nhà máy sản xuất đường thô hiện đại - Pdf 67

Đồ án tốt nghiệp 1 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta là một nước có truyền thống sản xuất đường mía lâu đời. Theo thời gian
cùng với sự phát triển của ngành đường trên thế giới nghề làm đường của nước ta
cũng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng cũng như kỹ thuật canh tác chế
biến.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhu cầu về thực phẩm của con người
cũng thay đổi.Đặc biệt là sự quan tâm ngày càng cao về chất lượng thực phẩm và ảnh
hưởng của thực phẩm đến sức khỏe của con người.Trong các ngành sản xuất thực
phẩm được coi là quan trọng phải kể đến công nghệ sản xuất đường.
Đường saccaroza đóng vai trò quan trọng trong khẩu phần hàng ngày của con
người, là yếu tố không thể thiếu được trong sự phát triển của nhiều ngành công
nghiệp khác như sản xuất bánh kẹo , sữa, đồ hộp, nước giải khát… Đồng thời sản
phẩm phụ của nó dùng làm nguyên liệu cho nhà máy sản xuất rượu, cồn, phân bón,
thức ăn gia súc…
Ở nước ta, là nước nhiệt đới, rất thuận lợi cho cây mía phát triển. Nó phát triển trên
khắp nước ta từ Bắc vào Nam và là nguồn nguyên liệu rất dồi dào cho sản xuất
đường.
Với một số nhà máy đường hiện có thì chưa thể nào khai thác hết nguồn tài nguyên
lớn đó. Làm tổn thất một lượng khá lớn đường do mía đã chín nhưng chờ để thu
hoạch, làm cho đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, vất vả. Trong khi nhu
cầu về đường của nhân dân rất cấp thiết, lượng đường sản xuất vẩn còn thiếu, không
đủ cung cấp cho người tiêu dùng. Nhiều khi phải nhập từ nước ngoài vào mà đặt biệt
là đường thô, là nguyên liệu để sản xuất đường tinh luyện.
Trước tình hình đó em được giao đề tài“Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
năng suất 2300 tấn mía/ngày”
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 2 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
PHẦN 1: LẬP LUẬN KINH TẾ KĨ THUẬT
Tỉnh Gia Lai nằm ở khu vực miền trung, là một tỉnh còn nghèo, diện tích khá
rộng, dân đông nhưng lại sống chủ yếu về nông nghiệp, đồng thời thuộc vùng có khí

Đồ án tốt nghiệp 3 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
nhiều nhưng sản xuất với khối lượng khá lớn và nguyên liệu là đường thô như nhà
máy đường Biên Hoà, Khánh Hội…
Việc hợp tác liên kết sản xuất này giúp cho các nhà máy chủ động hơn về nguyên
liệu sản xuất.
1.4. Nguồn cung cấp hơi.
Ngày nay hầu hết các nhà máy đường hiện đại đều sử dụng nguồn hơi riêng của nhà
máy để phục vụ rất nhiều công đoạn trong sản xuất…Đặc biệt việc chạy tuabin của
máy phát điện trong nhà máy tiêu tốn lượng hơi khá lớn nhằm đáp ứng đủ điện để
nhà máy hoạt động bình thường. Lượng hơi sử dụng rất lớn nên ở nhiều công đoạn
như nấu đường, cô đặc nếu tận dụng được hơi thứ là tiết kiệm được chi phí rất nhiều
cho nhà máy. Nhiên liệu sử dụng để tạo ra nguồn hơi đốt là bã mía, than, củi và dầu
FO… phòng trong các trường hợp đầu mùa vụ sản xuất không có nhiên liệu để đốt.
1.5. Nguồn cung cấp điện
Nhà máy sử dụng nguồn điện từ mạng lưới điện quốc gia 500V được hạ xuống
220/380 có thêm máy biến áp dự phòng. Ngoài ra nhà máy còn lắp đặt thêm tuabin
phát điện dùng hơi quá nhiệt là nguồn cung cấp điện chủ yếu khi sản xuất.
1.6. Nguồn cấp nước và vấn đề xử lý nước thải trong nhà máy.
Nguồn nước được lấy từ Sông ba và được đưa về hệ thống xử lý nước của nhà máy,
nguồn nước sau xử lý phải đảm bảo là đủ tiêu chuẩn nước dùng cho sản xuất.
1.7. Giao thông vận tải.
Xã Hà Tam có lợi thế rất lớn về vấn đề giao thông, nằm tại khu vực có quốc lộ 19
đi qua, đây là một thuận lợi về việc vận chuyển trang thiết bị vật tư, nguyên liệu từ
các nơi khác đến và chuyển sản phẩm của nhà máy đến nơi tiêu thụ. Giao thông
thuận lợi góp phần làm giảm chi phí vận chuyển nên có thể tiết kiệm được chi phí
cho nhà máy.
1.8. Nguồn nhân công lao động
Xã Hà Tam có phần lớn dân cư sống chủ yếu về nông nghiệp, đây là nguồn lao
động cần thiết cho nhà máy. Qua đó giúp cho nhà máy có được nguồn lao động ổn
định và tiết kiệm được chi phí về chỗ ở cho nhân công.

