TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
1. Thực trạng tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
1.1. Thực trạng sản xuất, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản
Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về NTTS với diện tích mặt nước nội
địa khoảng 1 triệu ha, vùng triều khoảng 0,7 triệu ha và hệ thống đầm phá ven
biển có thể phát triển NTTS. Trong khi diện tích có khả năng NTTS của cả nước
ước tính khoảng gần 2 triệu ha thì mới chỉ sử dụng 902.900 ha (năm 2004).
Từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, NTTS của Việt Nam phát triển rất nhanh.
Qua bảng dưới ta cũng có thể thấy tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
của nước ta trong mấy năm qua tăng rất nhanh, tăng từ 641,9 nghìn ha năm
2000 lên đến 959,9 nghìn ha năm 2005.
Bảng - Diện tích mặt nước nuôi trồng và sản lượng thuỷ sản
giai đoạn 2000 – 2006
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
2006
(ước
tính)
A.Tổng số diện tích nuôi trồng (nghìn
ha) 641,9 755,2 797,7 867,6 920,1 959,9
1.Diện tích nước mặn, lợ 397,1 502,2 556,1 612,8 642,3 677,2
Nuôi cá 50,0 24,7 14,3 13,1 11,2 16,5
Nuôi tôm 324,1 454,9 509,6 574,9 598,0 616,9
Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 22,5 22,4 31,9 24,5 32,7 43,4
Ươm, nuôi giống thuỷ sản 0,5 0,2 0,3 0,3 0,4 0,4
2. Diện tích nước ngọt 244,8 253,0 241,6 254,8 277,8 282,7
Nuôi cá 225,4 228,9 232,3 245,9 267,4 272,1
Nuôi tôm 16,4 21,8 6,6 5,5 6,4 6,5
Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 2,2 0,5 0,4 1,0 1,1 1,2
Ươm, nuôi giống thuỷ sản 0,8 1,8 2,3 2,4 2,9 2,9
B. Tổng sản lượng thuỷ sản (nghìn 2250, 2434, 2647, 2859,23142, 3432, 3707,
tấn) 5 7 4 5 8 4
năng suất nuôi trồng tăng lên.
Bảng - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường năm 2005
Thị trường
Số lượng(tấn) Giá trị(USD)
Châu Á (không kể Nhật Bản) 131559.9 378035774
Châu Âu 115696.6 380904754
Mỹ 89025.6 617172589
Nhật Bản 123078.8 785875894
Thị trường khác 177018.9 576737747
Total 636379.8 2738726758
Nguồn: Trung tâm Tin học - Bộ Thủy sản
Tuy vậy, trong quá trình phát triển và nuôi trồng thủy sản cũng đã thể
hiện nhiều bất cập như: diện tích nuôi tôm và diện tích thâm canh ở nhiều địa
phương tăng quá nhanh, chưa có hoặc không theo quy hoạch đang diễn ra ở
nhiều nơi. Việc quản lý chất lượng con giống và quản lý an toàn vệ sinh trong
nuôi trồng thủy sản còn chưa đáp ứng yêu cầu, mặc dù đã đầu tư khá nhiều. Cả
nước chỉ có 7 phòng kiểm nghiệm lớn, nhiều địa phương thiếu cán bộ và
phương tiện kiểm tra. Nhiều doanh nghiệp thực hiện HACCP theo kiểu đối
phó… Những bất cập trên đã tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái và
hình thành nguy cơ cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.
1.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
1.2.1. Giai đoạn trước khi gia nhập WTO
a. Tình hình chung
Thuỷ sản không chỉ là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống dân cư
mà còn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhiều nước. Trong số các nhà xuất
khẩu thuỷ sản, Việt Nam được coi là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ
sản nhanh nhất. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam thời kỳ 1992 – 2003 có tốc độ
tăng trưởng trung bình đạt 9,97%/năm. Năm 1992, giá trị xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam mới là 307,7 triệu USD, nhưng 10 năm sau giá trị này đã tăng gấp
6,57 lần, đạt 2,023 tỷ USD (năm 2002). Từ năm 2001, Việt Nam đã có tên trong
Kết quả của sự tăng trưởng vượt bậc này phải kể đến sự phấn đấu không
ngừng của hàng triệu ngư dân, nông dân để gia tăng sản lượng nguyên liệu
nhiều hơn, tốt hơn, an toàn hơn; sự năng động của các doanh nghiệp trong quá
trình đổi mới công nghệ, cải thiện điều kiện sản xuất, mở rộng thị trường và đa
dạng hoá sản phẩm; cũng như của các cơ quan quản lý ngành thuỷ sản trong
việc hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, tăng cường kiểm tra giám sát chất
lượng sản phẩm. Chất lượng các mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
không ngừng được nâng lên và ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới.
