Luận văn tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại (NHTM), thanh toán quốc tế (TTQT) ra đời và phát triển không
ngừng như là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động
của mình, TTQT không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn
phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếpcho đất nước,
cho ngân hàng (NH), cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ ( TDCT) là
phương thức hay được sử dụng nhất trong TTQT bởi tính tiện lợi và những lợi
ích nó mang lại hơn hẳn những phương thức khác. Song không vì thế mà
phương thức này có ít hơn rủi ro so với các phương thức khác. Hiểu biết về
những rủi ro trong TTQT bằng phương thức TDCT là một đòi hỏi cấp thiết
trong hoạt động kinh doanh Xuất nhập khẩu hiện nay.
Sau thời gian dài thực tập tại Chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội, em đã có
cơ hội tìm hiểu thêm về hoạt động TTQT, mà cụ thể hơn là hoạt động TTQT
theo phương thức TDCT tại đây. Vì vậy, trong chuyên đề thực tập của mình,
em xin viết về đề tài “Giải pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong thanh
toán quốc tế theo phương thức Tín dụng chứng từ tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
*Mục đích:
Mục đích của đề tài là đưa ra một cái nhìn về rủi ro trong thanh toán
quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ tại ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Hà Nội và đề xuất một số giải pháp để nhằm hạn chế và
phòng ngừa những rủi ro đó xảy ra.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
1
Luận văn tốt nghiệp
*Nhiệm vụ:
- Chương 2. Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội và những rủi ro
tiềm ẩn.
- Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phòng ngừa và hạn
chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng
No&PTNT Hà Nội
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
3
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Thanh toán quốc tế và hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân
hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ hoạt
động mậu dịch và phi mậu dịch giữa các cá nhân, tổ chức tại quốc gia này với
cá nhân và tổ chức ở quốc gia khác hoặc giữ một quốc gia với tổ chức quốc tế
thông qua hệ thống ngân hàng.
Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế ở các quốc gia khác
nhau. Mỗi giao dịch thanh toán quốc tế liên quan tối thiểu đến 2 quốc gia,
thông thường là ba quốc gia.
Hoạt động thanh toán quốc tế liên quan đến hệ thống pháp luật của các
quốc gia khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Do tính phức tạp đó các bên
tham gia thường lựa chọn các quy phạm pháp luật mang tính thông nhất và
theo thông lệ quốc tế…
Đồng tiền dùng trong thanh toán quốc tế thông thường tồn tại dưới hình
thức các phương tiện thanh toán( Hối phiếu,séc, thẻ, chuyển khoản…), có thể
là đồng tiền của nước người mua hoặc nước người bán, hoặc có thể là đồng
tiền của nước thứ 3, nhưng thường là ngoại ngoại tệ được tự do chuyển đổi.
từ,…. Mỗi PTTT đều có đặc điểm riêng và có thể gây rủi ro, bất lợi hoặc tạo
thuận lợi cho các bên. Vì vậy, các bên cần phải lưu ý khi lựa chọn PTTT trong
kinh doanh quốc tế
1.1.2.1.4. Điều kiện về bộ chứng từ thanh toán
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
5
Luận văn tốt nghiệp
Bộ chứng từ mô tả hàng hóa, dịch vụ và toàn bộ quá trình thực hiện hợp
đồng. Nhà xuất khẩu phải lập bộ chứng từ xuất trình để chứng minh việc giao
hàng của mình. Nhà nhập khẩu sẽ nhận hàng dựa trên bộ chứng từ nhà xuất
khẩu lập. Trong một số phương thức, việc quyết định thanh toán chỉ dựa vào
bộ chứng từ nhà xuất khẩu xuất trình. Với mong muốn hạn chế rủi ro trong
thương mại, nhà nhập khẩu thường đòi hỏi chứng từ đầy đủ về số lượng, nội
dung, hoàn hảo đến từng chi tiết và đôi khi cả đơn vị phát hành chứng từ.
Điều này có thể làm gia tăng chi phí, tốn thời gian cho nhà xuất khẩu, thậm
chí đôi khi nhà xuất khẩu không thể thực hiện được. Vì vậy, ngay từ thời điểm
ký hợp đồng, các bên cần phải quy định rõ ràng về bộ chứng từ thanh toán để
tạo thuận lợi cho quá trình mua bán.