Bể lắng đợi 1
Bể xử lý sinh học
Bể lắng đợi 2 Khu xử lý cặn
Máng khoấy trộn Khu làm khô cặn
Bể tiếp xúc Phân bón
Nước sạch Môi trường
PHẦN II: TỔNG QUAN
2.1. Những đặc trưng về công nghệ trong sản xuát đường mia Việt Nam.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 6 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
Công nghệ sản xuất đường thông thường trải qua 3 công đoạn chính: ép, làm sạch
nước mía và kết tinh.
Trong chương trình mía đường, một số công nghệ mới được áp dụng đã góp phần
làm cho ngành đường phát triển mạnh và ngày càng hoàn thiện hơn.
- Ép mía là phương pháp tách nước mía được sử dụng phổ biến ở nước ta chủ yếu
do chi phí đầu tư thiết bị thấp, vận hành đơn giản và linh hoạt khi phải chạy dưới tải.
Nước sau ép chứa 13 - 15% chất tan trong đó có 12 - 12,5 % là đường sacaroza.
Hiện ở Việt Nam chỉ có 2/45 nhà máy dùng phương pháp khuếch tán là Nhà máy
đường Cam Ranh, Bourbon Tây Ninh và nhà máy đường La Ngà
- Trên 50% nhà máy đường dùng phương pháp sunfit để tinh chế đường. Ngoài ra
còn có phương pháp vôi hóa và cacbonat hóa.
- Công nghệ sunfit hóa trung tính được sử dụng mang lại hiệu suất thu hồi và chất
lượng sản phẩm cao hơn, giảm tổn thất đường.
- Công nghệ lắng nổi có hiệu suất làm sạch và tẩy màu cao, đặc biệt trong sản xuất
đường trắng bằng phương pháp sunfit.
- Cải tiến công nghệ sản xuất đường tinh luyện bằng cách kết hợp với sản xuất
đường thô trong cùng một nhà máy đã giảm được 30-40% vốn đầu tư và giảm 30%
giá thành sản phẩm .
2.2. Đường sacaroza
Sacaroza là thành phần quan trọng nhất của cây mía, là sản phẩm của công nghệ sản

OH
OH
O
OH
H
OH
H
H
H
H
CH
2
OH
Đồ án tốt nghiệp 7 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
nếu ăn quá nhiều đường một lúc, lượng đường trong máu tăng đột ngột đến 200-400
mg % (giới hạn là 80- 120mg %), tế bào tủy sẽ không tạo đủ lượng insulin để chuyển
đường glucoza thành glucogen dự trữ ở gan và cơ, thận sẽ làm việc quá tải và đường
theo nước thải ra ngoài.
Tinh thể đường sacaroza thuộc hệ đơn tà, trong suốt, không màu.Tỉ trọng 1,5878.
Nhiệt độ nóng chảy 186-188
0
C.
Đường rất dễ hòa tan trong nước. Độ hòa tan tăng theo nhiệt độ tăng và phụ thuộc
vào chất không đường có trong dung dịch đường.
Đường sacaroza không hòa tan trong dầu hỏa, cloroform, CCl
4
, CS
2
, benzen,
tecpen, ancol và glixerin khan. Và hòa tan giới hạn trong anilin, piridin, etyl axetat,

