Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 - Pdf 67

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam hiện nay có tốc độ tăng trưởng được đánh giá cao trong khu vực.
Mức tăng trưởng không ngừng được tăng lên trong suốt những năm vừa qua. Tốc độ tăng
GDP trung bình 7.9% thời kỳ 1990 – 1997 và 7.62% thời kỳ 2000 – 2007. Cùng với tăng
thu nhập bình quân đầu người và cải thiện về cuộc sống, tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể.

Nhưng theo một vài đánh giá gần đây thì chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn
thấp. Nghị quyết Hội nghị TW 9 khóa IX đã nhận định “ tăng trưởng kinh tế khá nhưng
chưa tương xứng với mức tăng đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế.” Từ đó, có thể thấy
chất lượng tăng trưởng ngày càng được quan tâm nhiều hơn và nâng cao chất lượng tăng
trưởng là một mục tiêu quan trọng của chính sách tăng trưởng và chính sách phát triển ở
Việt Nam. Mặc dù kết quả tăng trưởng và phát triển trong thời gian qua khá cao, song Việt
Nam vẫn là một nước đang phát triển lại trong quá trình chuyển đổi, thu nhập bình quân
đầu người tuy có xu hướng tăng nhưng về mức tuyệt đối vẫn còn rất thấp. Do đó, khía
cạnh chất lượng tăng trưởng lại càng cần được chú trọng hơn.
Trong khuôn khổ một bài báo cáo, bài viết này chỉ đề cập tới một số vấn đề về chất
lượng tăng trưởng, được trình bày theo trình tự như sau:
1. Một số vấn đề về chất lượng tăng trưởng kinh tế
2. Đánh giá chất lượng kinh tế Việt Nam những năm vừa qua
3. Một số đề xuất nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
1
1. Một số vấn đề về chất lượng tăng trưởng kinh tế
1.1. Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế
Trước tiên, để tìm hiểu về khái niệm chất lượng tăng trưởng, ta cần tìm hiểu khái
niệm về tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng,
tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng
được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng.
Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, trong các báo cáo về phát triển con người,
UNDP đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau như tăng trưởng mất gốc, tăng trưởng không
có tương lai… nhằm cảnh báo về tăng trưởng không gắn với phân phối thành quả của tăng

tăng trưởng.
1.2.3. Năng lực bộ máy Nhà nước
Chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc vào năng lực của bộ máy quản lý Nhà nước,
trước hết trong xây dựng thể chế và thực hiện vai trò quản lý của mình. Cụ thể là thông qua
4 tiêu chí: ổn định vĩ mô, ổn định chính trị, xây dựng thể chế và hiệu lực của hệ thống pháp
luật. Ngày nay vai trò của Nhà nước đối với quá trình tăng trưởng cả về chất và về lượng
đã được đánh giá cao hơn bởi một sự phân bổ các nguồn lực đầu vào và đầu ra khó có thể
hiệu quả nếu như không có sự can thiệp của Nhà nước. Tăng trưởng sẽ duy trì trong tương
lai ở một mức cao và dài hạn sẽ dễ đạt được hơn đối với một nước có thể chế và quy định
minh bạch, rõ ràng, tính thực thi của hệ thống pháp luật cao, có bộ máy Nhà nước ít quan
lieu, tham nhũng đồng thời tạo cơ hội cho người dân thực hiện tốt các quyền của họ.
2. Đánh giá chất lượng kinh tế Việt Nam những năm vừa qua
2.1. Một số thành tựu đã đạt được
2.1.1. Thu nhập đầu người tăng
Trước thời kỳ đổi mới, phần lớn dân số nước ta sống bằng nghề nông, Việt Nam bị
đánh giá là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, với mức thu nhập bình quân đầu người rất
thấp và có nhiều người trong diện nghèo đói. Đường lối đổi mới và chính sách hội nhập
kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, dẫn đến nâng cao thu
nhập cho người dân. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai
đoạn 1990 - 2002 đạt trung bình 5,2%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 của người
dân Việt Nam đã đạt 820 USD/năm. So với năm 1995, mức thu nhập bình quân đầu người
hiện nay của Việt Nam đã tăng khoảng 2,8 lần.
3
GDP bình quân đầu người tính bằng VND và tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái
Năm GDP giá
thực tế
(tỉ VND)
Dân số
trung bình
(nghìn