1.1.2.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế đối với hoạt động của
NHTM.
Ngày nay, ngoại trừ những hoạt động mua bán nhỏ, một số giao dịch hạn
chế tại biên giới được chi trả bằng tiền mặt; hầu như các hoạt động kinh doanh
hợp pháp trên Thế giới đều được thực hiện thông qua các định chế tài chính
trung gian. Với chức năng trung tâm , hoạt động TTQT của NHTM đã trở
thành một dịch vụ không thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế hàng hóa.
1.1.2.2.1. Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng
thị phần kinh doanh cuả NHTM.
NHTM là trung gian tài chính, thực hiện chức năng kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng và cung ứng dịch vụ ngân hàng. Thông qua hoạt động
các khoản khách hàng nộp để giải chấp lô hàng nhập khẩu do ngân hàng quản
lí khi chưa đến hạn thanh toán cũng là một nguồn tạo thanh khoản cho ngân
hàng dưới hình thức tiền tập trung chờ thanh toán.
1.1.2.2.5. Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
7
Luận văn tốt nghiệp
TTQT giúp cho quy mô hoạt động của ngân hàng vượt ra khỏi biên giới
quốc gia, hòa nhập với các ngân hàng trên thế giới, góp phần nâng cao uy tín
trên trường quốc tế. Trên cơ sở đó, ngân hàng có điều kiện phát triển quan hệ
đại lí, khai thác nguồn tài trợ trên thị trường tài chính quốc tế, nguồn tài trợ từ
ngân hàng nước ngoài để đáp ứng vốn phát triển kinh tế- xã hội…
1.1.3. Vai trò, trách nhiệm và quyền hạn các ngân hàng thương mại.
1.1.3.1. Ngân hàng mở L/C
Quyền hạn
- Xem xét các điều kiện, điều khoản của L/C sẽ được phát hành, hoặc
nội dung sẽ sửa đổi.
- Chỉ định ngân hàng xác nhận, ngân hàng thông báo L/C.
- Định đoạt chứng từ bất hợp lệ.
- Yêu cầu người xin mở L/C thanh toán.
- Thu phí dịch vụ ngân hàng.
Trách nhiệm
- Thanh toán bộ chứng từ phù hợp với quy định của thư tín dụng
- Thực thi đúng quy định của UCP 600
1.1.3.2. Ngân hàng thông báo L/C
Quyền hạn
- Xem xét ( đồng ý hoặc không đồng ý) thông báo L/C của ngân hàng
mở cho người thụ hưởng
- Thu phí dịch vụ
Trách nhiệm
hưởng và tiền của nước thứ ba thì gọi là thanh toán bằng ngoại tệ. Trong
trường hợp thanh toán bằng ngoại tệ thì người chuyển tiền phải mua ngoại tệ
theo tỷ giá hối đoái của nước đó.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
9
Luận văn tốt nghiệp
Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại
quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như
các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo
hiểm, bồi thường…
1.2.2. Phương thức bảo lãnh (letter of guarantee - L/G) là bất cứ một sự
bảo lãnh nào cam kết thanh toán của trung gian tài chính hoặc của pháp nhân
hay thể nhân bằng văn bản là sẽ bồi thường một số tiền nhất định, nếu đến hạn
mà người được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ như quy định trên thư
bảo lãnh.
1.2.3. Phương thức nhờ thu:
Người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá cho
người nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở
người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.
Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:
- Người xuất khẩu
- Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân
hàng quốc gia của người nhập khẩu)
- Người nhập khẩu
Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:
- Nhờ thu phiếu trơn: Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá,
lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân
hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở
hối phiếu do mình lập ra.
1.31. Khái niệm Phương thức Tín dụng chứng từ.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
11
Luận văn tốt nghiệp
Là một sự thoả thuận trong đó ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng)
theo yêu cầu của khách hàng sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác
hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi
người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ phù hợp với những quy
định đề ra trong thư tín dụng.
Các chức năng cơ bản của thư tín dụng chứng từ (L/C)
(i). Chức năng thanh toán: L/C là một phương thức thanh toán rất thông
dụng trong mua bán quốc tế. L/C thường được sử dụng như là một công
cụ thanh toán không dùng tiền mặt.
