NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 62

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1 Khái niệm về NHTM
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Khi nói đến
ngân hàng người ta thường nghĩ ngay đến các Ngân hàng thương mại vì các
NHTM chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô, thị phần, mạng lưới hoạt động trong
toàn hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng trước hết là một tổ chức trung gian tài chính. Trung gian tài chính là
một tổ chức hỗ trợ các kênh luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi
vay theo hình thức gián tiếp. Những tổ chức trung gian tài chính thường được
nhắc đến như : ngân hàng, các công ty tư vấn tài chính và môi giới, các công ty
bảo hiểm...
Một cách hiểu đơn giản về ngân hàng đó là: ngân hàng là tổ chức hoạt động
kinh doanh cung cấp các dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận.
Để có thể rõ hơn về khái niệm ngân hàng, xét theo phương diện những loại hình
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì : “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng định nghĩa như sau “ Hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên
là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán”.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Đối với các NTM, hoạt động đem lại lợi nhuận chính cho ngân hàng là hoạt
động cho vay. Và để có thể cho vay thì các ngân hàng phải có một lượng tiền đủ
để đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng tăng trong nền kinh tế. Vì thế ngoài vốn
chủ sở hữu ra thì ngân hàng phải huy động một lượng tiền khá lớn. Ngân hàng
có thể huy động vốn từ các nguồn như sau :

Nguồn khác bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các khoản nợ
khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả...
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
* Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM nhằm tài trợ cho khách hàng trên cơ
sở tín nhiệm. Hình thức tín dụng truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn
có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên vật liệu, sau
đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất
động sản, bằng chứng khoán… Các NHTM lớn hiện nay thực hiện đa dạng các
hình thức tín dụng. Để mở rộng tín dụng có hiệu quả, các ngân hàng vừa phải
xây dựng một chính sách tín dụng đúng đắn vừa phải không ngừng đa dạng hoá
các hình thức tín dụng cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Để phục vụ mục tiêu quản lý của ngân hàng và nhu cầu của khách hàng, tín
dụng ngân hàng có nhiều hình thức phân loại khác nhau như:
• Phân theo thời gian: bao gồm tín dụng ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống,
trung hạn (từ trên 1 năm đến 5 năm) và dài hạn ( trên 5 năm ).
• Phân theo hình thức: bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
• Phân loại theo tài sản đảm bảo: bao gồm tín dụng có đảm bảo bằng uy tín
của khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản.
• Phân loại tín dụng theo rủi ro: bao gồm tín dụng lành mạnh, tín dụng có
vấn đề, nợ quá hạn có khả năngthu hồi, nợ quá hạn khó đòi.
Ngoài ra còn một số cách phân loại khác theo ngành kinh tế, theo đối tượng
tín dụng, mục đích sản xuất…
* Hoạt động đầu tư
Phần lớn nguồn vốn huy động được ngân hàng đều cho vay vì hoạt động tín
dụng tạo ra lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng. Bên cạnh đó ngân hàng còn sử
dụng vốn để đầu tư như đầu tư vào chứng khoán, vào bất động sản… Những
khoản cho vay có tính thanh khoản thấp, rủi ro cao, không dễ chuyển thành
tiền mặt như chứng khoán hay bất động sản. Do vậy các ngân hàng thường
đa dạng hoá danh mục đầu tư để vừa giảm thiểu rủi ro, vừa tăng thu nhập.

NHNN Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng thì
hoạt động cho vay được định nghĩa như sau: “ Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hang sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi “.
1.1.4.2 Nguyên tắc cho vay
Tuy cho vay là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM Việt Nam
nhưng chất lượng các khoản vay chưa cao, nhiều khả năng xảy ra tổn thất, làm
giảm thu nhập của ngân hàng. Để hạn chế rủi ro, đảm bảo tính an toàn và khả
năng sinh lời NHNN và các NHTM đã đưa ra một số nguyên tắc cho vay như
sau:
Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định: các
khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của
khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có trách nhiệm
hoàn trả cả gốc lẫn lãi như đã cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu người
nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn
tại và phát triển.
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích được thoả thuận
với ngân hàng, không trái với các qui định của pháp luật và các qui định khác
của ngân hàng cấp trên. Luật pháp qui định phạm vi hoạt động cho các ngân
hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân hang có thể có mục đích và phạm vi hoạt động
riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảm ngân hàng
không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó là phù hợp với
cương lĩnh của ngân hàng.
Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sản xuất kinh doanh (hoặc dự án) có hiệu
quả. Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất.
Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của
người vay. Trong trường hợp thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người vay
phải có tài sản đảm bảo khi vay. Tài sản đảm bảo này có thể khác với tài sản
tương đương hình thành từ tiền vay.

