ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG QUỸ TIỀN LƯƠNG - Pdf 67

ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG TRONG
VIỆC XÂY DỰNG QUỸ TIỀN LƯƠNG.
I/ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG.
1/ Bản chất tiền lương.
Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu, bao cấp sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải có nhận
thức mới về lý luận trong quá trình nghiên cứu chính sách, chế độ tiền lương ở
Việt Nam.
Theo cơ chế mới, người lao động được tự do làm việc theo hợp đồng lao
động, tự do chuyển dịch lao động giữa các thành phần kinh tế, giữa các cơ sở
sản xuất, nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại và hoạt động của thị trường
sức lao động, nên tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối, mà còn là
phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị. Mặt khác, do có sự hoạt động của thị
trường nói chung và thị trường sức lao động nói riêng (hay còn gọi là thị
trường lao động), nên sức lao động là một loại hàng hoá, tiền lương là giá cả
của sức lao động.
Khi phân tích về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa C. Mác viết: “ Tiền công
không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chỉ là một hình thái cải trang
của giá trị hay giá cả sức lao động ”.
Với quan điểm như trên, tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế, xã
hội khác nhau. Tiền lương, trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động
(người mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động).
Đó là quan hệ kinh tế của tiền lương. Mặt khác, do tính chất đặc biệt của loại
hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế
mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống và trật tự
xã hội. Đó là quan hệ xã hội,...
Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở
nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành
phần và khu vực kinh tế như sau:
Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động sản xuất, kinh

2/ Quan điểm của Đảng ta về tiền lương.
Để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới nên bản chất tiền lương ở
nước ta đã thay đổi, có nhận thức mới so với cơ chế tập trung, bao cấp.
Trước năm 1986, quan niệm cũ hiểu một cách đơn giản và máy móc
rằng cứ có chế độ sở hữu toàn dân và chế độ làm chủ tập thể về tư liệu sản
xuất là tự nhiên người lao động trở thành những người làm chủ tư liệu sản
xuất, những người cùng sở hữu tư liệu sản xuất. Đi liền với nó là quan niệm
cho rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không thể là nền kinh tế thị trường, mà
là nền kinh tế hoạt động trên cơ sở kế hoạch hoá tập trung. Do đó về bản chất,
tiền lương không phải là giá cả của sức lao động, mà là một phần thu nhập
quốc dân được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động
theo số lượng và chất lượng lao động. Như vậy, tiền lương chụi sự tác động
của qui luật phát triển cân đối, có kế hoạch và chụi sự chi phối trực tiếp của
Nhà nước, chính vì vậy tiền lương của người lao động không phụ thuộc vào
năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, cũng không theo giá trị sức lao
động, mà được qui định “cứng” thống nhất chung cho tất cả. Tình trạng tiền
lương không đủ bảo đảm để tái sản xuất, thậm chí tái sản xuất giản đơn sức
lao động đã làm cho đời sống của đại bộ phận người lao động không được
bảo đảm. Vì vậy, trong một khoảng thời gian dài do có sự nhận thức sai về
bản chất của tiền lương, đã làm cho cơ chế chính sách tiền lương triệt tiêu
tính chủ động, sáng tạo của người lao động, từ đó đã thủ tiêu động lực của
người lao động, không khuyến khích họ nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ
lành nghề của mình.
Kể từ năm 1986, với sự ra đời của Nghị quyết Đại hội VI Đảng cộng sản
Việt Nam và một loạt các qui định khác của Nhà nước về đổi mới kinh tế, đã
khẳng định nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước. Cùng với sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường,
chúng ta cũng đồng thời công nhận sự hoạt động của thị trường sức lao động,
các yếu tố này đã cho chúng ta một khái niệm mới về tiền lương như sau: tiền

và mọi mặt của nền kinh tế- xã hội.
3/ Các chức năng cơ bản của tiền lương.
3.1. Chức năng thước đo giá trị.
Trước đây và hiện nay chức năng thước đo giá trị vẫn là chức năng cơ
bản và quan trọng nhất của tiền lương. Chức năng thước đo giá trị của tiền
lương là chức năng cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả
(bao gồm cả giá cả sức lao động) biến động, là thước đo để xác định mức tiền
công của các loại lao động, làm căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác
định đơn giá sản phẩm.
Như trên đã nêu, tiền lương thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao động,
được biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động. Vì vậy tiền lương trở
thành thước đo giá trị sức lao động, được biểu hiện như giá trị lao động cụ
thể của việc làm có trả công. Nói cách khác, giá trị của việc làm được phản
ánh thông qua tiền công, nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức trả công
càng lớn và ngược lại. Giá trị của việc làm được biểu hiện bởi ba yếu tố sau:
- Tính chất kỹ thuật của việc làm: các đặc thù về kỹ thuật và công nghệ
sử dụng của việc làm.
- Tính chất kinh tế của việc làm: vị trí của việc làm trong hệ thống quan
hệ lao động (làm quản lý, công nhân, nhân viên ).
- Các yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người lao động: trình độ
tay nghề, kinh nghiệm, khả năng thành thạo nghề.
Quan điểm trên không trái với quan điểm của C.Mác: “ Tiền lương là
biểu hiện của giá trị sức lao động, giá trị sức lao động được đo bằng giá trị tư
liệu sinh hoạt cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản
xuất, những giá trị của những chi phí nuôi dưỡng con người trước và sau tuổi
có khả năng lao động, những giá trị của những chi phí cần thiết cho việc học
hành. Những chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và sinh lý
của con người, mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và giá
cả các tư liệu sinh hoạt. Như vậy tiền lương thường xuyên biến động xoay
quanh giá trị, nó phụ thuộc vào quan hệ cung- cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt”.

