Cam kết của việt nam với wto Lĩnh vực dịch vụ chứng khoán - Pdf 67

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
 
BÀI TIỂU LUẬN
LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO:
LĨNH VỰC DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN
GVHD : Phạm Đức Huy
Lớp : ĐH24NH_T03
Nhóm 17:
1. Trần Thị Kim Liền
2. Nguyễn Hữu Tiến
3. Võ Ngọc Khánh Vân
4. Hứa Hoàng Vũ
5. Huỳnh Thị Phi Yến
TP.HCM – 2011
MỤC LỤC
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Họ tên MSSV Công việc
Trần Thị Kim Liền 030124080443
Phần 4: Giải pháp
Phần 3: Tác động
Nguyễn Hữu Tiến 030124080946 Phần 1: Sự cấp thiết gia
2
nhập WTO của TTCK
VN
Phần 2.1: Cam kết
Võ Ngọc Khánh Vân 030124081103 Phần 2.2: Lộ trình
Hứa Hoàng Vũ 030124081131
Kịch bản Gameshow

gật”, ngoại trừ cơn sốt vào năm 2001, chỉ số VN-index cao nhất đạt 571.04 điểm
sau 6 tháng đầu năm nhưng chỉ chưa đầy 4 tháng sau, từ tháng 6 đến tháng 10, các
cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN-Index sụt từ 571.04 điểm
vào ngày 25/04/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001. Trong 4
tháng “hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường thì
một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm
được lợi nhuận. Dường như thị trường trong giai đoạn này không thực sự thu hút
được sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị
trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành
của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân. Ta có thể nhận định rõ
được điều này thông qua bảng số liệu sau:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số công ty niêm yết 5 5 20 22 26 41
Mức vốn hóa thị trường
(%GDP)
0.28 0.34 0.48 0.39 0.64 1.21
Số lượng công ty chứng khoán 3 8 9 11 13 14
Số tài khoản khách hàng 2908 8774 13520 15735 21616 31316
(Nguồn: Ủy ban chứng khoán Nhà nước)
Năm 2006 đánh dấu mốc phát triển “đột phá”, tạo cho thị trường chứng
khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch sôi động tại
cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp. Hồ Chí Minh, TTGDCK Hà Nội và thị trường OTC.
Mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 giúp thị trường chứng
khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ
sau Zimbabwe. Chỉ số VN-Index cuối năm tăng 2.5 lần so với đầu năm. Tổng giá trị
4
vốn hóa thị trường đạt 13.8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22.7% GDP), với giá trị
cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm
16.4% mức vốn hóa của toàn thị trường. Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41
công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn, gấp

5
Khung pháp lý cho hoạt động và phát triển TTCK bao gồm Luật Chứng
khoán, những vấn đề liên quan đến TTCK, trong đó những quy định về đăng ký, lưu
ký, công khai và minh bạch, giám sát và kiểm tra của các cơ quan chức năng quản
lý hoạt động của TTCK từng bước được hoàn thiện, bảo vệ NĐT từ đó khuyến
khích các NĐT mạnh dạn tham gia thị trường và giúp Chính phủ thực hiện chính
sách kinh tế vĩ mô thông qua TTCK.
 Hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thì TTCK Việt Nam chỉ mới phát triển
và không thể tránh khỏi những hạn chế, chủ yếu bao gồm:
– Mức vốn hóa trên thị trường tăng nhanh, nhưng lượng vốn hóa đạt
thấp, quy mô TTCK còn nhỏ. TTCK Việt Nam phát triển chưa ổn định, chưa
phải là kênh huy động quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam, biến động
trên TTCK chưa phản ánh đúng trạng thái của nền kinh tế.
– Lượng hàng hóa trên TTCK còn ít, dẫn đến mất cân đối cung cầu và
những biến động bất lợi cho thị trường. Hậu quả là chỉ số P/E (giá trên thu nhập)
quá cao với mức tăng bình quân 21 lần và khoảng 1/4 công ty đạt 30-70 lần.
Chính vì vậy, khi thị trường sụt giảm thì giá cổ phiếu đồng loạt giảm mạnh, kể
cả những cổ phiếu được coi là có chất lượng.
– Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin và nguồn nhân lực của các
TTGDCK và của các CTCK không theo kịp được sự phát triển quá nhanh của
thị trường, nhiều CTCK bị quá tải, hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK
chưa đầy đủ.
– Tính dễ bị tổn thương của TTCK Việt Nam là khá cao do phụ thuộc
nặng nề vào các NĐT nước ngoài, trong khi các công cụ quản lý và giám sát
TTCK còn hạn chế.
– Diễn biến thất thường của TTCK Việt Nam thời gian qua là do nhiều
nguyên nhân, bao gồm: sự thiếu hoàn chỉnh của hành lang pháp lý, sự mất cân
đối cung cầu chứng khoán, tình trạng đầu cơ và đầu tư theo “bầy đàn”, tính công
khai minh bạch của thị trường còn hạn chế, v.v…

đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác.
(d) Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ
phái sinh và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác.
(e) Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của
các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán.
(f) Tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ liên quan đến chứng khoán,
ngoại trừ các hoạt động tại tiểu mục (a), bao gồm tư vấn và nghiên
cứu đầu tư, danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại công ty, lập chiến
lược và cơ cấu lại công ty.
 Liên quan đến phương thức cung cấp các dịch vụ tài chính qua biên
giới
7
Việt Nam chưa cam kết các nghĩa vụ liên quan đến tiếp cận thị trường và đãi
ngộ quốc gia đối với phương thức cung cấp qua biên giới trong dịch vụ tài chính,
ngoại trừ:
- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các
nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán;
- Tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ liên quan đến chứng khoán.
 Liên quan đến hiện diện thương mại
Việt Nam cam kết cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà
đầu tư nước ngoài hoạt động chứng khoán ở Việt Nam dưới các hình thức và điều
kiện sau đây:
(a) Văn phòng đại diện, với điều kiện các văn phòng đại diện không được
thực hiện các hoạt động kinh doanh sinh lời trực tiếp (ngay khi gia
nhập).
(b) Liên doanh với đối tác Việt Nam, với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía
nước ngoài không vượt quá 49% (ngay khi gia nhập) (quy định tại
khoản 1 Điều 3 Quyết định 55/2009/QĐ-TTg).
(c) Doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài (kể từ 11/01/2012,
5 năm kể từ ngày gia nhập ).

chúng cho phù hợp với Luật Chứng khoán 2006 và cam kết gia nhập WTO của Việt
Nam.
Theo Điều 3 Quyết định 55/2009/QĐ-TTg, tổ chức kinh doanh chứng khoán
nước ngoài được tham gia thành lập CTCK, công ty quản lý quỹ tại Việt Nam như
sau:
1. Chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn mua cổ
phần thành lập CTCK. Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài tối đa là 49%
vốn điều lệ của CTCK.
2. Chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài có nghiệp vụ quản lý
quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức kinh doanh bảo hiểm nước ngoài được góp vốn,
mua cổ phần thành lập công ty quản lý quỹ. Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước
ngoài tối đa là 49% vốn điều lệ của công ty quản lý quỹ.
Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24/12/2008 ban hành Quy chế hướng
dẫn hoạt động đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trên TTCK Việt Nam
hiệu lực từ ngày 17/3/2009. Theo quy định tại Điều 3 thì Nhà đầu tư nước ngoài
thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình thức sau:
a) Trực tiếp thực hiện đầu tư thông qua việc:
(i) Mua, bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán niêm yết
khác trên Sở Giao dịch Chứng khoán, TTGDCK hoặc đăng ký giao dịch tại
các CTCK;
(ii) Mua, bán cổ phần và các loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở
Giao dịch Chứng khoán, TTGDCK hoặc chưa đăng ký giao dịch tại các
CTCK;
9
(iii) Tham gia đấu giá mua chứng khoán, đấu giá mua cổ phần tại các
doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa;
(iv) Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán với tỷ lệ
góp vốn của bên nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
(v) Tham gia góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ góp
vốn của bên nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

