Đề án "Tìm hiểu chính sách đền bù thiệt hại, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian qua ở Việt Nam" - Pdf 67



ĐỀ ÁN

Tìm hiểu chính sách đền bù
thiệt hại, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trong
thời gian qua ở Việt Nam
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia việc giải phóng mặt bằng để
xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là việc
làm không thể tránh khỏi. Nhịp độ phát triển càng lớn thì nhu cầu giải phóng
mặt bằng càng cao và trở thành thách thức lớn đối với sự thành công không
chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực chính trị, xã hội trên phạm vi
quốc gia. Vấn đề giải phóng mặt bằng trở thành điều kiện tiên quyết của sự
phát triển, nó đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức và giải quyết triệt để.
Đó là nội dung không thể né tránh của sự phát triển, là yếu tố quyết định sự
tiến bộ và thành công của sự phát triển. Tuy nhiên để công tác giải phóng
mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng,
lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được thành công thì việc đền bù thiệt hại
cần phải đảm bảo được lợi ích của những người dân phải di chuyển chỗ ở.
Họ phải có chỗ ở ổn định, có điều kiện sống hay tiện nghi cao hơn nơi cũ và
chắc chắn phải tốt hơn nơi cũ về mọi mặt.
Không nằm ngoài quy luật của sự phát triển, Việt Nam với đặc thù là
một nước đang phát triển, trong điều kiện hiện nay chúng ta đang tiến hành
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu về xây dựng
các công trình phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng ngày càng gia tăng. Vì vậy việc giải phóng mặt bằng, thu hồi

2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm giải phóng mặt bằng và chính sách đền bù thiệt hại
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan
đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận
dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở
rộng hoặc xây dựng một công trình mới.
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội
đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư
mới. Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa
các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của
xã hội.
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ của
các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Trong đó đền bù thiệt hại là
khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng.
Theo từ điển tiếng Việt thì đền bù có nghĩa là: “trả lại đầy đủ hoặc
tương xứng với mất mát hoặc sự vất vả” điều đó có nghĩa là:
+ Không phải mọi khoản đền bù đều bằng tiền;
+ Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà
nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cư;

3
+Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính
cưỡng chế và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh”. Không chỉ là một sự đền bù ngang
giá tuyệt đối.
Từ những nhận thức trên có thể hiểu bản chất của công tác đền bù giải

1.2.3.Thời kỳ sau năm 1975
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý(7), ngày 01/07/1980 Hội đồng Chính
phủ ra quyết định số 201/CP về việc: “Không được phát canh thu tô, cho
thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất kỳ hình thức nào, không được
dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do
Nhà nước quy định”(5). Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan
hệ “Giao-thu” giữa Nhà nước và người sử dụng.
Ngày 31/5/1990, Hội đồng bộ trường ban hành Nghị định 186/HĐBT
về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục
đích khác, tại điều 1 của Nghị định quy định rõ mọi tổ chức, cá nhân được
giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền
bù thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước. Tiền bồi thường
tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng không thuộc
các khoản đền bù thiệt hại về đất. Khung mức giá đền bù thiệt hại do
UBND tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương quy định cụ thể,
mức đền bù đối với từng quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất
ở địa phương nhưng không được thấp hơn hay cao hơn mức quy định của
Chính phủ.

5
Điều 23 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá
nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng
dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thời giá thị
trường”(9). Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, thừa kế có chọn lọc Luật đất
đai năm 1988, Luật đất đai năm 1993 ra đời với những đổi mới quan trọng,
đặc biệt với nội dung thu hồi đất phục vụ lợi ích cộng đồng và đền bù thiệt
hại khi nhà nước thu hồi đất. Luật đất đai quy định rõ hơn quyền của người
được giao đất gồm có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê,

dài trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị định này
quy định chi tiết hơn, hoàn chỉnh hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định
90/CP thể hiện ở một số nội dung.
1.3.1.Về đền bù đất
Điều kiện được đền bù về đất:Tại Nghị định đã phân biệt rõ các loại giấy tờ
thuộc loại hợp pháp, hợp lệ và các trường hợp không có chứng thư pháp lý
nhưng vân được đền bù về đất. Đồng thời, Nghị định cũng nêu rõ các
trường hợp không được đền bù về đất.
Tại đây, Nghị định đã chỉ rõ UBND cấp tỉnh quy định giá đất cho từng
dự án, ở từng thời điểm. Theo đề nghị của Sở Tài chính vật giá, có sự tham
gia của các ngành liên quan. Giá đền bù thiệt hại, tính trên cơ sở giá ban
hành của chủ tịch UBND tỉnh nhân với hệ số K.