2.3.2. Tác dụng của nhiệt độ:
Phương pháp dùng nhiệt độ để làm sạch nước mía là một trong những phương pháp
quan trọng. Khi khống chế được nhiệt độ tôt sẽ thu được những tác dụng chính sau:
- Loại không khí trong nước mía, giảm bớt sự tạo bọt, tăng nhanh các quá trình phản
ứng hoá học
- Có tác dụng tiệt trùng, đề phòng sự lên men axit và sự xâm nhập của vi sinh vật vào
nước mía
- Nhiệt độ tăng cao làm tỉ trọng nước mía giảm, đồng thời làm chất keo ngưng tụ,
tăng nhanh tốc độ lắng của các chất kết tủa
2.3.3. Tác dụng của các chất điện ly:
a. Tác dụng của vôi:
- Trung hoà các axit hữu cơ và vô cơ
- Tạo các điểm đẳng điện để ngưng kết các chất keo
- Làm trơ phản ứng axit của nước mía hỗn hợp và ngăn ngừa sự chuyển hoá đường
sacaroza
- Kết tủa hoặc đông tụ những chất không đường: protein, pectin, chất màu…
- Phân huỷ một số chất không đường, đặc biệt là đường chuyển hoá, amit
- Tác dụng cơ học: các chất kết tủa tạo thành có tác dụng kéo theo những chất lơ lửng
và những chất không đường khác
- Sát trùng nước mía
b. Tác dụng của SO
2
:
- Tạo kết tủa CaSO
3
có khả năng hấp thụ các chất không đường, chất màu và chất keo
có trong dung dịch.
- Làm giảm độ kiềm, độ nhớt của dung dịch do một phần chất keo đã bi loại
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 9 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại

3
(PO
4
)
2
, kết tủa này
có tỷ trọng lớn có khả năng hấp thụ chất keo và chất màu cùng kết tủa. Khi vôi làm
sạch nước mía có đủ lượng P
2
O
5
nhất định thì hiệu quả làm sạch tăng rõ rệt
2.2.3. Quá trình cô đặc:
Nước mía sau khi làm sạch có nồng độ chất khô khoảng 12 – 15Bx. Để đáp ứng
nhu cầu nấu đường, cần cô đặc nước mía đến khoảng 65Bx gọi là mật chè và do đó
cần bốc hơi một lượng nước lớn và để tiết kiệm hơi cần thực hiện ở hệ bốc hơi nhiều
hiệu. Trong quá trình bốc hơi, tuy rằng tiêu hao một lượng hơi nhiều nhưng đồng thời
cũng sản sinh ra một lượng hơi thứ lớn. Hơi thứ có nhiệt độ cao, nên được sử dụng
làm nguồn nhiệt cho các công đoạn khác như nấu đường, gia nhiệt. Do đó, công đoạn
bốc hơi là trung tâm hệ thống nhiệt của toàn nhà máy, là trạm cung cấp hơi áp lực
thấp. Có phương án bốc hơi hợp lý sẽ giảm tiêu hao năng lượng hơi và giảm giá
thành. Có 3 phương án nhiệt của hệ bốc hơi:
- Phương án bốc hơi áp lực
- Phương án bốc hơi chân không
- Phương án bốc hơi áp lực chân không
Trong quá trình bốc hơi, dưới tác dụng của nhiệt độ cao nên sẽ xảy ra nhiều phản
ứng hoá học và hoá lý dẫn đến sự thay đổi thành phần và đặc tính của dung dịch
đường:
- Sự chuyển hoá sacaroza
- Sự phân huỷ sacaroza và tăng màu sắc

nhân tinh thể hút vào, lắng chìm vào bề mặt tinh thể, đồng thời xếp từng lớp ngay
ngắn theo hình dạng tinh thể làm cho tinh thể lớn dần lên. Trong quá trình đó , do các
phân tử đường không ngừng lắng chìm vào tinh thể nên số lượng phân tử đường
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 11 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
trong nước đường gần bề mặt tinh thể giảm đi và số lượng phân tử đường trong nước
đường xa bề mặt tinh thể tăng lên tương đối, hình thành hai khu vực nồng độ thấp và
nồng độ cao. Do 2 khu vực nồng độ khác nhau nên xuất hiện hiện tượng khuếch tán
của các phân tử đường từ khu vực nồng độ cao sang khu vực nồng độ thấp, đến rìa
tinh thể bị tinh thể hút vào và lắng chìm xuống [8 – Tr43]. Qúa trình cứ tiếp tục như
vậy làm cho tinh thể đường lớn dần lên.
2.4.3. Động học của quá trình kết tinh đường
Quá trình kết tinh đường gồm hai giai
đoạn:
• Sự xuất hiện nhân tinh thể được biểu
diễn theo đồ thị:
Trạng thái của dung dịch sacaroza chia
làm 3 vùng quá bão hòa:
- Vùng ổn định: Hệ số bão hòa α = 1,1 -
1,15. Trong vùng này tinh thể chỉ lớn lên
mà không xuất hiện các tinh thể mới.
- Vùng trung gian: α = 1,2 - 1 ,25.
Trong vùng này, tinh thể lớn lên và xuất hiện một lượng nhỏ tinh thể mới
- Vùng biến động: α >1,3. Ở đây, tinh thể sacaroza tự xuất hiện mà không cần tạo
mầm hoặc kích thích.
• Sự lớn lên của tinh thể: Các phân tử đường khuếch tán đến bề mặt mầm tinh thể và
kết tinh làm tăng kích thước của tinh thể đường. Quá trình kết tinh có ý nghĩa rất
quan trọng, do đó chúng ta cần kiểm soát tốt quá trình này để nấu đường đạt hiệu suất
cao.

