BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN THÙY
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU ĐẾN
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ Ở
CÁC QUỐC GIA CHÂU Á -THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN THÙY
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU ĐẾN
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ Ở
CÁC QUỐC GIA CHÂU Á -THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã Số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016
1.5 Kết cấu của đề tài ........................................................................................... 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ..................... 8
2.1 Các loại cú sốc giá dầu ................................................................................... 8
2.2 Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô ..................... 10
2.3 Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của các cú sốc giá dầu đến nền
kinh tế vĩ mô ...................................................................................................... 16
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU......................... 26
3.1 Ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô - phân
tích SVAR ......................................................................................................... 28
3.2 Dữ liệu phân tích và mô tả biến .................................................................. 34
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM ................................. 40
4.1 Kiểm định tương quan chéo ........................................................................ 40
4.2 Kiểm định tính dừng ................................................................................... 41
4.3 Kết quả ước lượng mô hình VAR- SVAR .................................................... 45
4.3.2 Kiểm định tính ổn định của mô hình .................................................... 48
4.3.3 Kết quả ước lượng ma trận ràng buộc của mô hình ............................. 49
4.3.4 Kết quả phân tích ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh
tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương. ....................................... 52
4.3.5 Kiểm định mô hình ước lượng ................................................................ 64
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
CPI
: Consumer Price Index
nhất.
PSVAR : Panel structural vector autoregressive models : Mô hình vec-tơ tự
hồi quy dữ liệu bảng.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Bảng 2.1
Tên Bảng
Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động
Trang
22 - 23
của cú sốc giá dầu đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế
Bảng 2.2
Bảng tóm ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu
24
tố kinh tế vĩ mô
Bảng 2.3
Kỳ vọng kết quả ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến các
25
Thống kê mô tả các biến
39
Bảng 4.1
Kiểm định tương quan chéo (cross-section
40
independence)
Bảng 4.2
Kết quả kiểm định tính dừng Pesaran (2007)
42
Bảng 4.3
Kết quả kiểm định tính dừng Levin–Lin–Chu, 2002
43
Bảng 4.4
Độ trễ tối ưu cho mô hình PVAR –PSVAR
47
Bảng 4.5
Bảng 4.9
Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
56
các cú sốc giá dầu đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Bảng 4.10
Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
57
các cú sốc giá dầu đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Bảng 4.11: Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
58
các cú sốc giá dầu đến sự biến động trong tỷ giá (EX)
Bảng 4.12
Kết quả phân tích phân rã phương sai sự ảnh hưởng của
60
các cú sốc giá dầu đến sự biến động trong trong lãi suất
chiếu khấu (DR)
Bảng 4.13
Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu
Hình 2.1
Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền
11
kinh tế vĩ mô
Hình 4.1
Đồ thị biểu diễn sự thay đổi theo thời gian của
44
chuỗi dữ liệu
Hình 4.2
Đồ thị phân tích phản ứng xung (impulse) giữa các
cú sốc giá dầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các
quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương
55
1
TÓM TẮT
Dựa theo bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của các cú sốc giá
dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở Châu Á” của Cunado, J., và các cộng sự (2015)
với mẫu nghiên cứu gồm 13 quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương, bài nghiên cứu
Kể từ thập niên 80, có rất nhiều nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu1đến các
yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùng, thị trường
chứng khoán… được thực hiện tại các quốc gia như Mỹ, các nước Châu Âu, chẳng
hạn nghiên cứu của Hamilton (1983); Sadorsky (1999); Hooker (2002); Barsky và
Kilian (2004); Akram (2004). Những nghiên cứu tiên phong này chỉ tập trung phân
tích ảnh hưởng của giá dầu hoặc một loại cú sốc giá dầu duy nhất đến các yếu tố
kinh tế vĩ mô của các quốc gia như Mỹ, các nước Châu Âu. Mặc dù, Hamilton
(1983); Sadorsky (1999); Hooker (2002);Barsky và Kilian (2004); Akram (2004),
Blanchard và Gali (2007); Filis. G (2010) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm
khác nhau cho thấy cú sốc giá dầu có tác động đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, có thể
tổng hợp lại trong bốn kết luận cơ bản sau đây:
Thứ nhất, khi xảy ra cú sốc giá dầu, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có xu hướng
giảm, theo lý giải của Mork (1994); Brown và Yule (2002).