(ii). Chức năng bảo đảm: L/C là một cam kết thanh toán có điều kiện và
độc lập của ngân hàng phát hành, bảo đảm là người thụ hưởng sẽ không
còn bị phụ thuộc vào thiện chí thanh toán của người mua.
(iii). Chức năng tín dụng: Trong một giao dịch L/C, ngân hàng có thể
chiết khấu chứng từ hàng xuất của người xuất khẩu với điều kiện là
những chứng từ đó hoàn toàn hợp lệ.
1.3.2. Ý nghĩa của phương thức Tín dụng chứng từ.
1.3.2.1. Đối với nhà xuất khẩu.
Nếu lựa chọn và sử dụng đúng, L/C có thể đem lại nhiều lợi ích và đặc
biệt là sự an toàn cần thiết cho người xuất khẩu – đảm bảo là người nhập khẩu
sẽ phải thanh toán tiền. Tuy nhiên, để có được các lợi ích này, người xuất
khẩu nhất thiết phải thực hiện theo đúng các nguyên tắc và các qui định.
- Ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán đúng như qui định trong thư tín
dụng bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không
- Người mua không được từ chối thanh toán vì bất cứ lý do gì
- Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa
- Thanh toán bằng thư tín dụng được thực hiện nhanh hơn so với nhờ thu
13
Luận văn tốt nghiệp
11-15% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ
USD mỗi năm.
Về mặt lịch sử, các bên tham gia thương mại, đặc biệt là các ngân hàng,
đã phát triển các kỹ thuật nghiệp vụ và các phương pháp sử dụng thư tín dụng
trong tài chính-thương mại quốc tế. Các thông lệ này đã được Phòng thương
mại quốc tế (ICC) tiêu chuẩn hóa thông qua việc xuất bản UCP năm 1933 và
tiếp theo đó là cập nhật nó qua các năm. ICC đã phát triển và đưa vào khuôn
khổ UCP bằng các bản sửa đổi thường xuyên, bản trước đây là UCP500. Kết
quả là nỗ lực quốc tế thành công nhất trong việc thống nhất các quy định từ
trước đến nay, khi UCP đã có hiệu lực thực tế trên toàn thế giới. Bản sửa đổi
mới nhất đã được Ủy ban Ngân hàng của ICC phê chuẩn tại cuộc họp ở Paris
vào ngày 25 tháng 10 năm 2006. Bản sửa đổi mới này, gọi là UCP600, đã
chính thức bắt đầu hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007.
1.3.3.2. Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng theo Tín dụng
chứng từ ( URR 525)
Tuy không thiết thực và thông dụng bằng UCP 600 nhưng với sự phát
triển của TTQT với tính chuyên môn hóa ngày càng cao, URR525 đang có xu
hướng được áp dụng rỗng rãi. URR525 chính là sự mở rộng và chi tiết hóa
của điều khoản 19 trong UCP 600.
1.3.3.3. Quy tắc thực hành Tín dụng dự phòng quốc tế ( ISP 98)
ISP 98 – viết tắt của International Standby Letter of Credit, là một tài
liệu do phòng thương mại quốc tế ban hành, quy định các quy tắc về thực
hành về Thư tín dụng dự phòng, được xuất bản năm 1998 và có hiệu lực từ
1/1/1999. ISP được phát triển từ UCP500. Do UCP chủ yếu áp dụng cho
thư tín dụng thương mại nên khi áp dụng cho thư tín dụng dự phòng- một
loại L/C có nhiều đặc thù riêng nên UCP 500 bộc lộ nhiều hạn chế trong
khi thực hành.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
Luận văn tốt nghiệp
điều kiện (FCA, FAS, FOB), nhóm C gồm 4 điều kiện (CFR, CIF, CPT, CIP)
và nhóm D gồm 5 điều kiện (DAF, DES, DEQ, DDU, DDP).
1.3.3.6 Các điều kiện bảo hiểm ICC clauses 1982.
ICC ( viết tắt của Institute Cargo Clause) 1982 do ILU ( viết tắt của
Institute London Underwritters) ban hành năm 1982 thay cho ICC 1963, quy
định các điều kiện bảo hiểm về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển của
Anh. Hiện nay trên thị trường bảo hiểm quốc tế, ICC 1982 được sử dụng rất
rộng rãi.
