NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 69

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 VAI TRÒ CỦA DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ:
1.1.1 Khái niệm về DNVVN:
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm và tiêu thức phân loại DNVVN
không chỉ riêng Việt Nam mà còn ở các nước khác nhau trên thế giới. Nhưng nhìn
chung hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định DNVVN dựa trên hai tiêu thức:
ngsố lượng lao động bình quân và tổng số vốn sản xuất kinh doanh. Ví dụ:
- Ở Hàn Quốc, DNVVN là doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 300 lao động
và số vốn đầu tư dưới 0,6 triệu USD đối với ngành công nghiệp và xây dựng và
không dưới 20 lao động và số vốn đầu tư không quá 0,25 triệu USD đối với
ngành thương mại và dịch vụ.
- Ở EU, các doanh nghiệp có số lao động dưới 250 người, vốn đầu tư dưới 27
triêụ EUR và doanh thu đạt khoảng 40.000 USD được xem là DNVVN
- Ở Việt Nam, DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn kinh doanh không quá 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động.
Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất về DNVVN như sau:
“ DNVVN là những cở sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh
doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất
định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được
trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia .”
1.1.2 Đặc điểm của DNVVN:
Là một loại hình tổ chức kinh tế đặc biệt, DNVVN không chỉ mang những đặc
trưng vốn có của một doanh nghiệp mà còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ
chính khái niệm của nó. Có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của DNVVN như sau:
1.1.2.1 Về vốn của DNVVN:
Các DNVVN có vốn đầu tư ban đầu thấp, khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả
cao. Do có vốn đăng ký ban đầu nhỏ, cùng với chu kỳ kinh doanh thường ngắn nên các
DNVVN có thời gian hoàn vốn thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn. Đồng thời
với quy mô nhỏ về vốn, các DNVVN trở nên năng động và kinh hoạt hơn trước những

kinh doanh, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí đầu vào tăng
làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, và làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn.
1.1.2.6 Năng lực tài chính của DNVVN:
Các DNVVN thường có năng lực tài chính thấp. Vốn luôn là khó khăn lớn nhất
đối với sự tăng trưởng của các DNVVN. Khi mới thành lập, phần lớn các doanh nghiệp
thường gặp khó khăn về vốn. Do có năng lực tài chính còn hạn chế, nên các DNVVN
càng cần đến nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài để đầu tư và phát triển sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các
doanh nghiệp này bởi với một năng lực tài chính không đảm bảo( nguồn tài chính hạn
hẹp, quá trình tích tụ và tập trung vốn thấp, khả năng xây dựng các phương án khả thi
yếu, nhiều doanh nghiệp còn hoạt động kinh doanh theo thương vụ, không có chiến
lược phát triển cụ thể nên mức rủi ro cao, các báo cáo tài chính không đủ sức thuyết
phục do chưa chấp hành tốt các nguyên tắc và chế độ kế toán – tài chính) cùng với việc
chưa tạo lập được uy tín trên thị trường cạnh tranh, thì việc cho vay các doanh nghiệp
này thường mang lại rủi ro lớn. Thêm vào đó, với vốn chủ sở hữu thấp các DNVVN
cũng rất khó khăn trong việc tìm được người bảo lãnh cho mình trong quan hệ tín dụng.
Bên cạnh đó, năng lực tài chính chưa cao, quy mô kinh doanh không lớn, uy tín
thấp cũng khiến các DNVVN khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường chứng
khoán thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu….
Như vậy, với quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận với các nguồn tài chính bên
ngoài lại khó khăn nên tiềm lực tài chính của các DNVVN đã thấp nay lại càng thấp
hơn, do đó DNVVN gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất kinh doanh và
nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
1.1.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế :
Đi lên từ DNVVN chính là xu thế phát triển tất yếu của bất kỳ nền kinh tế nào,
không một công ty hay một tập đoàn lớn nào trên thế giới lại không có khởi điểm từ
quy mô vừa và nhỏ. Lịch sử đã chứng minh vai trò hết sức quan trọng của DNVVN đối
với nền kinh tế, và khu vực kinh tế vừa và nhỏ đã và đang trở thành xương sống trong
nền kinh tế của nhiều quốc gia. Thực tế đã cho thấy khu vực DNVVN là nhân tố quan