Thứ hai, khi xảy ra cú sốc giá dầu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có xu hướng tăng theo
lý thuyết lạm phát chi phí đẩy (Jones và Kaul, 1996).
Thứ ba, đối với tỷ giá (EX), cú sốc giá dầu tạo ra sự ảnh hưởng khác nhau, phụ
thuộc vào việc quốc gia đó nhập khẩu dầu mỏ hay xuất khẩu dầu mỏ. Với quốc gia
nhập khẩu dầu mỏ, khi xảy ra cú sốc giá dầu sẽ làm giảm giá trị đồng nội tệ và tỷ
giá danh nghĩa tăng. Đối với quốc gia xuất khẩu dầu mỏ, khi cú sốc giá dầu xảy ra
không làm thay đổi tỷ giá danh nghĩa. Đây chính là hiệu ứng chuyển giao thu nhập
và tổng cầu theo quan điểm của Fried và Schulze (1975); Dohner (1981).
Thứ tư, khi xảy ra cú sốc giá dầu,lãi suất chiết khấu (DR) có xu hướng tăng theo.
Ngoài ra, nếu các nhà điều hành chính sách thực thi công cụ của chính sách tiền tệ
1
Từ những năm 1980 cho đến những năm 2009, các nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu
một loại cú sốc duy nhất, vì vậy trong chương này, tác giả đề cập cú sốc giá dầu có nghĩa
là chỉ một loại cú sốc giá dầu duy nhất.
từ nhu cầu dầu mỏ (aggregate demand shocks), cú sốc sốc phòng ngừa rủi ro giá
dầu(oil-specific demand shocks). Trong số những nghiên cứu thực nghiệm từ sau
năm 2009, có một nghiên cứu nổi bất của Cunado, J., và các cộng sự (2015), là phân
4
tích sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố vĩ mô của khu vực Châu Á,
bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonesia và Trung Quốc. Và như vậy, đối
với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương cho đến thời điểm hiện tại, cũng chỉ có ba
quốc gia gồm Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là có đề tài nghiên cứu về sự ảnh
hưởng của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố vĩ mô.
Từ những lập luận trên đây, tác giả giả mong muốn thực hiện nghiên cứu này với
mục tiêu là tập trung phân tích sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố
kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương. Bởi vì trong nghiên cứu
mới nhất được công bố của của Cunado, J., và các cộng sự (2015), các quốc gia
phát triển của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc
và Hàn Quốc đã được phân tích, nên mẫu dữ liệu của tác giả được chọn lọc lại, bao
gồm 13 quốc gia, đó là: Australia, Fiji, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea,
Philippines, Samoa, Singapore, Solomon Islands, Thái Lan, Tonga, Vanuatu và Việt
Nam. Lý do của việc chọn 13 quốc gia này là bởi vì những quốc gia này đa số là
những quốc gia đang phát triển hoặc ít được biết đến. Và vì thế, cho đến nay cũng
có rất ít nghiên cứu được thực hiện đối với dữ liệu của 13 quốc gia này. Nghiên cứu
của tác giả sử dụng phương pháp phân tích đối với dữ liệu bảng, và đánh giá sự tác
động của các cú sốc giá dầu lên các yếu tố vĩ mô của toàn bộ 13 quốc gia (Australia,
Fiji, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Philippines, Samoa, Singapore,
Solomon Islands, Thái Lan, Tonga, Vanuatu và Việt Nam) tại khu vực Châu ÁThái Bình Dương, chứ không đánh giá riêng lẻ đối với từng quốc gia. Dựa trên quan
điểm của Cunado, J., và các cộng sự (2015), các cú sốc giá dầu sẽ bao gồm ba loại
khác nhau, đó là cú sốc cung dầu (oil supply shocks), cú sốc tổng cầu dầu
(aggregate demand shocks); và những cú phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro
Thứ hai, kết quả nghiên cứu tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có tương đồng
với quan điểm của các tác giả đã nghiên cứu tại khu vực Châu Mỹ, Châu Âu hay
những nước Châu Á khác hay không?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng mô hình SVAR kết hợp với phản ứng xung
và phân rã phương sai để phân tích ảnh hưởng của các loại cú sốc giá dầu đếncác
yếu tố kinh tế vĩ mô ở các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương. Ngoài ra, dữ liệu
trong nghiên cứu là dữ liệu bảng, sử dụng cho 13 quốc gia thuộc khu vực Châu Á-
6
Thái Bình Dương. Mặt khác, khi phân tích mô hình SVAR cho dữ liệu bảng
(PSVAR), bài nghiên cứu sử dụng hai ràng buộc chính: ràng buộc đối với các cú
sốc giá dầu được tổng hợp theo bảng 3.1, dựa trên nghiên cứu của Cunado.J và các
cộng sự (2015) và ràng buộc sự ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu đến các yếu tố
kinh tế vĩ mô. Chi tiết về phương pháp nghiên cứu sẽ được thảo luận rõ trong
chương ba của nghiên cứu này.
