CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG KHÁCH SẠN DU LỊCH.
1. KHÁI NIỆM VỀ NHÂN LỰC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG KINH DOANH KHÁCH
SẠN
1.1. Khái niệm về nhân lực
1.1.1 Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm
thay đổi những vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của mình. Lao động là sự
vận động tiêu hao của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất, là
sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất. Lao động bao gồm lao động
sống (lao động hiện tại) và lao động vật hoá (lao động quá khứ). Lao động vật
hoá chín là lao động được kết tinh trong sản phẩm của các quá trình lao động
trước.
Như vậy, nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm
khả năng về thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của mỗi con người.
* Thể lực của con người phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, mức sống,
mức thu nhập, chế độ ăn uống , nghỉ ngơi bồi dưỡng chế độ y tế... thể lực con
người cũng phụ thuộc vào yếu tố tuổi tác thời gian và giới Tính...
* Trí lực là mặt tiềm tàng rất lớn của con người, bao gồm tài năng trí tuệ
cũng như năng khiếu, lòng tin, nhân cách. Trí lực không chỉ do thiên bẩm mà
còn phục thuộc vào quá trình tự rèn luyện, phấn đấu và tu dưỡng của mỗi cá
nhân.
Thật vậy, khái niệm nhân lực chỉ là một phạm trù nhỏ trong phạm trù
lao động. Nói đến nhân lực người ta thường hiểu nhân lực chính là yếu tố lao
động sống (lao động hiện tại) trong phạm trù lao động trên.
Do vậy trong thực tế người ta không sử dụng các khái niệm trên chính
xác tuyệt đối như trong kinh tế chính trị mà họ thường xuyên có sự biến tấu
linh hoạt. Người ta thường xuyên sử dụng khái niệm “lao động” chỉ nhằm vào
đối tượng là “lao động sống” hay nói cách khác là “nhân lực”. Ví dụ: lao động
trong khách sạn, lao động trong du lịch.
1.2 Nhân lực trong khách sạn
Theo khái niệm chung về nhân lực thì nhân lực trong khách sạn là tập
hợp nguồn nhân lực của toàn thể đội ngũ cán bộ nhân viên trong khách sạn.
viên lại phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của khách. Do đó, nguồn nhân lực
trong kinh doanh khách sạn có rất nhiều khác biệt so với các ngành khác. Điều
đó đòi hỏi bộ phận nhân lực phải nắm bắt được các đặc điểm này và từ đó có
các chính sách sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, để tránh tình trạng lãng phí sức
lao động, giảm sút chất lượng phục vụ dẫn đến việc giảm hiệu quả kinh doanh.
Đồng thời, nếu làm tốt được công tác này thì đảm bảo đủ cho khách sạn có một
lực lượng lao động có hiệu quả.
1.3 Công tác quản lý nhân lực trong khách sạn
1.3.1 Mục tiêu của công tác quản lý nhân lực trogn khách sạn
Mục tiêu của công tác quản lý nhân lực nhằm đảm bảo cho khách sạn
một lực lượng lao động hoạt động có hiệu quả. Để đạt được mục tiêu này các
nhà quản lý phải biết cách thâu dụng, phát triển, đánh giá duy trì nhân viên
của mình. Xét cho cùng thì công tác quản lý nhân lực củng nhằm đạt được các
mục tiêu cuối cùng là mục tiêu xã hội, mục tiêu của khách sạn và mục tiêu của
người lao động.
* Mục tiêu xã hội: Bất kỳ một tổ chức nào khi ra đời và tồn tại muốn
được sự thừa nhận của cộng đồng phải thoả mãn một điều kiện: đem lại lợi ích
cho cộng đồng cho xã hội. Nói như vậy có nghĩa là trong suốt quá trình hoạt
động, tổ chức đó phải luôn tìm cách trung hoà lợi ích của mình với lợi ích của
cộng đồng. Một khách sạn là một tổ chức, một tổ chức hoạt động trong lĩnh
vực cần có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng. Chính vì vậy, hơn ai hết khách
sạn phải đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của xã hội. Trước hết, một cơ sở kinh
doanh khách sạn phải luôn tuân theo mọi qui định của pháp luật và đặc biệt nó
phải cung cấp các dịch vụ sản phẩm theo yêu cầu của cộng đồng.
