CHƯƠNG III:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG THANH
TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.Phương hướng và mục tiêu phát triển của Sở giao dịch I
trong thời gian tới:
Trong thời gian qua, những kết quả SGDI đạt được đã được các cấp lãnh đạo
ghi nhận và đánh giá cao. Năm 2005 được Tổng giám đốc công nhận là đơn vị dẫn
đầu hệ thống và đang đề nghị Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương lao động
hạng 2. Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hoạt động ngân
hàng, toàn thể cán bộ nhân viên SGDI quyết tâm thực hiện và phấn đấu những mục
tiêu đề ra:
- Đột phá, đi đầu và là mẫu hình của NHĐT&PTVN trong hội nhập. Là hạt
nhân, động lực quyết định trong tăng trưởng của toàn hệ thống NHĐT&PTVN. Đi
đầu trong ứng dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến, giữ vai trò hỗ trợ và lan toả đến
toàn hệ thống. Thực hiện một số nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của hệ thống với
chức năng là đơn vị đầu mối, trung tâm trong một số hoạt động như thanh toán,
kinh doanh tiền tề, điều hoà vốn.
- Đẩy mạnh tiến độ cải thiện cơ cấu, kiểm soát chặt chẽ hoạt động,phấn đấu
hiệu quả kinh doanh cao hơn mức bình quân trên toàn hệ thống, tăng trưởng trên
cơ sở bền vững, đảm bảo an toàn trong hoạt động.
- Phát huy tốt vai trò đầu mối trong tổ chức triển khai thoả thuận hợp tác
toàn diện với các Tổng công ty lớn, các định chế tài chính của toàn ngành. Đột phá
về phát triển dịch vụ cả về quy mô ứng dụng cũng như hiệu quả sản phẩm, tạo
dựng vị thế của NHĐT&PTVN đặc biệt trên địa bàn thủ đô Hà nội.
- Tập trung mở rộng mạng lưới hoạt động trên địa bàn Hà nội, chuyển hướng
và đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng, tín dụng bán lẻ.
- Đào tạo chuyên sâu đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, đáp ứng tốt yêu
cầu hội nhập ngân hàng, đặc biệt giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ.
* Phương hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế:
- Mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu cho sử dụng
dịch vụ của khách hàng đặc biệt trên địa bàn thủ đô Hà nội.
giao dịch với ngân hàng. Tuy nhiên, công tác này không chỉ dừng lại ở lần đầu tiên
khách hàng tới đặt quan hệ với ngân hàng mà còn cần được tiến hành một cách
thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình ngân hàng có quan hệ với khách
hàng.
Ngoài việc kiểm tra, phân tích, đánh giá năng lực tài chính của khách hàng,
phương án kinh doanh của khách hàng mở L/C cũng như đối tác kinh doanh nước
ngoài của khách hàng, SGDI cũng cần quan tâm đến tư cách của khách hàng mở
L/C và đối tác của khách hàng nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán cũng như
chính sách khách hàng của SGDI đề ra.
Để thực hiện tốt công tác này đòi hỏi các phòng trong bộ máy tổ chức của
SGDI phải có quan hệ chặt chẽ với nhau trong các khâu thực hiện. Cụ thể: Khi
SGDI tiến hành mở L/C cho khách hang- người nhập khẩu cũng đồng nghĩa với
việc SGDI đã cấp tín dụng cho khách hàng (đây là tín dụng ngắn hạn vì L/C nhập
khẩu mở tại SGDI chủ yếu là L/C thanh toán ngay hoặc trả chậm dưới 1
năm).Trước khi chấp nhận đơn xin mở L/C của khách hàng thì phòng TTQT cần có
thông tin về khách hàng thông qua phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp và
phòng tín dụng. Mục đích của việc làm này là nhằm kiểm tra năng lực tài chính của
khách hàng, đối tượng khách hàng( có quan hệ thường xuyên hay lần đầu); năng
lực pháp lý của khách hàng; đánh giá phẩm chất đạo đức của khách hàng thông qua
đánh giá tính đảm bảo nguyên tắc trong quan hệ vay trả, tính trung thực trong quan
hệ quốc tế, tính nghiêm túc trong việc chấp hành luật lệ của nhà nước…Thông qua
đó sẽ quyết định mức độ ký quỹ cho từng đối tượng khách hàng.