Biểu đồ - Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 1997 – 2005
Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản
Ngành thuỷ sản đã đạt được nhiều tiến bộ mà thể hiện rõ nhất ở kết quả
xuất khẩu, tuy nhiên công tác dự báo thị trường của ngành còn yếu, kinh
nghiệm ngăn chặn và giải quyết các tranh chấp còn hạn chế. Ngoài ra, vấn đề dư
lượng kháng sinh và nhiễm khuẩn do tiêm chích tạp chất và ngâm hoá chất vẫn
là nỗi lo và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các doanh nghiệp. Nếu không giải quyết
tốt những hạn chế trên thì khó đảm bảo sự phát triển xuất khẩu thuỷ sản một
cách bền vững.
b. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản phân theo thị trường
Những kết quả đạt được trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam những
năm qua không thể tách rời với công tác phát triển thị trường. Các doanh nghiệp
đã chuyển hẳn từ tiếp thị thụ động sang tiếp thị chủ động. Nhờ đó đã hình thành
thế chủ động cân đối về thị trường tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm duy trì tăng
trưởng bền vững. Hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam không lệ thuộc hoàn
toàn vào thị trường truyền thống Nhật Bản như những năm trước đây, giảm hẳn
tỷ trọng các thị trường trung gian và bắt đầu giành được vị trí quan trọng trên
các các thị trường lớn, có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn vệ sinh như Mỹ,
EU, Canađa, Nhật Bản, Ôxtrâylia... Các doanh nghiệp thuỷ sản đã có thể điều
chỉnh được cơ cấu thị trường, khi thị trường truyền thống có biến đổi bất lợi.
Việc mở rộng và điều chỉnh thị trường xuất khẩu các sản phẩm cá tra, basa là
một minh chứng về sự thành công của Việt Nam cho khẳng định này. Bên cạnh
(1000USD)
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(1000USD)
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(1000USD)
Tỷ trọng
(%)
Mỹ 489.035 27,51 654.977 32,38 777.656 35,35 602.969 25,12 649.630 23,81
Nhật Bản 465.901 26,21 537.459 26,57 582.838 26,50 772.195 32,16 824.907 30,24
EU 90.745 5,11 73.720 3,64 116.739 5,31 231.528 9,64 433.085 15,88
Bỉ 18.517 1,04 18.574 0,92 31.935 1,45 51.075 2,13 76.482 2,80
Đức 20.708 1,16 11.750 0,58 18.245 0,83 44.200 1,84 67.812 2,49
Italia 13.075 0,74 17.491 0,86 23.043 1,05 32.123 1,34 63.202 2,32
Hàn
Quốc 102.788 5,78 114.308 5,65 107.296 4,88 144.002 6,00 162.083 5,94
Đài Loan 93.519 5,26 116.261 5,75 70.723 3,22 106.072 4,42 118.965 4,36
Hồng
Kông 121.953 6,86 129.325 6,39 96.320 4,38 85.917 3,58 73.823 2,71
Trung
Quốc 194.766 10,96 172.612 8,53 50.785 2,31 46.827 1,95 60.843 2,23
Úc 23.870 1,34 29.672 1,47 44.398 2,02 82.973 3,46 98.802 3,62
Canađa 20.218 1,14 16.477 0,81 22.514 1,02 56.839 2,37 66.971 2,45
ASEAN 64.860 3,65 79.343 3,92 73.013 3,32 167.488 6,98 127.091 4,66
Singapo 24.980 1,41 35.747 1,77 27.527 1,25 79.407 3,31 42.644 1,56
Thái Lan 25.214 1,42 27.535 1,36 29.852 1,36 26.401 1,10 40.987 1,50
Các thị
với 30,24% của Nhật.
Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ ngày một đa
dạng. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Mỹ chiếm tới
74% tổng giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu. Việt Nam trở thành nước xuất khẩu
tôm sang Mỹ đứng thứ 4 về giá trị và đứng thứ 7 về khối lượng. Tuy nhiên, tôm
Việt Nam vẫn chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ (5,3%) trong tổng lượng tôm nhập
khẩu vào Mỹ so với Thái Lan (44,2%) và Mêhicô (10,2%). Đến năm 2003, giá
trị xuất khẩu tôm đông lạnh vẫn tiếp tục tăng, đạt 469 triệu USD, nhưng chỉ còn
chiếm 64% trong tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ. Ngoài tôm, Việt Nam
còn xuất khẩu sang Mỹ các sản phẩm tươi sống như cá ngừ, cá thu và cua với
mức giá ổn định. Mặt hàng cá tra, basa phi lê đông lạnh cũng là mặt hàng độc
đáo của Việt Nam tại thị trường Mỹ và rất được người dân Mỹ ưa chuộng. Tuy
nhiên, vụ kiện cá tra, basa và mức thuế trừng phạt áp dụng đối với sản phẩm
này vào năm 2003 khiến giá trị xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Mỹ
giảm tới 56,3% so với năm 2002. Vụ kiện bán phá giá tôm cũng gây thiệt hại
đáng kể cho xuất khẩu tôm của Việt Nam, từ 513,8 triệu USD năm 2003 giảm
xuống còn 397,7 triệu USD năm 2004 (-22,59%). Các khoản tiền ký quỹ, thuế
chống bán phá giá khiến việc xuất khẩu sang thị trường này trở nên bấp bênh,
gây tâm lý lo ngại cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản.
Tuy vậy, trong tương lai tiêu thụ thuỷ sản của Mỹ vẫn tiếp tục tăng trong
khi lượng thuỷ sản trong nước chỉ cung cấp được từ 15 – 20%, nên nhập khẩu
của Mỹ sẽ tăng không chỉ đối với riêng Việt Nam. Nhiều mặt hàng thuỷ sản
khác nhau có thể sẽ được nhập khẩu vào thị trường này để đáp ứng cho nhu cầu
ngày càng tăng của các tầng lớp dân cư Mỹ và một phần không nhỏ phục vụ cho
nhu cầu tái chế và tái xuất. Tôm đông lạnh, tôm nguyên liệu, cá ngừ đóng hộp,
cá ngừ, cá rô phi sẽ là những mặt hàng có nhu cầu tiêu thụ lớn. Mặc dù các
doanh nghiệp sẽ còn gặp phải có nhiều sóng gió và biến động trên thị trường
này, nhưng Hoa Kỳ vẫn là thị trường chứa đựng nhiều tiềm năng và cần tiếp tục
mở rộng do nhu cầu nhập khẩu hàng thuỷ sản hằng năm lớn (khoảng 10 tỷ
USD), giá thường cao hơn các thị trường khác.
hiện vào cuối năm 2006 của các nhà chức trách Nhật Bản sau khi nước này thực
thi các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm mới, về chất lượng và vệ sinh an
toàn đối sản phẩm mực và tôm của Việt Nam, từ đó đi đến quyết định kiểm tra
100% các lô hàng mực và tôm xuất khẩu từ Việt Nam là một mối nguy lớn, đe
doạ cả ngành thuỷ sản nói chung. Đó cũng là dấu hiệu rõ ràng của sự thiếu đồng
bộ trong hệ thống bảo đảm an toàn chất lượng sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam
hiện nay.
EU : là thị trường có nhu cầu lớn và ổn định về hàng thuỷ sản, nhưng lại
là thị trường được coi là có yêu cầu cao nhất đối với sản phẩm nhập khẩu, với
các quy định khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh. Tuy nhiên do chủ động
thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh đáp ứng yêu cầu của thị trường này,
nên trong thời gian qua xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU đã
có những bước phát triển đáng chú ý. Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2003, giá
trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường này còn rất nhỏ bé chỉ
chiếm khoảng 3 – 5%. Đến năm 2004, khi thêm 10 nước gia nhập vào khối EU
thì giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang khối này đã có sự tăng trưởng mạnh tới
98,33% so với năm 2003, chiếm 9,64% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.