là rất lớn và vốn vay còn là lá chắn thuế hữu hiệu cho các DNVVN.
Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh. Để có thể vay vốn ngân hàng thì các DNVVN phải đáp ứng đầy đủ
điều kiện vay vốn. Do đó phương án sản xuất kinh doanh đưa ra đòi hỏi phải có
những tính toán cụ thể về doanh thu, chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, lợi
nhuận dự kiến…để ngân hàng phân tích , đánh giá tính khả thi của phương án
và đưa ra quyết định cho vay hay không. Như vậy, ngân hàng giúp cho các
DNVVN nâng cao khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, xây dựng phương án
kinh doanh hiệu quả. Sau khi cho vay ngân hàng thường kiểm tra, giám sát việc
sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không, nhờ đó ngân hàng thúc đẩy
DNVVN sử dụng vốn hiệu quả.
Tín dụng ngân hàng cũng giúp các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường quốc tế,
với công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại bằng cách tài trợ xuất - nhập khẩu.
Hiện nay số lượng các DNVVN ở nước ta chiếm khoảng hơn 90% tổng số các
DN nhưng số lượng DNVVN có thể tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng không
nhiều. Nếu như các DNVVN có thể vay vốn ngân hang nhiều hơn thì sẽ có điều
kiện phát triển, thoát khỏi tình trạng yếu kém, từ đó cũng sẽ làm cho nền kinh tế
phát triển tốt hơn.
1.1.4.5 Đặc điểm của hoạt động cho vay
* Đối tượng cho vay: bao gồm cá nhân và tổ chức có hoạt động sản xuất kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
* Thời hạn cho vay và kì hạn nợ: dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn
thu hồi vốn đầu tư, số vốn vay ngân hàng mà ngân hàng quy định thời hạn cho
vay và kì hạn nợ.
* Hình thức cho vay: ngân hàng có nhiều hình thức cho vay khác nhau phục vụ
cho nhu cầu về vốn của mọi đối tượng khách hàng.
* Lãi suất cho vay: mức lãi suất cho vay hiện nay được thoả thuận giữa ngân
hàng với khách hàng. Ngân hàng cũng đưa ra nhiều mức lãi suất linh hoạt, phù
hợp với từng đối tượng khách hàng và từng thời kỳ.
* Giới hạn cho vay: khi khách hàng đến vay vốn ngân hàng, nếu vay bổ sung

chức tài chính lớn, công ty lớn… cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
- Cho vay có đảm bảo: tài sản đảm bảo cho phép ngân hàng có được nguồn thu
nợ bằng cách bán tài sản đảm bảo khi khách hàng không có khả năng trả nợ
hoặc trả không đủ. Những tài sản này được đảm bảo dưới hình thức cầm cố, thế
chấp. Các khoản vay cũng có thể được đảm bảo bằng sự bảo lãnh của người thứ
ba.
+Cho vay cầm cố: là hình thức người đi vay chuyển quyền kiểm soát tài sản
cho ngân hàng trong thời gian cam kết. Thường những tài sản này khi ngân
hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến hoạt động của người đi vay.
+ Cho vay thế chấp: là hình thức người đi vay chuyển những giấy tờ chứng
nhận quyền sở hữu tài sản cho ngân hàng trong thời gian cam kết. Đảm bảo
bằng thế chấp cho phép người đi vay sử dụng tài sản đảm bảo phục vụ cho hoạt
động kinh doanh.
+ Bảo lãnh là hình thức cho vay dựa trên sự bảo lãnh của người thứ ba. Theo
đó người thứ ba sẽ cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong trường hợp
người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ với ngân hàng.
* Phân loại theo mục đích cho vay
- Cho vay bất động sản: là hình thức cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng nhà ở, đất đai, bất động sản.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các DN trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc…
- Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dân cư như
mua sắm vật dụng đắt tiền, đồ dùng lâu bền…
* Phân loại theo phương thức cho vay
- Thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người
vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Khi khách hàng có tiền về tài khoản
ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.

Hạn mức được duyệt trong kỳ
Dư nợ trong kỳ
Hạn mức được duyệt cuối kỳ
Dư nợ
Còn đối với hạn mức cuối kì thì dư nợ của khách hàng trong kì có thể vượt
quá hạn mức nhưng dư nợ cuối kì vẫn phải đảm bảo nằm trong hạn mức.
Sơ đồ
Hình thức cho vay này thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể
nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
-Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc vài năm. Đây
không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối
quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay không tuỳ thuộc
vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, uy tín của khách hàng cũng
như tình hình tài chính của khách hàng.
Đối với hình thức vay này, hàng hoá mua vào là đối tượng cho vay của ngân
hàng, thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Các khoản phải
thu và hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay.Cho vay
luân chuyển thuận tiện cho khách hàng vì thủ tục vay chỉ cần thực hiện 1 lần
cho nhiều lần vay. Tuy nhiên điều này lại gây khó khăn cho ngân hàng trong
việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng.
Sơ đồ cho vay luân chuyển
Dư nợ
Dư nợ
Thời gian
Vay (/ ), trả (\ )
- Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng

phát triển kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Theo nghị định số 90/201/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 23/11/2001 về trợ giúp
phát triển DNVVN thì DNVVN được định nghĩa như sau: “ Doanh nghiệp vừa
và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”.
Theo tiêu chí phân loại DNVVN về vốn sản xuất và lao động thường xuyên thì
ở Việt Nam có cách phân loại như sau:
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN ở Việt Nam

Tiêu chí
Công nghiệp Thương mại, dịch vụ
DNV & N Trong đó:
DN nhỏ
DNV & N Trong đó:
DN nhỏ
Vốn sản xuất
(đồng)
Dưới 5 tỷ Dưới 1 tỷ Dưới 2 tỷ Dưới 1 tỷ
Lao động thường
xuyên (người)
Dưới 300 Dưới 50 Dưới 20 Dưới 30
(Nguồn: Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ DNVVN- Nguyễn Cúc)
Chúng ta cũng có thể tham khảo một số quan niệm về DNVVN ở một số nước
khác như Nhật Bản hay Thái Lan. Ở Nhật từ những năm 60 đã có luật về DN
trong đó DNVVN được hiểu như sau:
Bảng 1.2: Phân loại DNVVN ở Nhật Bản
Loại DN Lao Động ( người) Vốn đầu tư (triệu Yên)
DN sản xuất Dưới 300 Dưới 100
DN bán buôn Dưới 100 Dưới 30


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status