1.3.3.7 Quy định về cấm vận của Hoa Kỳ:
Các khoản thanh toán bằng USD qua các nước sau dây không thể
thực hiện: Balkans, Burma (Myanmar), Cuba, Iran, Iraq, Liberia, Libya,
North Korea, Sudan, Syria, Zimbabwe.
1.3.3.8 Các văn bản pháp luật trong nước:
- Quyết định số 711/2001/QĐ- NHNN của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà
Nước về quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm
- Quyết định số 1233/2001/QĐ- NHNN của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà
Nước sửa đổi điều 15 của Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN của Thống
Đốc Ngân Hàng Nhà Nước về quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm
- Thông tư 08/2003/TT-NHNN hướng dẫn thi hành về nghĩa vụ bán
ngoại tệ đối với giao dịch vãng lai của người cư trú là tổ chức.
- Thông tư 09/2004/TT- NHNN quy định các khoản vay trả nợ
nước ngoài của doanh nghiệp.
- Nghị định số 12/2006/NĐ- CP ngày 23/01/2006 về hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế và hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa
với nước ngoài quy định danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu
theo giấy phép của Bộ Thương Mại và bộ quản lý chuyên ngành.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
16
Luận văn tốt nghiệp
từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện, điều khoản.
Các tổ chức tài chính không phải là ngân hàng cũng có thể phát hành LC.
Tín dụng thư cũng có thể là nguồn thanh toán cho một giao dịch, nghĩa là
một nhà xuất khẩu sẽ được trả tiền bằng cách mua lại LC. LC được sử dụng
chủ yếu trong giao dịch thương mại quốc tế có giá trị lớn. LC cũng được dùng
trong quá trình phát triển điền sản để bảo đảm rằng những cơ sở hạ tầng công
cộng đã được phê duyệt (như đường xá, vỉa hè, kè chắn sóng ..v.v) sẽ được
xây dựng.
1.3.4.1.2. Nội dung
Những nội dung chủ yếu của một thư tín dụng thương mại bao gồm
những điều khoản sau:
- Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C (No of L/C, place and date of issuing)
Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng, nhằm để trao đổi thư
từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng.
- Địa điểm mở (Place of issuing): Là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam
kết trả tiền cho người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa khi chọn luật áp
dụng nếu xảy ra tranh chấp có xung đột về pháp luật.
- Ngày mở (Issuing date): Là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân
hàng mở với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C
và là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc
mở L/C có đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng không.
- Tên địa chỉ của người thụ hưởng (Beneficiary) có liên quan đến phương
thức tín dụng chứng từ:
- Ngân hàng mở L/C (opening bank; issuing bank): là ngân hàng thường
được hai bên xuất khẩu và nhập khẩu thoả thuận lựa chọn và quy định trong
hợp đồng, nếu chưa có quy định trước người nhập khẩu có quyền lựa chọn.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
18
Luận văn tốt nghiệp
Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu ngân hàng phát hành L/C và
quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
-Thời hạn giao hàng:
Ðược ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng mua bán ngoại thương
quy định. Ðây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao xong hàng cho
bên mua, kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực.
Thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của thư tín
dụng. Nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngày
thì ngân hàng mở thư tín dụng cũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín
dụng cũng được kéo dài thêm một số ngày tương ứng.
- Những nội dung về hàng hoá (Description of goods): tên hàng, số
lượng, trọng lượng (có cả sai lệch cho phép) , giá cả, quy cách phẩm chất, bao
bì, ký mã hiệu..cũng được ghi vào thư tín dụng.
- Những nội dung về vận tải (Shipment term): giao nhận hàng hoá như
điều kiện có sở giao hàng, nơi gửi, giao hàng từng phần..nơi giao hàng cũng
được ghi vào thư tín dụng.
- Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình (Documents for
payment): là nội dung then chốt của thư tín dụng, bởi vì bộ chứng từ quy định
trong thư tín dụng là môt bằng chứng của người xuất khẩu chứng mình rằng mình
đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những quy định của thư tín dụng.
- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C: là nội dung cuối cùng của
thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C.