lực khác trong xã hội như: sức lao động, tài nguyên đất, rừng, khoáng sản…ở từng địa
phương cũng được sử dụng và phát huy hiệu quả. Chính vì vậy DNVVN đã khơi dậy
tiềm năng của đất nước tham gia vào phát triển kinh tế.
* DNVVN góp phần vào quá trình tạo lập sự phát triển đồng bộ và chuyển dịch
cơ cấu theo vùng, lãnh thổ.
Một thực tế hiện nay là các doanh nghiệp lớn thường tập trung chủ yếu ở các
thành phố, thị xã lớn và chính xu thế đó đã tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng về
trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn giữa các vùng
miền trong cả nước. Sự phát triển của loại hình DNVVN là một giảp pháp cho sự tạo
lập lại cân bằng về trình độ phát triển giữa các miền và sự phát triển đồng đều giữa các
lĩnh vực của nền nền kinh tế, đồng thời thu hút lao động trong xã hội. Việc nhiều doanh
nghiệp mà chủ yếu là các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn ra thành thị
làm việc, đồng thời làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện
đại hoá, giảm tỷ trọng nhành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ.
* DNVVN góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động:
DNVVN có số lượng lớn, lĩnh vực hoạt động đa dạng, ở nhiều nhành nghề khác
nhau, do đó, DNVVN có khả năng tạo ra được khối lượng việc làm lớn cho xã hội, giải
quyết việc làm cho người lao động ở các vùng miền với những trình độ tay nghề khác
nhau, hạn chế tình trạng thất nghiệp, góp phần làm ổn định xã hội.
* DNVVN góp phần đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế:
Với quy mô kinh doanh gọn nhẹ, vốn nhỏ, DNVVN trở nên năng động và linh
hoạt trước những thay đổi của thị trường, các DNVVN dễ dàng chuyển hướng kinh
doanh, thay đổi quy mô sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường mà ít gây biến
động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phục hồi nhanh sau những cuộc khủng
hoảng kinh tế trên góc độ kinh tế quốc gia. Số lượng loại hình doanh nghiệp này gia
tăng sẽ góp phần tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới
công nghệ, phát triển ý tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các nền kinh tế
trong và ngoài khu vực.
* DNVVN góp phần làm ổn định nền kinh tế:
Ở nhiều nền kinh tế, các DNVVN là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp

ngân hàng còn thu thêm nhiều khoản khác đi kèm từ việc cung cấp thêm các dịch vụ:
bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền L/C
* Rủi ro trong hoạt động cho vay đối với DNVVN
Hoạt động tín dụng luôn ẩn chứa những rủi ro. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng
đối với các DNVVN thường có rủi ro lớn hơn so với các doanh nghiệp lớn, do DNVVN
có những hạn chế về năng lực tài chính, trình độ công nghệ và thiếu tài sản bảo đảm.
Khi cho vay các DNVVN thường là những khách hàng chưa có uy tín trên thị trường,
cố tình lừa dối ngân hàng hoặc câu kết với cán bộ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản,
các khoản vay cũng có thẻ được sử dụng không đúng mục đích, cùng với sự lơi là trong
việc kiểm tra, giám sát sau khi vay của ngân hàng có thể dẫn đến hậu quả xấu…
Tuy nhiên, những rủi ro đó thường không có tính hệ thống và không gây ảnh hưởng
lớn mang tính đe doạ đến sự tồn tại của ngân hàng vì nó thường là những khoản vay với
quy mô nhỏ và thường có tài sản đảm bảo.
*Chi phí thẩm định các khoản cho vay đối với DNVVN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status