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài sẽ hệ thống hóa các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá
dầu lên các yếu tố kinh tế vĩ mô và ngược lại. Đồng thời chỉ ra cơ chế truyền dẫn
của cú sốc giá dầu lên các yếu tố kinh tế vĩ mô. Từ đó rút ra kết luận về những ảnh
hưởng và tác động của các các cú sốc giá dầu đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các
nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hình định lượng để xác định các
tác động của cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô ở các nước châu Á Thái
Bình Dương có tầm quan trọng ngày càng lớn trên thị trường thế giới và cũng là
một điểm nóng trong thời gian quan cả về dầu mỏ lẫn chính trị. Từ đó cung cấp
những cơ sở để đưa ra các chính sách phù hợp điều hành lãi suất phù hợp với diễn
biến lạm phát và tăng trưởng.
8
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trong chương hai, tác giả tập trung thảo luận các lý thuyết nền tảng cho thấy có tồn
tại các cú sốc khác nhau trong giá dầu, các cú sốc có vai trò thế nào trong sự biến
động của giá dầuvà các cú sốc này sẽ tác động đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế
theo một chu trình như thế nào. Chương này cũng điểm lại một số nghiên cứu thực
nghiệm của các tác giả khác trên thế giới từ trước đến nay.
2.1 Các loại cú sốc giá dầu
Theo quan điểm của Kilian (2009),tồn tại ba cú sốc khác nhau trong giá dầu, ảnh
hưởng đến sự biến động của giá dầu, bao gồm cú sốc từ nguồn cung dầu (oil supply
shocks), cú sốc từ tổng nhu cầu dầu (aggregate demand shocks); và những cú sốc
phát sinh do nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu (oil market specific demand shocks
/precautionary demand shocks). Để tìm hiểu xem giá trị thực của dầu được quyết
định bởi yếu tố nào, Kilian (2009) sử dụng một vector tự hồi quy (VAR) với ba
biến, nguồn cung dầu, giá thực tế của dầu và một biến trung gian đại diện cho nhu
cầu toàn cầu đối với các mặt hàng công nghiệp. Với tác dụng đo lường hoạt động
kinh tế toàn cầu thực sự, Kilian (2009) xác định, dựa trên một cấu trúc đệ quy, ba cú
sốc giá dầu bao gồm: một cú sốc từ nguồn cung cấp dầu, một cú sốc dầu cụ thể thị
trường và một cú sốc nhu cầu toàn cầu. Kilian (2009) đã chỉ ra, cú sốc phát sinh do
nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá dầu ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi trong giá
dầu. Tiếp theo đó là giá dầu chịu ảnh hưởng của cú sốc tổng nhu cầu dầu và cuối
cùng là chịu ảnh hưởng của cú sốc phát sinh do nguồn cung dầu mỏ. Như vậy, có ba
nhân tố góp phần tạo nên sự thay đổi trong giá dầu.
Thứ nhất, cú sốc từ nguồn cung dầu. Cú sốc nguồn cung dầu chính là sự sụt giảm
trong ngắn hạn trong việc cung ứng dầu mỏ của những nước xuất khẩu dầu mỏ,
chẳng hạn xuất hiện những mâu thuẫn chính trị hay thay đổi trong hạn ngạch xuất
khẩu của khối OPEC (Cunado và các cộng sự, 2015). Khi xảy ra sự sụt giảm nguồn
cung dầu sẽ khiến cho giá dầu thay đổi theo chiều hướng tăng. Khi giá dầu đã tăng
2.2 tiếp theo sau, tác giả sẽ trình bày sự truyền dẫn của các cú sốc giá dầu đến nền
kinh tế của các quốc gia.