có tính tương ứng với thông tin của Ngân hàng thế giới ước tính các NĐT nước
ngoài đã đầu tư khoảng 4 tỷ USD vào TTCK Việt Nam.
10
Gía trị đầu tư nước ngoài tính đến tháng 4/2007
Tại thị trường niêm yết, NĐT nước ngoài đã nhanh chóng sở hữu đến 49%
hoặc đang có xu hướng đạt đến 49% (tỷ lệ cao nhất cho phép đối với NĐT nước
ngoài) đối với một số mã cổ phiếu như AGF, CII, BT6, GIL, GMD, IFS, SAM,
TDH, TMS, TYA, VNM, chứng chỉ quỹ VFMVF1.
Lúc này, có những quỹ đầu tư nước ngoài được đánh giá là hoạt động thành
công trên thị trường Việt Nam là Vina Capital, Indochina Capital, Dragon Capital,
IDG Vietnam, PXP Vietnam, City Group, HSBC, JP Morgan, Deutsch AG… Trong
số các NĐT nước ngoài, các quỹ đầu tư có người quản lý quỹ tại Việt Nam chiếm
tỷ trọng 70% trên tổng quy mô vốn đầu tư của các NĐT nước ngoài. Tuy nhiên,
trong số các quỹ đầu tư nước ngoài chưa có mặt các quỹ Mutual Fund và Pension
Fund – là các quỹ có mục tiêu đầu tư rất dài hạn. Đến cuối năm 2007, tại Việt Nam,
NĐT nước ngoài mới chỉ có 8.140 tài khoản cá nhân và 477 tài khoản tổ chức, giao
dịch của khối này chiếm khoảng 25% tổng giá trị vốn hóa trên sàn TP.HCM
(khoảng 5,3 tỷ USD). Bên cạnh đó là khoảng 44 quỹ đầu tư cả trong và ngoài nước,
hơn 70 quỹ nước ngoài khác được kỳ vọng sẽ vào Việt Nam trong tương lai gần,
mang theo số vốn khoảng 4-5 tỷ USD.
Trong tháng 1/2008, đã có 35 tổ chức và 399 cá nhân nước ngoài được cấp
mã giao dịch tại TTCK Việt Nam. Tính đến ngày 3/3/2008, đã có 600 tổ chức và
9.220 cá nhân là NĐT nước ngoài được cấp mã giao dịch, tăng thêm 30 tổ chức và
223 cá nhân nước ngoài so với thời điểm tháng 2/2008. Trong quý 2/2008, theo số
liệu công bố mới nhất từ Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, đã có thêm 1.239 NĐT
nước ngoài được cấp mã số giao dịch, trong đó bao gồm: 112 tổ chức và 1127 cá
nân người nước ngoài. Cụ thể, tính đến ngày 2/6/2008 đã có 712 tổ chức và 10.347
cá nhân người nước ngoài được cấp mã số giao dịch tại TTCK Việt Nam. Trong đó,
riêng tháng 6/2008 có thêm 28 tổ chức và 383 cá nhân nước ngoài, tháng 5/2008 có
thêm 38 tổ chức và 358 cá nhân nước ngoài, tháng 4/2008 có 46 tổ chức và 386 cá

chiến lược lớn của công ty chứng khoán SSI; Công ty Cổ phần Chứng khoán Việt
Nam chuyển nhượng 49% cho ngân hàng RHB (Malaysia)…
Trong năm 2009, UBCKNN đã tổ chức triển khai thực hiện Quy chế thành
lập và hoạt động của văn phòng đại diện tổ chức kinh doanh chứng khoán nước
ngoài tại Việt Nam và Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK
Việt Nam. UBCKNN thường xuyên tham gia ý kiến với Bộ Tài chính, Bộ Công
Thương, Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế để xây dựng các chính sách
liên quan tới việc thực hiện các cam kết WTO liên quan tới ngành dịch vụ tài chính,
trong đó có việc tham gia xây dựng và triển khai Chương trình hành động của Bộ
Tài chính bao gồm Kế hoạch triển khai thực hiện các cam kết WTO thuộc lĩnh vực
tài chính và Kế hoạch triển khai các hoạt động để thực hiện có hiệu quả các cam kết
WTO. Năm 2009 cũng là năm gia tăng về số lượng các đoàn khách quốc tế tới thăm
và làm việc với UBCKNN. Thông qua những hoạt động này, các cơ quan quản lý
TTCK các nước, các tổ chức tài chính quốc tế, các NĐT nước ngoài có tổ chức và
cá nhân đã được cung cấp đầy đủ những thông tin về thị trường và môi trường đầu
tư của Việt Nam, về những cơ hội đầu tư trên TTCK Việt Nam, về những nỗ lực
của UBCKNN để thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển một cách an toàn và bền
vững trong quá trình hội nhập với các thị trường khu vực và thế giới. Các hoạt động
12
này cũng đã góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ quốc tế giữa UBCKNN với
các cơ quan quản lý chứng khoán nước ngoài trong việc nâng cao sự hiểu biết và hỗ
trợ lẫn nhau trong công tác quản lý thị trường, đồng thời thu hút các dòng vốn đầu
tư gián tiếp của các NĐT đến từ các quốc gia trên thế giới.
Tính đến ngày 1/10/2010, các NĐT nước ngoài đã được phép sở hữu 49%
vốn điều lệ công ty đại chúng nhưng chỉ mới có 4/598 cổ phiếu niêm yết có tỷ lệ sở
hữu của NĐT nước ngoài đạt 49% (tất cả niêm yết tại SGDCK TPHCM). Chỉ
71/598 cổ phiếu niêm yết có tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài trên 20% (62 niêm
yết tại SGDCK TPHCM, 9 niêm yết tại SGDCK Hà Nội). Sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài đạt 19.25% giá trị vốn hóa của toàn thị trường (127.587 tỷ VND hoặc
6,73 tỷ USD tính theo giá thị trường, tỷ lệ này trên SGDCK TPHCM là 21.69%,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status