NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm NHTM
Ngay từ xa xưa người ta đã biết dùng tiền làm phương tiện thanh toán, làm trung
gian trao đổi hàng hoá. Thông qua tiền, việc trao đổi hàng hoá được tiến hành một cách
thuận lợi, dễ dàng hơn nhiều, góp phần kích thích sản xuất. Xã hội ngày càng phát triển
thì vai trò của tiền tệ ngày càng đươc phát huy, đồng thời các nhu cầu về tiền tệ cũng
bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng, chính điều này đã thúc đẩy sự ra đời và
phát triển của một loại hình trung gian tài chính chuyên kinh doanh về tiền tệ, đó là các
ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một trong những loại hình NH trung gian lâu đời nhất.
Sự ra đời của NHTM là kết quả tất yếu khách quan của quá trình sản xuất, trao đổi hàng
hóa và phân công lao động xã hội. NHTM là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất
hàng hoá trong kinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền
kinh tế: “Là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế.” [Peter Rose (2002), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính].
Bản chất, chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của các NH hầu như là giống
nhau song quan niệm về NH lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới. Sở dĩ có
tình trạng này là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ
NH lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế.
Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau đã dẫn đến
những quan niệm về NHTM không đồng nhất giữa các nước trên thế giới. Theo quan
điểm của các nhà kinh tế Mỹ thì “NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ
tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính”; Ở Pháp, theo điều 1 Luật Ngân hàng
Pháp 1941 quy định: “NHTM được hiểu là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường
xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ
dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính” ; Ở Việt Nam,
theo quy định tại điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 1997 thì NH được định nghĩa như sau:
tư vượt quá thu nhập và vì thế họ cần bổ sung vốn; hai là các cá nhân và tổ chức thặng
dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng
hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Khi thực hiện chức năng trung gian tài
chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về
vốn, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn tín dụng trực tiếp, góp phần tạo lợi ích cho tất cả
các bên tham gia, bao gồm: người gửi tiền, NH, người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự
phát triển kinh tế.
Chính vì thế NHTM với tư cách là một trung gian tài chính đứng ra nhận tiền gửi
tiết kiệm và cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng và thời hạn phong phú và đa
dạng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của khách hàng có đủ điều kiện vay vốn. Với mạng
lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin nhiều chiều, hoạt
động ngày càng phong phú chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực NHTM đã thực sự giải
quyết được những hạn chế của thị trường tài chính trực tiếp, góp phần nâng cao hiệu
quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường
Đây được coi là chức năng quan trọng nhất của NH thương mại, quyết định sự tồn
tại và phát triển của NH, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Cho vay
Đầu tư
Gửi tiềnCá
nhân
và
DN
Cá
nhân
và
DN
Ngân
Hàng
TM
Ủy thác
không thể tạo ra được.
Tóm lại, sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán là cơ
sở để NHTM thực hiện chức năng tạo tiền gửi thanh toán. Thông qua chức năng làm
trung gian tín dụng, NH sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay lại
được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phân của tiền giao
dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ. Nếu NH chỉ thực hiện chức năng
nhận tiền gửi mà chưa cho vay, NH vẫn chưa tạo tiền. Chỉ đến khi thực hiện cho vay,
NH mới bắt đầu tạo tiền. Đây là một phát minh lớn trong hoạt động NH. Có thể thấy,
các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung hỗ trợ cho nhau, trong đó
chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện
các chức năng còn lại. Đồng thời, khi NH thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán
và chức năng tạo tiền sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín
dụng.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của NHTM
Vai trò to lớn của NH đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc
trưng của hoạt động NH. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động
vì mục đích lợi nhuận song lại ở lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ, một
lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Do
nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, các NH không ngừng tăng cường mở rộng các
danh mục các sản phẩm NH nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, sử
dụng nguồn vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta có thể xắp
xếp các hoạt động đó vào một trong ba nhóm sau:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quan
trọng trong việc quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh của NH.
Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM tạo nên sự khác
khoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ, chi hộ khách hàng bằng hình thức
séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng...
- NH đóng vai trò làm trung gian trong việc mua bán hộ cho khách hàng.
- NH làm đại lý phát hành và bán chứng khoán cho công ty.
Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ, thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài
chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sự cần thiết của hệ
thống NH trong phát triển nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy của nền kinh tế.
1.2. Hoạt động huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
1.2.1. Khái niệm và vai trò của tiền gửi khách hàng đối với hoạt động của NHTM
1.2.1.1. Khái niệm và kết cấu nguồn vốn của NHTM
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài chính lại
được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai trò chủ đạo của các
NHTM đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị trí
đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải
có trước tiên là vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng
để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của các NHTM phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong sản
xuất kinh doanh được gửi vào NH với những mục đích khác nhau. NH đóng vai trò tập
trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu cầu về
vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vốn và các hoạt động về huy động vốn quyết định
trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM. Vốn đóng
vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM.
Kết cấu nguồn vốn NHTM bao gồm : Vốn tự có, vốn huy động và vốn khác.
* Vốn tự có là nguồn lực tự có mà chủ NH sở hữu và sử dụng vào mục đích
kinh doanh theo luật định. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng, tùy theo tính chất
sở hữu, năng lực tài chính của chủ NH, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn tự
có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM song nó lại là yếu tố cơ bản
đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của một NH. Mặt khác, với chức năng bảo
mượn được nhiều hơn. Khả năng vay mượn này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển
của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của NH.
- Vốn đi vay từ các NH khác: Đối với nghiệp vụ này các NHTM tiến hành tạo vốn cho
mình bằng cách vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ và NHNN dưới hình thức tái
chiết khấu hay vay có bảo đảm, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân
NHTM khi mà họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Thực tế cho thấy,
chi phí của vốn đi vay thường cao hơn chi phí của vốn huy động tại chỗ cho nên nó
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH. Tuy nhiên, tính chủ động của vốn đi
vay lại cao hơn vốn huy động tại chỗ.
* Vốn khác: Ngoài các nguồn vốn chủ yếu trên NHTM còn có các nguồn vốn
khác cũng không kém phần quan trọng như: vốn trong thanh toán, nguồn vốn uỷ thác
đầu tư...NHTM có thể sử dụng các nguồn vốn này để kinh doanh trong khoảng thời
gian và điều kiện nhất định.
Tóm lại, NHTM có rất nhiều biện pháp nhằm thu hút tối đa các nguồn vốn
trong nền kinh tế, đó là: huy động các khoản tiền gửi; huy động thông qua phát hành
các giấy tờ có giá; huy động từ việc đi vay các NH khác. Vốn huy động đóng vai trò rất
quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHNN. Mặc dù bị giới hạn về mức
huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguốn vốn này thì không những nguồn
lợi của NH được tăng lên mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao. Qua đó NH có thể
mở rộng được vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của NH.
1.2.1.2. Vai trò của tiền gửi khách hàng đối với hoạt động kinh doanh của NH
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có
vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối
với NH là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là “tiền tệ” nên
nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NH lại càng có vai trò hết sức quan trọng.
Nói cách khác, nguồn vốn mà NH huy động được nhiều hay ít quyết định đến khả năng
mở rộng hay thu hẹp tín dụng.
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động cổ điển và mang tính
đặc thù riêng có của NHTM. Đây cũng là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tín