BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------
NGUYỄN HỮU HƯƠNG NGUYÊN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH TẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------
NGUYỄN HỮU HƯƠNG NGUYÊN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY TÀI
CHÍNH TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tiếng Việt
CP
Cổ phần
CPH
Cổ phần hóa
CTTC
Công ty Tài chính
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
ĐVT
Đơn vị tính
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Tổng công ty
TĐKT
Tập đoàn Kinh tế
TĐKTNN
Tập đoàn Kinh tế Nhà nước
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTCK
Thị trường Chứng khoán
UBCKNN
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
VNĐ
Việt Nam Đồng
WB
Ngân hàng Thế giới
đến ngày 30/6/2013
36
DANH MỤC CÁC HÌNH – ĐỒ THỊ
STT
Nội dung
Trang
1
Hình 2.1 : Toàn cảnh về hệ thống các CTTC tại Việt Nam năm
2012
33
2
Hình 2.2: Biểu đồ so sánh chỉ tiêu tổng tài sản của của loại hình
tổ chức tín dụng tinh đến thời điểm tháng 6/2013
37
3
Hình 2.3: Tỷ trọng cho vay trung dài hạn so với nguồn vốn huy
động trung dài hạn; và tỷ trọng vốn huy động trung dài hạn
đang tìm kiếm những hƣớng đi mới, cũng nhƣ hoàn thiện hoạt động để có thể tồn
tại và phát triển. Trong đề án Tái cơ cấu tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nƣớc,
các CTTC cũng là một phần quan trọng sẽ đƣợc xử lý.
Vì vậy, tác giả xin chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp hoàn thiện hoạt động
kinh doanh của các Công ty tài chính tại Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
2
kinh tế của mình. Đề tài nghiên cứu tổng quan về CTTC tại Việt Nam hiện nay
trọng tâm là các CTTC thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nƣớc. Qua đó đánh
giá quá trình hoạt động và phân tích các nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp đối
với hoạt động của CTTC. Đề tài có ý nghĩa thiết thực cả lý thuyết lẫn thực tiễn góp
phần đóng góp vào sự hoạt động có hiệu qủa của các CTTC trong giai đoạn hiện
nay.
2. Mục tiêu đề tài:
Cung cấp kiến thức tổng quan về khung lý thuyết CTTC, bài học kinh nghiệm
từ các nƣớc trên thế giới.
Phân tích thực trạng hoạt động của CTTC, từ đó đánh giá thực trạng hoạt động
của các CTTC ở Việt Nam hiện nay.
Đề xuất các giải pháp cơ bản để hoàn thiện hoạt động CTTC nhằm phát huy
tối đa chức năng nhiệm vụ, có hƣớng đi phù hợp trong giai đoạn kinh tế hiện nay.
3. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh của các CTTC ở Việt Nam,
trọng tâm là các CTTC thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nƣớc, nghiên cứu
thực tiễn hoạt động của các CTTC này.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: CTTC ở Việt Nam trọng tâm là các CTTC
thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nƣớc tập trung chủ yếu vào các hoạt động
huy động vốn và sử dụng vốn, hoạt động đầu tƣ, và các hoạt động khác. Thời gian
1.1 Khái quát chung về CTTC
1.1.1 Khái niệm
CTTC là loại hình TCTD phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có,
vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tƣ, cung ứng các dịch vụ tƣ vấn
về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật,
nhƣng không đƣợc làm dịch vụ thanh toán, không đƣợc nhận tiền gửi dƣới 01 năm.
(Theo Nghị định 79/2002/NĐ-CP)
1.1.2 Phân loại CTTC
1.1.2.1 Căn cứ vào hoạt động nghiệp vụ
- CTTC bán hàng là loại hình CTTC chuyên cho ngƣời tiêu dùng vay để mua
hàng hoá từ một nhà bán lẻ hoặc một nhà sản xuất khác. Các món vay thƣờng đƣợc
thực hiện nhanh chóng và tiện lợi tại nơi mua hàng của ngƣời tiêu dùng. Nhờ đó mà
CTTC bán hàng có thể cạnh tranh đƣợc với các NHTM trong cho vay tiêu dùng.