- Phương pháp vôi
- Phương pháp SO
2
- Phương pháp CO
2

a. Làm sạch nước mía bằng phương pháp vôi
Phương pháp vôi có từ rất lâu, là cách làm sạch đơn giản nhất.
Phương pháp gia vôi được chia làm 3 loại sau:
- Cho vôi vào nước mía lạnh
- Cho vôi vào nước mía nóng
- Cho vôi phân đoạn
- Ưu, nhược điểm của phương pháp cho vôi phân đoạn.
- Ưu điểm:
+ Quản lý và thao tác tương đối dễ
+ Dây chuyền công nghệ đơn giản, chi phí đầu tư thấp
+ Giảm 35% lượng vôi so với hai phương pháp cho vôi trên.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 14 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
+ Hiệu suất làm sạch cao tốt, loại chất không đường cao, tốc độ kết lắng nhanh, dung
tích bùn nhỏ
- Nhược điểm
+ Hiệu suất thu hồi đường không cao
+ Nếu khống chế không tốt dễ gây chuyển hoá và phân huỷ đường sacaroza
+ Chất lượng sản phẩm không cao nên chủ yếu là sản xuất đường thô.
b. Làm sạch bằng phương pháp sunphit hoá.
- Phương pháp sunphit hoá axít
- Phương pháp sunphit hoá kiềm mạnh
- Phương pháp sunphit hoá kiềm nhẹ

hơn mặc dầu hiệu quả làm sạch thấp, khả năng thu hồi đường không cao nhưng có
các ưu điểm là:
- Chi phí đầu tư thấp
- Dây chuyền đơn giản, số lượng thiết bị ít
- Quản lý và thao tác dễ dàng.
- Chất lượng đường không thấp hơn phương pháp SO
2
là bao.
Qua phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp, để sản xuất đường thô ta
chọn phương pháp vôi với phương pháp cho vôi phân đoạn.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 15 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
3.1.3. Chọn chế độ nấu đường.
Trong sản xuất người ta thường áp dụng hai chế độ nấu đường, chế độ nấu gián
đoạn và nấu liên tục.
Với chế độ nấu liên tục: thời gian nấu nhanh do đó nâng cao năng suất, ít tổn thất
hơi, dễ tự động hoá quá trình nấu tuy nhiên phương pháp này vẫn tồn tại những mặt
không tốt, vốn đầu tư cao, thiết bị chế tạo phức tạp, thao tác khó khăn đòi hỏi người
vận hành phải có kinh nghiệm và trình độ cao, đồng thời do sự tự động hoá hoàn toàn
khâu điều chỉnh nên yêu cầu về các thiết bị, dụng cụ kiểm tra có liên quan phải chính
xác hoàn toàn, thực hiện đồng bộ. Tuy tự động hoá cao nhưng chất lượng đường
không tốt. Vì thế đối với tình hình sản xuất đường như nước ta hiện nay có thể nói là
không thích hợp.
So với phương pháp nấu liên tục thì nấu gián đoạn tuy còn nhiều hạn chế nhưng
phù hợp với thực tế sản xuất của nước ta hiện nay. Do trình độ vận hành của công
nhân còn thấp nên trong quá trình nấu khi gặp sự cố có thể xử lý được.
Vì vậy để chọn chế độ nấu ta chọn chế độ nấu gián đoạn. Với phương pháp nấu
gián đoạn, ta chọn chế độ nấu 3 hệ.
3.2. Dây chuyền công nghệ sản xuất đường bằng phương pháp cho vôi phân