Đồng bằng sông
Hồng
223.30 280.30 488.18
Đông Bắc và Tây
Bắc
173.80 210.00 322.77
Bắc Trung Bộ 174.10 212.40 317.90
Duyên hải Nam
Trung Bộ
194.70 252.80 414.86
Tây Nguyên 265.60 344.70 390.18
Đông Nam Bộ 378.10 527.80 832.97
Đồng bằng sông Cửu
Long
242.30 342.10 471.07
Cả nước 226.70 295.00 484.4 636
Nguồn :Tổng cục thống kê
Thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế đã tăng từ 295 nghìn
đồng/người/tháng năm 1999 lên 356.1 nghìn đồng/người/tháng năm 2001-2002 và 484.4 nghìn
đồng/người/tháng năm 2003-2004 và 636 nghìn đồng/người/tháng năm 2006. Tính ra. thu nhập
bình quân một người một tháng theo giá thực tế năm 2003-2004 đã tăng 64.2% so với năm
1999. Thu nhập tăng đã tạo điều kiện tăng tiêu dùng cho đời sống và tăng tích luỹ. Chi tiêu
cho đời sống bình quân một người một tháng đã tăng từ 221.1 nghìn đồng năm 1999 lên
269.1 nghìn đồng năm 2001-2002 và 359.7 nghìn đồng năm 2003-2004 và 511 nghìn đồng năm
2006
4
Đáng chú ý là thu nhập cũng như chi tiêu đều tăng ở cả khu vực thành thị và nông
thôn. ở tất cả 8 vùng sinh thái và tất cả 5 nhóm thu nhập. Thu nhập bình quân một người một
tháng năm 2003-2004 của nhóm thu nhập thấp nhất đạt 141.8 nghìn đồng. tăng 3.1% so với
mức bình quân 2001-2002; nhóm thu nhập dưới trung bình đạt 240.7 nghìn đồng. tăng 35%;

diện về tăng trưởng và giảm nghèo cho giai đoạn 2001 - 2005. thì chúng ta đã đạt được kết
quả hơn gấp đôi. Đó là một thành tựu lớn. Vùng giảm nghèo đói mạnh nhất là Đông Nam
Bộ. từ 8.88% xuống 1.7 %. tức là giảm tới 5.2 lần; các vùng còn lại giảm tương đối đồng
5
đều từ 50% đến 60%. Vùng còn có tỷ lệ nghèo trên 10% là Tây Bắc (12%). Tây Nguyên
(11%) và Bắc Trung Bộ (10.5%).
Song. để nhìn rõ hơn những thành tựu đã đạt được của giai đoạn 2001 - 2005. nhất là
trong việc phát huy những ưu điểm. cách làm tốt phục vụ cho sự phát triển những năm tới
chúng ta cũng cần tính toán trên cơ sở chuẩn mới (được áp dụng cho giai đoạn 2006 -
2010). Theo đó. cả nước có khoảng 3.9 triệu hộ nghèo. nghĩa là tỷ lệ nghèo theo chuẩn mới
tính bình quân cả nước cao hơn tỷ lệ nghèo (theo chuẩn cũ) khoảng 15%. Bức tranh tổng
quát về tỷ lệ nghèo theo vùng. theo chuẩn nghèo mới như sau
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Đơn vị %
2004 2006 2007
Cả nước 18.10
15.47 14.75
Đồng bằng sông Hồng 12.90 10.12 9.62
Đông Bắc 23.20 22.22 21.13
Tây Bắc 46.10 39.40 37.45
Bắc Trung bộ 29.40 26.58 25.51
Duyên Hải Nam Trung bộ 21.30 17.18 16.26
Tây Nguyên 29.20 24.01 22.95
Đông Nam bộ 6.10 4.56 4.33
Đồng bằng sông Cửu Long 15.30 13.00 12.42
Chú ý
- Chuẩn nghèo LTTP năm 2004 là 124 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực
nông thôn
và 163 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.
- Chuẩn nghèo của Chính phủ thời kỳ 2006-2010 là 200 nghìn đồng 1 người 1 tháng

2002 0.691 112/177
2003 0.704 108/177
2004 0.709 109/177
2007 0.733 105/177
Theo: Báo cáo phát
triển con người các năm UNDP