- CTTC ngƣời tiêu dùng là loại hình CTTC chuyên cho ngƣời tiêu dùng vay để
mua những món hàng riêng nhƣ đồ đạc, dụng cụ gia đình hoặc giúp thanh toán các
món nợ nhỏ. CTTC ngƣời tiêu dùng thƣờng là Công ty riêng biệt hoặc do các Ngân
hàng sở hữu.
- CTTC kinh doanh là loại hình CTTC chuyên cung cấp các dạng tín dụng đặc
biệt cho doanh nghiệp bằng cách mua các hoá đơn nợ của doanh nghiệp theo hình thức
chiết khấu, việc cung cấp này gọi là bao thanh toán. Ngoài ra, các CTTC kinh doanh
cũng chuyên môn hoá trong việc cho thuê thiết bị, là những tài sản họ mua và sau đó
cho các doanh nghiệp thuê lại trong một số năm.
1.1.2.2 Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu
- CTTC độc lập thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh: nghiệp vụ tín dụng (cho
vay, bảo lãnh cho khách hàng thƣơng mại và sản xuất công nghiệp), các nghiệp vụ cho
thuê, nghiệp vụ bao thanh toán, kinh doanh tiền tệ, tƣ vấn tài chính.
- CTTC trong các tập đoàn kinh doanh tham gia chủ yếu các hoạt động nhƣ tìm
kiếm các nguồn đầu tƣ để cung ứng cho các thành viên trong tập đoàn; quản lý và đầu
tƣ các nguồn chƣa sử dụng trong tập đoàn; quản lý các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi;
điều hoà vốn giữa các thành viên; làm đầu mối và tƣ vấn cho tập đoàn, các Công ty
- CTTC trực thuộc của tổ chức tín dụng: là CTTC do một tổ chức tín dụng thành
lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán
độc lập và có tƣ cách pháp nhân.
- CTTC liên doanh: là CTTC đƣợc thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam
6
gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nƣớc ngoài gồm
một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nƣớc ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
- CTTC 100% vốn nƣớc ngoài: là CTTC đƣợc thành lập bằng vốn của một hoặc
của nhiều tổ chức tín dụng nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
1.1.3 Vị trí và vai trò của CTTC
1.1.3.1 Vị trí
CTTC là một loại hình trung gian tài chính. Cùng với các loại hình trung gian tài
chính khác tạo nên kênh dẫn vốn gián tiếp (hay kênh tài chính gián tiếp) có chức năng
dẫn vốn từ ngƣời sở hữu vốn sang ngƣời sử dụng vốn bằng cách tập hợp các khoản
vốn nhàn rỗi lại rồi cho vay. Kênh tài chính gián tiếp lại kết hợp với kênh dẫn vốn trực
tiếp (thị trƣờng tài chính) tạo nên một khâu quan trọng của hệ thống tài chính. Đến
lƣợt nó, khâu tài chính này lại kết hợp với 3 khâu tài chính cơ bản là tài chính công, tài
chính doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình tạo nên một hệ thống tài chính hoàn bị.
Nhƣ vậy, CTTC là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính của một quốc gia.
1.1.3.2 Vai trò:
CTTC mang đầy đủ vai trò của một trung gian tài chính trong nền kinh tế với
nhiệm vụ thu hút, tích tụ và tập trung các nguồn vốn nhằm cho những ngƣời có nhu
cầu sử dụng vốn vay. Các CTTC đã đem lại lợi ích đầy đủ cho những ngƣời có vốn
(ngƣời cho vay) và ngƣời cần vốn (ngƣời đi vay) và cho cả nền kinh tế. Với tính chất
là một tổ chức tài chính chuyên môn hoá cao trong một số nghiệp vụ đƣợc quy định,
các CTTC có vai trò quan trọng nhƣ sau:
- Thứ nhất, CTTC giúp khách hàng tiết kiệm đƣợc các chi phí về thông tin và
giao dịch khi cung ứng và sử dụng các nguồn vốn. Đặc biệt là tạo ra các cơ hội đầu tƣ
tế trên thị trƣờng tài chính. Các CTTC có thể phát hành những giấy tờ có giá với lãi
suất cao, mệnh giá thấp... để thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà đầu tƣ lớn, nhỏ
trên thị trƣờng tài chính vào nó, điều này sẽ khiến nguồn vốn huy động đƣợc nhiều
hơn, đồng thời mở rộng đƣợc giao dịch cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Ngoài ra đối với các CTTC trực thuộc các tập đoàn kinh tế hay trực thuộc Tổng
Công ty có điều kiện hiểu biết sâu về các Công ty thành viên, có nhiều điều kiện thuận
lợi hơn trong việc quản lý rủi ro tài chính và huy động vốn cho tập đoàn trong việc cấp
vốn cho các Công ty thành viên hay khách hàng của Công ty thành viên trong tập
đoàn.