Nhưng sự tăng trưởng vào năm 2004, không chỉ do 10 nước mới gia nhập đóng
góp mà còn do sự tăng trưởng xuất khẩu vào các nước EU cũ như Bỉ
(+59,94%), Đức (+142,26%), Italia (+39,4%)... Rõ ràng xuất khẩu thuỷ sản
sang thị trường EU đã có sự tăng trưởng liên tục và có những biến đổi về chất
kể từ năm 2004 đến nay. Năm 2005, giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
sang thị trường này đã đạt 433,08 triệu USD, gấp 1,87 lần so với năm 2004 và
chiếm tới 15,88% thị phần giá trị xuất khẩu thuỷ sản. Đây là một tín hiệu đáng
mừng, đánh dấu kết quả của sự phấn đấu không ngừng của ngành thuỷ sản trong
hoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hoá thị trường và sản phẩm, đảm bảo
chất lượng, an toàn thực phẩm, vượt qua những rào cản kỹ thuật về vệ sinh an
toàn thực phẩm. Đến đầu năm 2006 Uỷ ban Liên minh châu Âu đã công nhận
thêm 38 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU, nâng
tổng số doanh nghiệp được công nhận lên 209. Ước tính kim ngạch xuất khẩu
lượng an toàn vệ sinh theo các chỉ tiêu do Trung Quốc quy định, đồng thời phải
đăng ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Trung Quốc kèm theo mã số.
Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến xuất khẩu thuỷ của Việt
Nam vào thị trường này giảm mạnh từ năm 2003 đến nay.
Trong giai đoạn thập kỷ 1980 – 1990, Trung Quốc chiếm 2% kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2000 đã vươn lên đứng thứ 3 chiếm
15%. Tuy nhiên, đến năm 2003 do sự thay đổi về cơ chế nhập khẩu và ảnh
hưởng của dịch SARS mà kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào
Trung Quốc đã sụt giảm mạnh. Mặc dù vẫn đứng thứ 3, nhưng xuất khẩu vào thị
trường này vẫn giảm nhiều so với năm 2002, khối lượng giảm 46,8% về giá trị
giảm 51,28% chỉ còn chiếm tỷ trọng 6,69% trong tổng giá trị kim ngạch của
Việt Nam. Xu hướng giảm này vẫn duy trì đến năm 2005, giá trị xuất khẩu sang
thị trường này chỉ còn 134,7 triệu USD so với 316,7 triệu USD năm 2001. Có
nhiều nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng trên, song những kết quả ấy
cũng buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi, liệu công tác xúc tiến thương mại, duy
trì thị trường truyền thống còn có chỗ nào lệch hướng, bất cập. Đây là thị trường
lớn, có tiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xu
hướng giảm và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn. Trong tương lai, Trung
Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của khu vực châu Á, với đặc
điểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho dân cư bản địa, vừa là thị
trường tái chế và tái xuất. Tôm hùm, tôm sú, cá ngừ, mực… đang có xu hướng tiêu
thụ ngày càng tăng trên thị trường này, do thu nhập của dân cư ở các đô thị của
Trung Quốc không ngừng được nâng lên. Các rào cản về vệ sinh an toàn thực
phẩm của thị trường Trung Quốc và Hồng Kông chắc chắn sẽ ngày càng chặt chẽ
hơn. Ngược lại, hàng thuỷ sản nguyên liệu nhập từ các nguồn này vào Việt Nam
ngày càng tăng nhưng Việt Nam lại chưa có biện pháp cụ thể để kiểm soát.
Các thị trường khác
Các thị trường khác thuộc châu Á đã được Việt Nam quan tâm ngày một
nhiều hơn, nhất là khi thuế nhập khẩu vào các thị trường khu vực giảm xuống 0
– 5% và khi thị trường lớn có biến động. Tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản của Việt
khẩu thuỷ sản khi gặp khó khăn trên thị trường Mỹ. Điều này đã được chứng
minh cụ thể đối với sản phẩm cá tra, basa xuất khẩu.
Nga đã có những bước tiến rất dài trong nhập khẩu thuỷ sản của Việt
Nam. Trong 11 tháng năm 2006, Nga đã nhập khẩu từ Việt Nam 51,92 ngàn tấn
sản phẩm thuỷ sản, giá trị 111,35 triệu USD, chiếm gần 3,5% tổng thị phần.