10
2.2Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Như thảo luận ở phần 2.1, giá dầu thay đổi theo chiều hướng tăng do ảnh hưởng từ
cú sốc nguồn cung dầu (oil supply shocks), hoặc nhu cầu dầu mỏ (aggregate
demand shocks). Khi giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với các chỉ số vĩ
mô khác của nền kinh tế? Cụ thể, dựa theo nghiên cứu của Cunado và các cộng sự
(2015), các biến được chọn làm đại diện cho nền kinh tế vĩ mô trong nghiên cứu
bao gồm: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ giá hối đoái (EX), chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) và lãi suất chiết khấu (DR).
Theo Cunado và các cộng sự (2015), Tang và cộng sự (2010), bốn biến này được
chọn để đại diện cho nền kinh tế vĩ mô là vì:
-
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế sẽ thể hiện qua sự tăng trưởng sản
lượng, hay đó chính là tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
-
Áp lực lạm phát: đại diện cho sự biến động giá cả của nền kinh tế, thể hiện
qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
-
Tỷ giá hối đoái (EX) thể hiện sự lưu chuyển dòng vốn giữa các nền kinh tế
hướng hạn chế tiết kiệm và gia tăng vay mượn, điều này làm lãi suất tăng.
12
Như vậy,giá dầu tăng do cú sốc từ nguồn cung dầu, sẽ làm giảm sự tăng trưởng
GDP, tức gây ra sự sụt giảm trong hoạt động kinh tế và tăng lãi suất thực trong dài
hạn (Brown và Yule, 2002).
- Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu (Income Transfers and Aggregate
Demand)
Trong nghiên cứu của Fried và Schulze (1975); Dohner (1981) đề cập, sự tăng giá
dầu sẽ chuyển giao thu nhập từ các nước nhập khẩu dầu thô sang các nước xuất
khẩu dầu thô, điều này làm giảm cầu tiêu dùng ở nước nhập khẩu và tăng cầu ở
nước xuất khẩu, tuy nhiên mức độ tăng lại ít hơn, từ đó làm tổng cầu của cả thế giới
đối với sản phẩm của nước nhập khẩu giảm, làm tăng cung tiết kiệm. Cung tiết
kiệm tăng gây áp lực giảm lãi suất thực và mức giảm này có thể lấn át mức tăng lãi
suất thực do người tiêu dùng ổn định chi tiêu. Lãi suất giảm sẽ kích thích đầu tư,
điều này sẽ bù đắp cho mức giảm trong tiêu dùng, vì vậy tổng cầu không thay đổi ở
các nước nhập khẩu dầu thô.
Tuy nhiên, nếu giá cả khó điều chỉnh giảm, sự sụt giảm trong tiêu dùng hàng hóa
sản xuất ở những nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm tăng trưởng GDP giảm hơn nữa.
Tiêu dùng giảm sẽ tạo áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới.
Mặt khác, nếu giá dầu tăng cung nội tệ tại nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ có xu hướng
tăng, điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến tỷ giáhối đoái danh nghĩa tại nước
nhập khẩu dầu mỏ.
Còn tại nước xuất khẩu dầu mỏ, cung ngoại tệ sẽ nhiều hơn, sẽ ảnh hưởng tạm thời
đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa tại nước xuất khẩu dầu mỏ. Nhưng, không phải lúc
nào giá dầu tăng cũng mang lại thu nhập nhiều hơn cho nước xuất khẩu dầu mỏ.
Chẳng hạn như trong nghiên cứu của Abeysinghe (2001),với dữ liệu nghiên cứu
gồm10 nền kinh tế Châu Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Hồng
trưởng và giá trị doanh nghiệp, để từ đó gây ra sự sụt giảm trong giá cổ phiếu của
các công ty.Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp sụt giảm làm giảm lợi nhuận thực và
kỳ vọng của nhà đầu tư đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán sẽ có xu
hướng sụt giảm lợi nhuận tổng thể. Cuối cùng, đầu tư của nền kinh tế giảm.