Tuy nhiên, muốn làm tốt công tác trên, yêu cầu đặt ra là cần có sự phối hợp
đồng bộ với việc xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có tư cách
đạo đức và nghề nghiệp, nhiệt tình trong công tác và phải xây dựng hệ thống cơ sở
hạ tầng thuận lợi, hiện đại phục vụ cho hoạt động.
2.2. Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ.
Cán bộ ngân hàng là người trực tiếp làm việc với khách hàng, do vậy đòi hỏi
cán bộ lãnh đạo cũng như cán bộ trực tiếp làm công tác thanh toán L/C không chỉ
có trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn mà còn có phẩm chất đạo đức, tinh
trường đại học , chuyên ngành đạt loại khá giỏi, thông thạo ngoại ngữ, tin học…Có
như vậy mới có thể đáp ứng yêu cầu của SGDI trong thời gian tới.
2.3. Tiếp tục thực hiện tốt công tác hiện đại hoá công nghệ ngân hàng:
Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại Việt nam nói chung và
ngân hàng đầu tư và phát triển nói riêng đã áp dụng nhiều công nghệ cao trong
kinh doanh đối ngoại, phục vụ đắc lực cho mục tiêu hoà nhập vào cộng đồng khu
vực và trên thế giới. Tại Việt nam các ngân hàng đã áp dụng phần mềm SWIFT
tiên tiến phù hợp với công nghệ của các ngân hàng đại lý ở nước ngoài.
Với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và năng lực cạnh tranh của
các ngân hàng, vì vậy trong thời gian qua, NHĐT&PTVN đã đầu tư vốn cho việc
nâng cấp trang thiết bị máy móc, cải tiến và nâng cấp các chương trình tin học,
phần mềm ứng dụng, thiết bị phục vụ các giao dịch cho các dịch vụ mới. Những kỹ
thuật tiên tiến này đã phần nào giúp cho hoạt động thanh toán của ngân hàng ngày
càng an toàn và có hiệu quả hơn.
Ngân hàng cũng đã triển khai nhiều dự án và chương trình phục vụ cho hoạt
động thanh toán như thực hiện tốt chương trình TF-SIBS là phần mềm do nhà thầu
Sliverlake cung cấp, phục vụ cho hoạt động thanh toán quốc tế đảm bảo an toàn
trong toàn hệ thống và tự động thực hiện các giao dịch khi nó thoả mãn các điều
kiện.
SGDI là nơi thực hiện và triển khai đề án tái cơ cấu hoạt động ngân hàng
của NHĐT&PTVN, sau 5 năm triển khai các mục tiêu cơ bản đề ra đã được hoàn
thành. Với những thành công đạt được, SGDI vinh dự là đầu mối phục vụ thanh
toán và phối hợp quản lý trên 700 triệu USD từ nguồn trái phiếu quốc tế của Tổng
công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
Trong thời gian tới, yêu cầu đặt ra đối với SGDI là phải biết tận dụng những
thành công đã đạt được và cố gắng thực hiện tốt hơn nữa những công nghệ mới,
giúp SGDI trở thành đầu mối phục vụ thanh toán nhiều hơn nữa.
2.4. Thành lập ban quản lý và phòng ngừa rủi ro.
Trong khuôn khổ đề án tái cơ cấu các Ngân hàng thương mại Nhà nước,
NHĐT&PTVN được tiếp nhận dự án hỗ trợ kỹ thuật từ nguồn viện trợ của quỹ