Nấu non A Nấu non B Nấu non C
Trợ tinh Trợ tinh Trợ tinh
Máng phân phối Máng phân phối Máng phân phối
Ly tâm Ly tâm Ly tâm
Đường A Mật A Đường B Mật B Đường C Mật cuối
Sấy Đường hồ Hồi dung C
Làm nguội Nấu non A Bể mật rỉ
Đóng bao Bảo quản.
3.3. Thuyết minh dây chuyền công nghệ :
3.3.1. Vận chuyển, tiếp nhận và xử lý nguyên liệu :
Mía được vận chuyển về nhà máy, qua cân điện tử định lượng và lấy mẫu phân
tích chữ đường rồi được đưa xuống bàn lùa bằng hệ thống cẩu.
Sau đó mía được phân phối xuống băng chuyền, qua máy băm 1, máy băm 2 nhờ hệ
thống dao băm của hai máy mía được băm nhỏ thành mía vụn và đi tiếp vào máy
đánh tơi. Mía vụn theo băng chuyền nghiêng vào hệ thống ép. Tại công đoạn này ta
bố trí hệ thống từ nhằm loại bỏ tạp chất kim loại có lẫn trong mía.
3.3.2. Ép mía :
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 17 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
Ép nhằm mục đích lấy hoàn toàn nước trong mía nguyên liệu.
Mía đi vào hệ thống ép 4 máy, mỗi máy rồm 3 trục. Đầu tiên mía qua máy ép
dập để thu nước mía đầu rồi qua hệ thống 3 máy ép kiệt. Trong quá trình ép ta kết
hợp rửa nước thẩm thấu để thu hồi phần đường còn sót lại trong bã. Nước thẩm thấu
được dùng để thẩm thấu ở máy ép 3, nhiệt độ nước rửa 45÷ 47
o
C, nước thẩm thấu
cho máy 1 và 2 là nước mía thu từ hệ ép 3 và 4.Nước mía hỗn hợp là nước thu được
từ 2 máy đầu tiên sẽ được đưa đi xử lý sơ bộ qua các bộ phận lọc sàng cong nhằm
tách bã vụn rồi qua cân định lượng để tiếp tục đi vào công đoạn làm sạch tiếp theo.

BãMía
Đồ án tốt nghiệp 18 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
Hình 3.2 – Thiết bị gia vôi
3.3.4. Gia nhiệt I : ( t
o
= 70 ÷75
o
C)
Mục đích: nhằm tăng tốc độ phản ứng tạo kết tủa Ca
3
(PO
4
)
2
và tăng khả năng hấp
phụ các chất keo, giảm độ nhớt của nước mía, loại không khí giảm sự tạo bọt, hạn
chế hoạt động của VSV.
Thiết bị: Chọn thiết bị gia nhiệt loại ống chùm.
Thiết bị ống chùm có hệ số cấp nhiệt cao, bề mặt truyền nhiệt lớn thường là 400 ÷
600 m
2
, ít đóng cặn, vệ sinh dễ dàng.
3.3.5. Gia vôi II : ( pH = 7,6 ÷ 8,2)
- Mục đích:
+ Tạo kết tủa Ca
3
(PO
4
)

= 102 ÷105
o
C)
Mục đích: nhằm giảm độ nhớt của dung dịch làm tăng tốc độ quá trình lắng sau
này, giảm tỉ trọng nước mía, tăng hiệu quả tiêu diệt vi sinh vật.
Thiết bị: Chọn giống như gia nhiệt I.
3.3.7. Lắng trong :
Mục đích: nhằm thu nước mía trong sau khi tách loại hoàn toàn bùn và cặn nhỏ ra
khỏi nước mía hỗn hợp. Quá trình lắng làm việc dựa trên tác dụng của trọng lực, các
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 19 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
hạt rắn kích thước lớn và các kết tủa sẽ lắng tự nhiên. Trong quá trình lắng nước mía
được lắng liên tục và bùn lấy ra ngoài nhờ bộ phận răng cào trên các tấm ngăn.
Thiết bị: Chọn thiết bị lắng trọng lực làm việc liên tục có bộ phận răng cào, thiết bị
loại này hoạt động tốt năng suất cao, cấu tạo đơn giản và dễ dàng thao tác.
3.3.8. Lọc chân không:
Mục đích: Nhằm thu hồi lượng đường còn sót lại trong bùn lắng.
Thiết bị: chọn thiết bị lọc chân không thùng quay: [Hình 8.13/ 4, 161]
Thiết bị là một thùng rỗng 2 đầu có khung thép đỡ nằm ngang. Nhờ có chân
không nước bùn được hút bám vào vải lọc thành lớp bùn. Nước lọc theo các ống góp
từ các ngăn về đầu phân phối thu được nước lọc trong, được bơm đi gia nhiệt 3. Bã
bùn được băng tải đưa ra ngoài. Tốc độ thùng quay: 1÷2,5 vòng/phút, chiều dày lớp
bùn khoảng: 8÷20 mm, nhiệt độ nước bùn lọc: 85÷90
o
C, lượng nước rửa khoảng:
100÷150%, nhiệt độ nước dùng để rửa: 80
o
C.


