UCP do
phòng thương mại quốc tế ban hành -ICC”.
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân hàng
không những là trung gian thu hộ và chi hộ mà còn là người đại diện
cho nhà nhập khẩu thanh toán cho bên xuất khẩu.
Việc đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu lẫn xuất khẩu
trong quan hệ thương mại đòi hỏi phải nắm vững các nghiệp vụ
thanh toán tín dụng chứng từ.
2.PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
2.1.Khái niệm của tín dụng chứng từ

diện cho người nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành.
- Người hưởng lợi (beneficiary) là người bán, người xuất khẩu
hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng thông báo (advising bank) là ngân hàng được ngân
hàng phát hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu về việc mở thư
tín dụng.
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào
phương thức thanh toán này như:
- Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận
trách nhiệm thanh toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành
không thể thanh toán chứng từ phù hợp với điều khoản của L/C.
Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo L/C hay
là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu.
- Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàng
được ngân hàng phát hành chỉ định để thực hiện việc thương
lượng, chiết khấu hay thanh toán L/C. Lúc đó ngân hàng đóng
vai trò là ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) hoặc ngân
hàng thanh toán (paying bank).
- Ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) là một ngân hàng
được ngân hàng mở L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay
mình trả tiền.
- Ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) là ngân hàng được
ngân hàng được ngân hàng mở L/C cho phép đứng ra mua hối
phiếu hay thương lượng chứng từ do người bán ký phát cho
ngân hàng.Tuỳ theo quy định của L/C mà ngân hàng chiết khấu
thường là ngân hàng thông báo hoặc là ngân hàng thứ ba nào
đó do ngân hàng mở L/C quy định.
- Người được chuyển nhượng là người nhận các quyền và
nghĩa vụ do người hưởng lợi chuyển.
Trong thực tế nghiệp vụ tín dụng chứng từ không nhất thiết

tín dụng và khi nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho
người xuất khẩu sau khi đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng.
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụngthì tiến hành giao
hàng, nếu có điều khoản nào đó trong thư tín dụng chưa thoả mãn thì
tiến hành đề nghị ngân hàng mở thư tín dụng và nhà nhập khẩu sửa
đổi, bổ xung thư tín dụng cho phù hợp hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ
thanh toán theo yêu cầu của thư tín dụng, xuất trình thông qua ngân
hàng thông báo hoặc một ngân hàng nào đó được chỉ định trong thư
tín dụngđể yêu cầu thương luợng, chiết khấu hay gửi chứng từ cho
ngân hàng mở thư tín dụng.
(6) Ngân hàng này sẽ kiểm tra chứng từ, làm thủ tục đòi tiền theo
chỉ thị của thư tín dụng và gửi chứng từ cho ngân hàng mở thư tín
dụng.
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ và trong vòng
7 ngày kể từ ngày nhận chứng từ phải thông báo cho ngân hàng
thông báo (hoặc ngân hàng được chỉ định) về việc chấp nhận thanh
toán hay không. Nếu chứng từ phù hợp với thư tín dụng thì tiến hành
trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu chứng từ không phù hợp ngân
hàng từ chối thanh toán và trả toàn bộ chứng từ cho người nhập
khẩu.
(8) Ngân hàng thông báo (hoặc ngân hàng được chỉ định) tiến hành
thanh toán cho người xuất khẩu hoặc trả lại bộ chứng từ cho người
xuất khẩu.
(9) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển
bộ chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu chỉ sau khi người nhập
khẩu thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
(10) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với
thư tín dụng thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho ngân hàng mở
thư tín dụng theo thoả thuận hoàn trả đã kí, nếu không phù hợp có

thế chấp mở một L/C cho người hưởng lợi khác với nội dung gần
giống nội dung như L/C ban đầu, L/C mở lần sau gọi là L/C giáp
lưng.
Về cơ bản L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau nhưng có một số
điểm khác nhau.
Người thụ hưởng (người xuất khẩu) L/C gốc lại là người xin
mở L/C giáp lưng.
Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc.
Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênh
lệch này do người trung gian hưởng dùng để trả tiền chi phí mở L/C
giáp lưng và phần hoa hồng của họ.
2.4.5. Thư tín dụng ứng trước điều khoản đỏ (Advanced letter of
credit, Red clause letter of credit)
Loại thư tín dụng này gọi là điều khoản đỏ, vì điều khoản ban
đầu được viết bằng mực đỏ để lưu ý tính chất riêng biệt của loại thư
tín dụng này.
Theo nguyên tắc của thư tín dụng ứng trước và theo yêu cầu của
người mở L/C, ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận phải
ứng trước tiền cho người thụ hưởng trước khi họ xuất trình các
chứng từ hợp lệ trong thời hạn ấn định. Thông thường ngân hàng
phục vụ người thụ hưởng đứng ra bồi hoàn khoản tiền ứng trước
này.
2.4.6. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit)
Thư tín dụng tuần hoàn là loại L/C không thể huỷ bỏ, sau khi sử
dụng xong đã hết hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ cứ như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status