nghiệm. C.Mác viết: “ Để cho sức lao động phát triển theo hướng nhất định
phải có sự giáo dục nào đó, mà chính sự giáo dục này lại tốn một lượng hàng
hoá ngang giá ”. Đây chính là nhu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho
người lao động.
Tóm lại, giá trị sức lao động được đo bằng giá trị tư liệu sinh hoạt và
dịch vụ cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất.
Tiền lương chính là một hình thái biểu hiện của giá trị sức lao động, là sản
phẩm tất yếu thông qua trao đổi trên thị trường hàng hoá sức lao động tạo
điều kiện làm chức năng khôi phục (tức tái sản xuất) sức lao động đã hao phí.
3.3. Chức năng kích thích lao động.
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động nhằm thoả
mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và văn hoá của người lao động. Do vậy,
các mức tiền lương là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự
quan tâm và động cơ trong lao động của người lao động. Chức năng này đảm
bảo khi người lao động làm việc có năng suất cao, đem lại hiệu quả rõ rệt thì
người sử dụng lao động cần quan tâm đến việc tăng lương cao hơn so với giá
trị sức lao động để kích thích người lao động. Ngoài việc tăng lương người sử
dụng lao động cần áp dụng biện pháp thưởng. Số tiền này bổ sung cho tiền
lương, mang tính chất nhất thời, không ổn định nhưng lại có tác động mạnh
mẽ tới năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động.
Khi độ lớn của tiền lương phụ thuộc năng suất và hiệu quả sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và của cá nhân người lao động nói
riêng thì họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất
lượng công việc.
3.4. Chức năng tích luỹ.
Tiền lương trả cho người lao động phải bảo đảm duy trì được cuộc sống
hàng ngày trong thời gian làm việc, và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi
họ hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro.
3.5. Chức năng xã hội của tiền lương.
Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền

Trong đó:
I
TLTT
: là chỉ số tiền lương thực tế.
I
TLDN
: là chỉ số tiền lương danh nghĩa.
CPI: là chỉ số giá cả sinh hoạt.
Công thức trên cho ta thấy, chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ thuận với chỉ
số tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả sinh hoạt.
Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế có ý
nghĩa vô cùng quan trọng khi giá cả sinh hoạt có biến động, cơ cấu tiêu dùng
thay đổi. Trong thực tế, người sử dụng và người cung ứng sức lao động cũng
đã so sánh mức lương danh nghĩa với giá cả hiện hành để thống nhất một
mức lương thực tế thích hợp, song không phải không xảy ra sự thiếu ăn khớp
hoặc thậm chí sự giãn cách khá lớn giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương
thực tế, mà hậu quả là giảm mức thoả mãn của người lao động.
Sự giảm sút tiền lương thực tế khi giá cả hàng hoá tăng, đồng tiền mất
giá trong khi những thoả thuận về mức lương danh nghĩa lại không điều chỉnh
kịp thời. Sự trì trệ này của tiền lương là hiện tượng phổ biến trong nền kinh
tế. Trong nhiều trường hợp, Chính phủ phải trực tiếp can thiệp bằng các chính
sách cụ thể để bảo hộ mức lương thực tế cho người lao động bằng các biện
pháp như: yêu cầu các doanh nghiệp có biện pháp trợ cấp lương cho công
nhân khi giá tiêu dùng tăng, qui định lại mức lương tối thiểu để làm căn cứ
gốc cho chính sách trả lương.
Theo quan điểm tái sản xuất sức lao động, cần phải bảo đảm tiền lương
thực tế cho người lao động. Vì vậy, tiền lương thực tế là mục đích trực tiếp
của người lao động hưởng lương. Đó cũng là đối tượng quản lý trực tiếp
trong các chính sách về thu nhập, tiền lương và đời sống.
4.2. Tiền lương và lạm phát.

- Các chính sách hướng dẫn giá cả- tiền lương.
- Các chính sách kiểm soát giá cả và tiền lương bắt buộc.
- Các chính sách khuyến khích bắt buộc.
4.3. Tiền lương, năng suất và hiệu quả lao động.
Năng suất lao động là một phạm trù kinh tế mà C. Mác gọi là sức sản
xuất của lao động cụ thể có ích. Nó là kết quả hoạt động sản xuất có mục đích
của con người trong một đơn vị thời gian nhất định.
Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian; hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status