3.3.11. Lọc kiểm tra:
Mục đích: tách cặn mới sinh ra và cặn còn sót, làm tăng độ tinh khiết của mật chè,
tạo điều kiện tốt cho công đoạn sau (nấu, kết tinh, ly tâm).
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 21 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
[12]
3.3.12. Nấu đường:
Mục đích: Nhằm tách nước từ mật chè, đưa dung dịch đến quá bão hoà, đảm bảo
chất lượng đường thành phẩm, tăng hiệu suất thu hồi đường.
Nấu non A: Thường nấu ở áp suất chân không 600-620mmHg, nhiệt độ nấu 60-65
0
C,
thời gian nấu 3h. Để ổn định trong quá trình nấu đường yêu cầu nhiệt độ của nguyên
liệu đưa vào phối liệu phải cao hơn nhiệt độ trong nồi 3-5
0
C. Quá trình nấu đường có
thể chia làm 4 giai đoạn: cô đặc đầu, tạo mầm tinh thể, nuôi tinh thể, cô đặc cuối.
Nấu non B: Nguyên liệu nấu B là loãng A, giống B và nguyên A. Nấu ở điều kiện áp
suất chân không, nhiệt độ nấu khoảng 70-80
0
C. Lượng giống cho vào khoảng 6-8%
so với khối lượng đường non B. Nhiệt độ phối liệu trước khi đưa vào phải lớn hơn
nhiệt độ trong nồi 3-5
0
C. Cô đặc cuối không nên quá nhanh. Quá trình nấu phải luôn
theo dõi để kiểm tra xử lý, chỉnh lý nếu có sự cố. Nấu đến Bx = 96% thì xả đường
đem li tâm.
Nấu non C: Nguyên liệu nấu non C là giống C, mật B, nguyên A. Tỷ lệ giống C là
22-23% so với non C, lượng nước chỉnh lý khoảng 10%. Nấu đến nồng độ đường Bx

đại
3.3.14. Ly tâm :
Mục đích: Do trên bề mặt tinh thể sau khi kết tinh vẫn còn một lượng mật chưa kết
tinh hết nên ta cần tách ra khỏi tinh thể bằng lực li tâm trong các thùng quay với tốc
độ cao. Sau li tâm ta nhận được đường và mật cái. Nhiệt độ đường non là: 55
o
C.
Đường non từ thiết bị trợ tinh xuống máng phân phối để khuấy đều rồi phân phối
xuống các máy li tâm.
Thiết bị: Đường A và B có độ nhớt thấp và mật sau khi ly tâm sử dụng lại nên dùng
máy ly tâm gián đoạn. Còn với đường C có nhiều tạp chất hơn, có độ nhớt cao hơn
do đó cần thời gian ly tâm dài hơn và tốc độ ly tâm cao hơn, đều đặn nên dùng thiết
bị ly tâm liên tục, mục đích là để phân mật một cách triệt để.

3.3.15. Sấy đường:
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Hình 3.9: Máy li tâm liên tục.Hình 3.8: Máy li tâm gián đoạn.[ 16 ]
Hình 3.7: Thiết bị trợ timh ngang.[13]
Đồ án tốt nghiệp 24 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
Sau ly tâm đường cát có độ ẩm cao từ 0,6 ÷ 2% cần phải được làm khô để bảo
quản. Sấy nhằm giảm độ ẩm, làm cho màu sắc hạt đường bóng sáng tạo điều kiện tốt
cho công tác bảo quản, đường thành phẩm không bị biến chất trong thời gian lưu kho.
Đối với đường thô sau khi sấy độ ẩm đường phải đạt 0,1% mới an toàn bảo quản
trong thời gian dài.
Quá trình sấy dễ dàng do tinh thể đường không ngậm nước nên dễ dàng tách ẩm trên
bề mặt hạt đường. Chọn thiết bị sấy kiểu thùng quay, sấy theo nguyên tắc ngược
chiều, tác nhân sấy là không khí nóng được lọc sạch qua bộ lọc không khí và đốt
nóng bằng hệ thống caloriphe.
3.3.16. Làm nguội và phân loại:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status