7
- Đối với đất bị thu hồi do Nhà nước giao tạm sử dụng, đất cho thuê,
đất đấu thầu thì người bị thu hồi đất không được đền bù thiệt hại về đất mà
chỉ được đền bù chi phí đã đầu tư vào đất. Trường hợp đất bị thu hồi thuộc
đất công ích của xã chưa giao cho ai sử dụng khi giao đất, người được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất phải đền bù công ích của xã được UBND xã
đền bù thiệt hại chi phí đã đầu tư vào đất. Diện tích đất ở đền bù cho mỗi
hộ gia đình theo hạn mức do UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương quy định không vượt quá hạn mức diện tích đất bị thu hồi.
- Trong trường hợp đất bị thu hồi có diện tích lớn hơn diện tích đất
được đền bù thì người bị thu hồi đất có thể được hưởng một phần diện tích
đất ở tuỳ theo quỹ đất ỏ địa phương còn lại được đền bù bằng tiền.
1.3.2. Đền bù về tài sản, hoa màu
- Người bị thu hồi đất được đền bù 100% giá trị tài sản, tài sản trên đất
bất hợp pháp không được đền bù mà được xem xét, trợ cấp từ 70-80% mức
đền bù.
- Mức đền bù: Tài sản đền bù theo mức độ thiệt hại thực tế, bằng giá

cho đất và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi thì Nghị định này đã có các
quy định cụ thể về công tác tổ chức thực hiện, trách nhiệm của UBND các
cấp và hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng cấp huyện trong việc chỉ đạo
thực hiện công tác đền và tái định cư của các dự án như lập phương án đền
bù, xác định mức đền bù theo phương án đã phê duyệt. Các quy định này
đã giúp cho các địa phương chủ động trong việc lựa chọn phương án đền

9
bù phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, quỹ đất và tập quán của
địa phương.
1.3.6. Phương thức và mức đền bù
Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối và nuôi trồng thuỷ
sản, đền bù bằng đất có cùng diện tích và chất lượng. Nếu không có đất thì
đền bù bằng tiền. Nếu đất được đền bù có giá trị lớn hơn đất bị thu hồi thì
người được đền bù không phải nộp phần chênh lệch đó.
Đối với đất ở đô thị loại II và loại I chủ yếu đền bù bằng nhà ở hay
đền bù bằng tiền do người bị thu hồi đất quyết định. Đền bù bằng đất chỉ
được thực hiện khi có dự án khu tái định cư được phê duyệt. Nếu đất được
quy hoạch để xây dựng khu đô thị nhưng chưa có cơ sở hạ tầng thì không
được đền bù như đất đô thị. Trường hợp người được đền bù đồng ý nhận
đất ở khu vực ngoại thành thì được hưởng thêm 10% giá trị của đất bị thu
hồi ở các đô thị, người bị ảnh hưởng được lựa chọn một trong ba phương
án trên.
Đối với đất ở nông thôn người bị thu hồi đất được đền bù bằng đất ở
có cùng mục đích sử dụng. Mức tối đa được đền bù bằng nơi ở mới không
quá 400 m
2
hay 800 m
2
cho những vùng nông thôn có tập quán sinh sống

làm nảy sinh một số vướng mắc cần phải giải quyết. Ngày 4/9/1999 Bộ Tài
chính ra văn bản số 4448/TC-QLCS hướng dẫn thực hiện Thông tư
145/TT-BTC theo nội dung của Nghị định 22/1998/NĐ-CP. Cụ thể:
- Điều kiện đền bù về đất:

11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status