1.1.4 Các hoạt động chủ yếu của CTTC
CTTC đƣợc thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng sau đây:
-
Nhận tiền gửi của tổ chức;
8
-
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ
chức;
-
Vay vốn của TCTD, tổ chức tài chính trong nƣớc và nƣớc ngoài theo quy định của
pháp luật; vay NHTW dƣới hình thức tái cấp vốn theo quy định;
-
Cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng;
tăng dần thông qua việc huy động vốn đóng góp từ tập đoàn hoặc phát hành thêm cổ
phiếu...
+ Phát hành trái phiếu trung và dài hạn: Trái phiếu là một chứng chỉ nợ, đại diện
cho một sự vay vốn dài hạn của CTTC và đƣợc hoàn trả sau một thời gian nhất định.
9
Chủ sở hữu trái phiếu có quyền đƣợc hƣởng một khoản thu nhập cố định và phụ thuộc
vào kết quả kinh doanh của CTTC. Có hai loại trái phiếu: trái phiếu có lãi suất kèm
theo phiếu tính lãi và trái phiếu chiết khấu không ghi lãi suất nhƣng giá phát hành thấp
hơn mệnh giá, sai biệt giữa mệnh giá trái phiếu giá phát hành trái phiếu là lãi chiết
khấu. Các CTTC thƣờng huy động vốn theo hình thức phát hành trái phiếu.
+ Phát hành chứng chỉ nợ: Là một giấy nhận nợ mà CTTC phát hành để vay vốn
trên thị trƣờng tiền tệ dùng để đáp ứng những nhu cầu về tiền mặt, vốn ngắn hạn cấp
thiết. Có hai loại chứng chỉ nợ:
• Chứng chỉ tiền gửi loại lớn: Là giấy xác nhận khoản vay của CTTC có ghi rõ thời
hạn hoàn trả và lãi suất ngƣời cho vay đƣợc hƣởng. Chứng chỉ này là một loại đầu tƣ
ngắn hạn có lợi cho nhà kinh doanh, hộ gia đình vì nó đƣợc sử dụng và chấp nhận nhƣ
séc hoặc tiền mặt.
• Hợp đồng thoả thuận mua lại: Là hình thức vay ngắn hạn của CTTC trên thị
trƣờng tiền tệ thông qua hợp đồng bán chứng khoán cho các đối tƣợng kinh doanh
chứng khoán tƣơng đối thừa tiền mặt và thoả thuận mua lại chứng khoán đó trong thời
gian ngắn từ vài ngày đến vài tuần.
-
Vay từ các TCTD khác: CTTC trong tập đoàn kinh tế có thể vay vốn từ các
TCTD, thực hiện việc cho vay và đi vay theo hợp đồng tín dụng, vốn vay phải đƣợc
bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh hoặc tín chấp.