* Mục tiêu đối với khách sạn: Quản lý nhân lực một cách hợp lý có hiệu
quả là cách tốt nhất giúp khách sạn đạt được mục tiêu quan trọng nhất của
mình tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao. Song, công tác quản lý nhân
lực tự nó không phải là cứu cánh mà nó sẽ là phương tiện để giúp khách sạn
đạt được những mục tiêu của bản thân.
+ Mục tiêu cá nhân của người lao động: lợi ích của một cá nhân là nhỏ bé
kinh doanh lớn: Để xây dựng một khách sạn đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn về
trang thiết bị, tiện nghi hiện đại, sang trọng phù hợp với yêu cầu của khách.
Mặt khác, vốn đầu tư vào khách sạn thu hồi chậm qua nhiều năm vì vậy trước
khi nâng cấp hoặc xây dựng thì nhà kinh doanh phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng
nhu cầu của thị trường du lịch, nguồn khách và thời gian kinh doanh để có khả
năng thanh toán đa dạng, đảm bảo sử dụng hiệu quả năng động của nguồn
vốn. Lực lượng lao động trong khách sạn lớn. Do những đặc thù của ngành
kinh doanh khách sạn du lịch, máy móc không thể thay thế được con người, do
đó nó tác động đến chi phí tiền lương trong giá thành dịch vụ. Điều này đòi hỏi
phải có tổ chức lao động quá trình phục vụ một cách tối ưu, nâng cao năng
suất lao động, chất lượng phục vụ.
Tính chất hoạt động liên tục của khách sạn: doanh nghiệp khách sạn
hoạt động liên tục 24/24 giờ các ngày kể cả ngày lễ, vì vậy việc bố trí ca làm
việc phải được Tính toán một cách hợp lý để có thể đáp ứng tốt các nhu cầu
của khách.
+ Tính thời vụ: các doanh nghiệp khách sạn và du lịch có Tính chất thời
vụ do tác động của các yếu tố khách quan như: thời tiết, khí hậu mùa du lịch, lễ
hội, điều kiện thời gian nhàn rỗi, phong tục tập quán...Tính thời vụ ảnh hưởng
lớn đến hoạt động kinh doanh bởi khi đến mùa du lịch doanh nghiệp phải huy
động toàn bộ công suất để phục vụ nhưng khi hết mùa lại thừa cơ sở vật chất,
lực lượng phục vụ nhàn rỗi trong khi đó nhà cửa trang thiết bị lại thường
xuyên tu sửa, bảo dưỡng, khấu hao và vẫn trả lương cho người lao động.
+ Loại kiểu, quy mô khách sạn: loại kiểu của khách sạn có ảnh hưởng tới
việc tổ chức lao động và các nhiện vụ cụ thể trong toàn khách sạn. Quy mô của
khách sạn quyết định số lượng lao động và phương thức tổ chức quản lý đội
ngũ lao động theo kiểu chuyên môn hóa hay hình thức kiểm nghiệm. Nếu quy
mô của khách sạn lớn thì số lượng lao động sẽ nhiều hơn và việc tổ chức đội
ngũ lao động thường xuyên theo hình thức chuyên môn hoá.
+ Thứ hạng của khách sạn: thứ hạng của khách sạn sẽ tác động tới số
lượng và chất lượng của các dịch vụ trong khách sạn, do đó nó quyết định tới
Muốn như vậy thì cấp quản lý phải làm cho nhân viên hiểu rằng khách
du lịch có ý nghĩa sống còn đối vơí công ty của họ, đối với những lợi ích cá
nhân họ được hưởng. Mặt khác, cấp quản lý còn phải tìm ra biện pháp quản lý
sử dụng lao động hiệu quả nhất thì mới có thể đạt được mục tiêu trên.
+ Đối thủ cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường, nhà quản trị không
phải chỉ cạnh tranh thị trường, cạnh tranh sản phẩm mà bỏ quên nguồn tài
nguyên quý giá: nguồn nhân lực. Nhân lực là cốt lõi của quản trị. Các khách
sạn này chịu sự tác động bởi môi trường đầy cạnh tranh và thách thức. Để tồn
tại và phát triển, không còn con đường nào ngoài con đường quản lý và sử
dụng nhân lực có hiệu quả. Nhân lực là tài nguyên quý giá nhất, các công ty
phải lo giữ gìn, duy trì và phát triển. Để thực hiện được điều trên, các công ty,
khách sạn phải có chính sách nhân sự hợp lý, phải biết lãnh đạo, động viên,
thăng thưởng hợp lý, phải tạo bầu không khí gắn bó, có văn hoá. Ngoài ra các