Vậy, khi lạm phát tăng xuất phát từ cú sốc tăng giá của dầu thì chi phí sản xuất tăng,
làm lợi nhuận giảm và đầu tư cũng giảm theo. Nếu người tiêu dùng nhìn nhận đây là
một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng
14
vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân bằng. Tăng trưởng sản lượng chậm
lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu đối với số dư tiền mặt thực tế và với
mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ lạm phát sẽ tăng. Như vậy, giá dầu tăng
sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và nguy cơ lạm phát.
Nếu tiền lương danh nghĩa khó thay đổi theo hướng giảm đi (sticky downward), sự
suy giảm trong tăng trưởng GDP sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm tăng trưởng
GDP giảm hơn nữa - nếu lạm phát tương lai không bằng đúng mức sụt giảm trong
tăng trưởng. Sự suy giảm ban đầu trong tăng trưởng GDP đi cùng với sự sụt giảm
năng suất lao động vàdoanh nghiệp có xu hướng cắt giảm nhân công, làm tăng tỷ lệ
thất nghiệp và giảm GDP. Điều này gây áp lực làm tăng lạm phát.
Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và nguy
cơ tăng lạm phát. Nếu người dân và các nhà sản xuất nhìn thấy lạm phát có xu
hướng tăng sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa rủi ro lạm phát, bằng cách cắt giảm
nhu cầu dầu mỏ trong dài hạn. Và tiếp đến, các nhà sản xuất sẽ điều chỉnh sản lượng
cung dầu. Khi cung dầu và cầu dầu thay đổi thì giá dầu sẽ thay đổi theo. Đây cũng
có thể chính là cú sốc phòng ngừa rủi ro giá dầu theo như quan điểm của Kilian
(2009).
- Hiệu ứng cân bằng thực (Real balances effect): Mork (1994) cho rằng, hiệu ứng
cân bằng thực chính là câu trả lời cho lý do tại sao cú sốc giá dầu lại ảnh hưởng đền
hiện tại thay đổi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế trong tương lai.Trường
hợp khác, Milani (2009) đã phát hiện giá dầucó thêm một hiệu ứng bổ sung tác
động đến nền kinh tế. Hiệu ứng này hoạt động thông qua tác động của sự thay đổi
giá dầu tới sự hình thành kỳ vọng trong tương lai về sản lượng, lạm phát. Kỳ vọng
là giá dầu sẽ ngày càng ảnh hưởng nhiều tới sản lượng và lạm phát, từ đó chính sách
tiền tệ được đưa ra để đối phó với trường hợp này. Sẽ có hai trường hợp, chính sách
tiền tệ quá mạnh sẽ góp phần khuếch đại tác động của giá dầu đến nền kinh tế theo
hướng trầm trọng hơn nữa hoặc chính sách tiền tệ sẽ phát huy tác dụng và làm giảm
sự tác động của biến động giá dầu đối với nền kinh tế. Kết quả nghiên cứu của
Milani (2009) tại Mỹ cho thấy:giá dầu biến động sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế thông
qua nhiều kênh khác nhau nhưng theo thời gian khi các nhà điều hành chính sách thi
hành các chính sách để kiểm soát các ảnh hưởng của giá dầu đến nền kinh tế, vì vậy
16
tác động của giá dầu đối với nền kinh tế vĩ mô có thay đổi. Giá dầu được phát hiện
là có ảnh hưởng lớn tới sản lượng và lạm phát trước những năm 1970 và ảnh hưởng
không đáng kể sau giữa năm 1980. Có nghĩa rằng, những hiệu ứng bổ sung ngoài
dự đoán của giá dầu đã được các nhà điều hành chính sách kiểm soát được.
Như vậy, dựa trên lý thuyết về sự truyền dẫn của thay đổi giá dầu đến nền kinh tế vĩ
mô được trình bày bên trên, tóm gọn lại giá dầu thay đổi có nguyên nhân từ những
cú sốc khác nhau. Khi giá dầu thay đổi sẽ tạo ra sự ảnh hưởng đến sản lượng
(GDP), tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát (CPI), thu nhập, đầu tư, thất nghiệp và ảnh
hưởng như thế nào thì tùy theo sự thay đổi của giá dầu theo chiều hướng tăng hay
giảm.
2.3 Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của các cú sốc giá dầu đến nền
kinh tế vĩ mô
Nhìn chung các nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầuđến nền kinh tế vĩ mô,
đều dựa trên lý thuyết cơ bản về truyền dẫn của cú sốc giá dầu. Bên cạnh những