-
Hoạt động cho vay đa dạng, phong phú, bao gồm nhiều loại hình:
Nếu căn cứ vào thể thức cho vay, hoạt động cho vay gồm:
+ Tín dụng ứng trƣớc: Là thể thức cho vay đƣợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín
dụng, trong đó khách hàng đƣợc sử dụng một hạn mức cho vay trong một thời hạn
nhất định. Tín dụng ứng trƣớc có hai loại là ứng trƣớc có bảo đảm và ứng trƣớc
không cần bảo đảm. Ứng trƣớc có bảo đảm là loại tín dụng đƣợc cấp phát trên cơ sở
có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một hay nhiều tổ chức và/hoặc cá nhân
khác; ứng trƣớc không cần bảo đảm là loại tín dụng đƣợc cấp không cần có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh mà chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
+ Thấu chi: Với tên gọi khác là tín dụng hạn mức, là hình thức cấp tín dụng ứng trƣớc
đặc biệt đƣợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng đƣợc phép
sử dụng dƣ nợ trong giới hạn và thời hạn nhất định. Khác với tín dụng ứng trƣớc, thấu
chi mức tín dụng đƣợc thoả thuận chƣa phải là khoản tiền CTTC cho vay, chỉ khi nào
khách hàng sử dụng mới đƣợc coi là tín dụng đƣợc cấp và tính tiền lãi. Thấu chi đƣợc
áp dụng đối với khách hàng có uy tín, có lịch sử tài chính tốt, có khả năng tài chính
lành mạnh.
Nếu căn cứ vào đối tƣợng cho vay, hoạt động cho vay gồm:
+ Cho vay theo ngành nghề kinh doanh: còn gọi là cho vay để kinh doanh nhƣ cho
vay theo các ngành công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ, nông nghiệp, bất động sản...
+ Cho ngƣời tiêu dùng vay để mua vật dụng nhƣ xe hơi, các sản phẩm hàng hoá có giá trị
lớn và thời gian sử dụng dài nhƣ mua nhà, mua thẻ tín dụng, trang trải các chi phí
cá nhân...
+ Cho các tổ chức tín dụng khác vay.
+ Cho tập đoàn kinh tế và các công ty thành viên của tập đoàn kinh tế vay.
Nếu căn cứ vào thời gian cho vay, hoạt động cho vay gồm:
11
+ Cho vay ngắn hạn với thời gian cho vay dƣới 1 năm.
của mình đối với ngƣời nhận bảo lãnh.
12
- Bao thanh toán: Là hoạt động mua các yêu cầu chi trả của một doanh nghiệp
nào đó, nhận các khoản chi trả của các yêu cầu này, thông thƣờng các yêu cầu chi trả
là ngắn hạn. Hoạt động này có ba bên tham gia là ngƣời mua nợ (CTTC), chủ nợ
(doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ) và ngƣời mắc nợ (ngƣời mua hàng hoá,
dịch vụ). Ngƣời mua nợ thanh toán giá mua nhỏ hơn giá trị khoản nợ cho chủ nợ
(thông thƣờng từ 80 đến 90% giá trị khoản nợ). Số tiền còn lại đƣợc trả lại cho chủ nợ
sau khi ngƣời mắc nợ hoàn tất việc trả nợ, sau khi đã trừ đi tiền lãi vay và phí hoa
hồng. Ngƣời mắc nợ coi hợp đồng mua bán đã hoàn tất; còn ngƣời mua nợ chịu trách
nhiệm quản lý, theo dõi, thu hồi và chịu rủi ro về các khoản chi trả của các yêu cầu chi
trả đó. Bao thanh toán vừa là phƣơng thức thu nợ, vừa là kỹ thuật phòng tránh rủi ro
và là một phƣơng tiện để tài trợ cho các hoạt động của khách hàng. Bao thanh toán
đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thƣơng mại, công
nghiệp có mạng lƣới khách hàng rộng khắp và cung cấp các sản phẩm hàng hoá dịch
vụ thông dụng. Hoạt động bao thanh toán gần giống nhƣ hoạt động chiết khấu thƣơng
phiếu, nhƣng có các điểm khác nhƣ các khoản nợ đƣợc mua là các khoản nợ có hoá
đơn, hợp đồng mua uỷ nhiệm thu (các khoản nợ) là hợp đồng không đƣợc truy đòi,
CTTC thƣờng giữ lại từ 10% đến 20% số tiền nợ của chủ nợ để dự phòng hàng hoá bị
trả lại và lãi suất mà ngƣời mua đƣợc hƣởng trong hoạt động này cao hơn hoạt động
tín dụng khác vì hoạt động bao thanh toán có mức độ rủi ro cao.