- Chữ ký của ngân hàng mở L/C : L/C thực chất là một khế ước dân sự,
do vậy người ký nó cũng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực
pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật. L/C mở bằng thư phải
được ký bằng chữ ký đã được lưu ký tại ngân hàng đại lý. L/C mở bằng điện
phải có sự đồng ý của ngân hàng mở L/C) .
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
20
Luận văn tốt nghiệp
1.3.4.1.3. Các loại tín dụng thư.
người nhập khẩu, còn gọi là ngân hàng phát hành.
- Người hưởng lợi ( beneficiary) là người bán, người xuất khẩu hay bất kì
người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng thông báo (advising bank) là ngân hàng được ngân hàng
phát hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu về việc mở thư tín dụng.
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào phương
thức thanh toán này như:
- Ngân hàng xác nhận ( confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm
thanh toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không thể thanh toán chứng từ
phù hợp với điều khoản của L/C. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân
hàng thông báo L/C hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu.
- Ngân hàng được chỉ định ( nominated bank) là ngân hàng được ngân
hàng phát hành chỉ định để thực hiện việc thương lượng, chiết khấu hay thanh
toán L/C. Lúc đó ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng chiết khấu ( negotiating
bank) hay ngân hàng thanh toán ( paying bank)
- Ngân hàng hoàn trả ( reimbursing bank) là một ngân hàng được ngân
hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay mình trả tiền.
- Ngân hàng chiết khấu ( negotiating bank) là ngân hàng được ngân hang
mở L/C cho phép mua hối phiếu hay thương lượng chứng từ do người bán kí
phát cho ngân hang. Tùy theo quy định của L/C mà ngân hàng chiết khấu
thường là ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng thứ ba nào đó do ngân
hàng mở L/C quy định.
- Người được chuyển nhượng là người nhận các quyền và nghĩa vụ do
người hưởng lợi chuyển.
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
22
Luận văn tốt nghiệp
Trong thực tế nghiệp vụ tín dụng chứng từ không nhất thiết phải có các
bên như đã nêu ở trên.
1.3.4.2.2. Quy trình nghiệp vụ trong thanh toán bằng L/C.
B6: Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ không quá 7 ngày làm việc kể
từ sau ngày nhận chứng từ và thông báo kết quả kiểm tra cho người nhập khẩu
bằng văn bản, yêu cầu người nhập khẩu trả lời trong vòng 2 ngày làm việc.
B7: Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ và quyết định chấp nhập hay từ
chối thanh toán.
B8: Căn cứ vào ý kiến của người nhập khẩu, Ngân hàng mở L/C quyết
định nhận chứng từ và trả tiền hoặc quyết định từ chối nhận chứng từ và từ
chối trả tiền. Nếu quyết định từ chối nhận chứng từ thì ngân hàng mở L/C
phải chuyển trả chứng từ lại cho ngân hàng xuất trình.
1.4. Tín dụng chứng từ- một phương thức thanh toán quốc tế ẩn chứa
nhiều rủi ro.
1.4.1. Khái niệm rủi ro.
Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn
trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT và ảnh hưởng xấu đến hoạt động
kinh doanh của NHTM, trong đó có phương thức tín dụng chứng từ. Trong
quá trình tiến hành hoạt động TTQT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một bên
tham gia bị vi phạm. Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng
từ không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm trễ
nào trong các khâu của quá trình TTQT. Rủi ro có thể xảy ra với tất cả các bên
tham gia: Với người bán, rủi ro xảy ra khi bán hàng không thu được tiền hoặc
chậm thu được tiền, rủi ro về thị trường, rủi ro không nhận hàng, rủi ro không
thanh toán…; với người mua, rủi ro xảy ra khi người bán giao hàng không
đúng với các điều kiện của hợp đồng (không đúng số lượng, chủng loại…), rủi
ro không giao hàng, rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hoá…; với NH có
SV: Lê Thị Mai Chi KDQT 47A
24
Luận văn tốt nghiệp
liên quan, rủi ro xảy ra khi người mua hoặc người bán thiếu trung thực, không
thực hiện đúng cam kết đã ghi trong hợp đồng, do tỷ giá biến động…
Trong phương thức tín dụng chứng từ (L/C :Letter of Credit), việc ngân