Tóm lại, trong thời gian qua, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã có sự
tăng trưởng ổn định. Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản từ những bước đầu
chập chững làm quen với những quy định trên thị trường thế giới, gặp không ít
va vấp nhưng đã có thêm nhiều kinh nghiệm để tiếp tục khẳng định vị trí của
của mình trên thị trường thuỷ sản. Các hoạt động phát triển thị trường vẫn được
các doanh nghiệp triển khai mạnh mẽ và liên tục, nhiều doanh nghiệp đã mở
rộng thị trường xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Trung Đông, châu Phi... góp
phần giảm rủi ro khi có các tranh chấp xảy ra. Trong tương lai, thuỷ sản sẽ tiếp
tục là sản phẩm đem lại nguồn thu nhập lớn cho Việt Nam. Những rào cản
thương mại sẽ ngày càng trở nên khắt khe và cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày
một gay gắt. Các nhà cung cấp thuỷ sản vẫn sử dụng giá như vũ khí lợi hại để
chiếm lĩnh thị trường, nên xu hướng tăng giá trên thị trường thế giới cũng bị hạn
chế. Đặc biệt, tại các nước phát triển, an toàn vệ sinh thực phẩm mới là yếu tố
quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm.
1.2.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản 2 năm gia nhập WTO
a. Năm 2007
Năm 2007 xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam nhanh chóng vượt mức kế hoạch.
Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan VN, năm 2007, xuất khẩu thủy sản
của cả nước đã đạt khoảng 925 nghìn tấn trị giá 3,756 tỷ USD, tăng 12,2% về
khối lượng và 14% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, trị giá XK
trên khi được bổ sung đầy đủ số liệu luỹ kế của cả năm, rất có thể đạt đến mức
3,8 tỷ USD. Mặt hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên khắp 146 nước và vùng
lãnh thổ khác nhau trên thế giới nhờ những nỗ lực phát triển thị trường và đa
dạng hoá sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Theo Bộ Thủy
sản, tính đến hết tháng 3/2007, tổng sản lượng của ngành thủy sản ước đạt
vậy đã gây nhiều khó khăn lớn cho các doanh nghiệp của Việt Nam. Tuy nhiên,
với sự phối hợp chặt chẽ giữa Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản, cộng
đồng các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và Cục Quản lý Chất lượng Nông
lâm sản và Thủy sản (Nafiqaved) đã tháo gỡ kịp thời nhiều khó khăn về dư
lượng kháng sinh trong tôm và mực xuất khẩu sang Nhật, đồng thời giải quyết
nhiều vướng mắc khác sang Nga, Ôxtrâylia…. Tỷ trọng nhập khẩu thủy sản từ
Việt Nam của các thị trường lớn trên thế giới được phân bố khá đồng đều: khối
EU chiếm 25,7% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tiếp đến là Nhật
Bản chiếm 21,1%, Mỹ chiếm 20,4% và các thị trường nhập khẩu đáng kể khác
như Hàn Quốc, Trung Quốc - Hồng Kông, Ôxtrâylia, Đài Loan… đều tăng nhập
từ VN trong năm vừa qua. Sự phát triển và điều hoà giữa các thị trường đã tạo
thế cân bằng, vững chắc hơn cho xuất khẩu thủy sản VN trong bối cảnh thị
trường quốc tế luôn nảy sinh nhiều cạnh tranh và rủi ro. Hiện nay, hầu hết các
thị trường tiêu thụ thủy sản ở EU đều có nhiều thông tin cho thấy giá thực phẩm
thủy sản đã tăng đáng kể bởi giá thành sản xuất tăng và nguồn đánh bắt bị hạn
chế, nhu cầu đối với NK philê cá thịt trắng vẫn tiếp tục tăng, lệnh cấm nhập
khẩu tôm từ Trung Quốc do Mỹ áp dụng đã khiến Trung Quốc giảm mạnh thị
phần tại Mỹ. Đây là những cơ hội tiềm tàng cho các nước xuất khẩu và là cơ hội
cho tôm đông lạnh Việt Nam (Tôm chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản
Việt Nam năm 2007).
Bảng - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch 8 tháng đầu năm 2007 phân theo
thị trường
Thị trường Số lượng (tấn) Giá trị (USD)
EU
162139.2 527872801
Mỹ
56240.6 413589217
Nhật
64351.2 396233096
Châu Á (không kể Nhật Bản và
USD/kg so với năm 2006.