2.1.3.1. Giáo dục đào tạo
Sự nghiệp giáo dục đào tạo có những mặt tiến bộ. Đến cuối năm 2005 đã cơ bản
hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường học. lớp học. Tỷ lệ trẻ em từ 3-5 tuổi đi học
mẫu giáo năm 2005 đạt 58.9%. vượt mục tiêu đề ra là đạt 58%; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi
cấp tiểu học tăng từ 92.7% năm học 2000-2001 lên 93.9% năm học 2004-2005. trung học cơ
sở tăng từ 71.2% lên 77.7% và trung học phổ thông tăng từ 33.6% lên 40%. Đến nay tất cả 64
tỉnh. thành phố trực thuộc trung ương đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. trong đó 24
địa phương đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 26 địa phương đạt chuẩn phổ
cập trung học cơ sở. Đào tạo đại học. cao đẳng. trung học chuyên nghiệp và nhất là dạy nghề
được củng cố và có bước phát triển nhất định. Năm học 2006-2007 cả nước có 299 trường
đại học và cao đẳng. Trong Báo cáo Giám sát Giáo dục Toàn cầu năm 2005. UNESCO
đánh giá về tiến độ thực hiện mục tiêu “Giáo dục cho tất cả đến năm 2015” do Liên Hợp
quốc đề ra. Chỉ số giáo dục cho tất cả của nước ta được xếp vị trí 64/127. đứng trên một số
nước trong khu vực như In-đô-nê-xi-a. Phi-li-pin. Ấn Độ...
Số trường và số học sinh từ 2000-2008
2000-2001 2005-2006 2006-2007 2007-2008
I.Mẫu giáo
Số trường 8.9993 10.927 11.582
Số học
sinh(nghìn)
2212 2426.9 2524.3
II.Phổ thông
Số trường 24.692 27.227 27.593 28.637

13.117 13.243 13.232
2. Số giường
bệnh(nghìn giường)
192.0 197.2 198.4
Bình quân 1 vạn dân
(giường)
24.7 23.7 23.6
3. Số bác sĩ/1 vạn
dân
5.0 6.2 6.3
4. Tỷ lệ trẻ em suy
dinh dưỡng(%)
33.1 25.2 24
3.Tuổi thọ BQ 67.8 71.5 72
2.1.4. Đời sống kinh tế được cải thiện
Những hộ có thu nhập tương đối cao ngoài chi tiêu cho đời sống hàng ngày còn có
tích luỹ xây dựng nhà ở. mua sắm đồ dùng lâu bền. sử dụng điện. nước máy và chi các
khoản khác. góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Đời sống của các tầng lớp dân cư
trong những năm gần đây được cải thiện rõ rệt thể hiện qua điều kiện nhà ở. Tỷ lệ hộ có
nhà ở kiên cố tăng từ 12.7% năm 2002 lên 20.8 năm 2004 và 23.7% năm 2006; tỷ lệ hộ có
nhà tạm và nhà khác giảm nhanh. từ 24.6% năm 2002. 20.4% năm 2004 xuống còn 16.4%
9
năm 2006.Tỷ lệ hộ có điện lưới thắp sáng tăng từ 86.5% năm 2002 lên 96% năm 2006.
trong đó khu vực nông thôn tăng mạnh. từ 83% lên 95%.Tuy nhiên số hộ có đồ dùng lâu
bền ở thành thị vẫn cao hơn nhiều so với hộ ở nông thôn. ví dụ có 72% số hộ thành thị có
xe máy trong khi chỉ có 46% số hộ nông thôn có xe máy; tương ứng 67% và 21% đối với
điện thoại; 53% và 11% đối với tủ lạnh; 92% và 73% đối với máy thu hình; 20% và 3%
đối với máy vi tính.
Tỷ lệ hộ có một số đồ dùng lâu bền
năm 2001-2002 và 2003-2004

UNDP cũng đã xếp Việt Nam vào danh sách những quốc gia dẫn đầu các nước đang phát
triển về thành tích giảm nghèo và tiêu biểu cho nhóm các nước đang phát triển đã đạt được
sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển các chính sách xã hội vì con người
Văn hoá-thể thao
Công tác xuất bản. phát thanh truyền hình. hoạt động thể dục thể thao cũng có những
kết quả tích cực. Năm 2005 đã xuất bản 17.1 nghìn cuốn sách với 240.2 triệu bản. tăng
79.8% về số đầu sách và tăng 35.2% về số bản in so với năm 2000. Việc phủ sóng phát
thanh và truyền hình tiếp tục được triển khai đến vùng sâu. vùng xa nên đã có 95% số hộ
gia đình trên phạm vi cả nước được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và 90% số hộ được xem
các chương trình của Truyền hình Trung ương. Tỷ lệ dân số luyện tập thể dục thể thao tăng
từ 16.4% năm 2002 lên 17.6% năm 2003 và 18.7% năm 2004. Thể thao thành tích cao tiếp
tục xác lập được vị thế trên đấu trường quốc tế và khu vực. SEA Games 22 (2003) giành
được 343 huy chương. gấp trên 5 lần SEA Games 20 (1999) và tại SEA Games 23 (2005)
giành vị trí thứ 3 toàn đoàn với 228 huy chương các loại.
Tình hình văn hoá-thể thao
2000 2005 2006
1. Số thư viện 642 675 679
2. Số sách-đầu sách 9.487 17.800 20.149
3.Số đơn vị nghệ 132 172 178
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status