- Hoạt động tƣ vấn: Bao gồm tƣ vấn phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, tƣ
vấn đầu tƣ dự án, tƣ vấn cấu trúc hoạt động doanh nghiệp, tƣ vấn lập và thẩm định
phƣơng án tài chính, phƣơng án kinh doanh, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán và các loại
hình dịch vụ tƣ vấn khác.
- Hoạt động đại lý, môi giới: Bao gồm đại lý phát hành cổ phiếu, phát hành trái
phiếu, các hoạt động môi giới đầu tƣ tài chính.
- Hoạt động khác:
1.1.5.3 Thời gian hoạt động.
Thời hạn hoạt động của CTTC tối đa là 50 năm. Trƣờng hợp cần gia hạn thời hạn
hoạt động, phải đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam chấp thuận, nhƣng mỗi lần gia
hạn không quá 50 năm. Trong khi đó, thời hạn hoạt động của các ngân hàng không bị
pháp luật khống chế.
1.1.5.4 Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại.
Xét ở khía cạnh nào đó, các CTTC sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn
so với ngân hàng. Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài và
CTTC nƣớc ngoài mới đƣợc thành lập CTTC liên doanh và CTTC 100% vốn đầu tƣ
14
nƣớc ngoài. Tổ chức tín dụng nƣớc ngoài chỉ đƣợc thành lập CTTC liên doanh hoặc
100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm
trƣớc thời điểm nộp đơn.
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì
CTTC huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Vì thế, rủi ro xảy ra
đối với các CTTC chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít
ảnh hƣởng tới cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân
thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.
Một trong những hạn chế của các CTTC so với các tổ chức ngân hàng là không
đƣợc làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dƣới 1 năm. Tuy vậy, các CTTC hiện
nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới nhƣ dịch vụ
nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tƣ bao thanh toán, thu xếp vốn,...v.v. cho cả ngắn
hạn, trung và dài hạn. Những dịch vụ này đã giúp CTTC thực hiện đƣợc các dịch vụ
khác tƣơng tự nhƣ một ngân hàng thƣơng mại.
1.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động của CTTC
1.2.1 Năng lực hoạt động và tổ chức quản lý của CTTC
Một yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự an toàn của CTTC là năng lực
hoạt động và chất lƣợng tổ chức quản lý. Quản lý CTTC là tạo ra hệ thống các hoạt
Sự điều hành và quản lý của Chính phủ, của NHNN
Việc tạo lập, duy trì một môi trƣờng chính trị xã hội ổn định là điều kiện quan
trọng hàng đầu cho phép Nhà nƣớc tập trung các nguồn lực và thực thi các chiến lƣợc,
chính sách phát triển kinh tế - xã hội dài hạn. Nhà nƣớc thực hiện chức năng điều tiết vĩ
mô nền kinh tế thông qua việc ban hành và thực thi hệ thống các chính sách kinh tế
- tài chính thống nhất trong mỗi quốc gia. Bằng hệ thống các văn bản pháp quy, chiến
lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, chiến lƣợc phát triển các ngành kinh tế, Nhà nƣớc
định hƣớng xu thế phát triển của các tập đoàn kinh tế và CTTC trong tập đoàn kinh tế.
Ban hành các chính sách hỗ trợ các tập đoàn kinh tế đầu tƣ vào các ngành, lĩnh vực
cần đƣợc ƣu tiên khuyến khích để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời có các chính
sách bảo vệ sản xuất trong nƣớc, hỗ trợ và nâng cao khả năng cạnh tranh của tập đoàn
kinh tế. Thực hiện các chính sách kinh tế đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, vừa tranh thủ
phát huy đƣợc lợi thế của hợp tác quốc tế, vừa tránh đƣợc sự cạnh tranh mất cân đối
với các tập đoàn kinh tế, các tổ chức tài chính quá lớn có ƣu thế về vốn, công nghệ
tiên tiến, lao động có trình độ cao và kinh nghiệm quản lý.
Tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Chính phủ, các bộ, ngành với các tập đoàn kinh
tế, các CTTC trong tập đoàn kinh tế vì lợi ích chung của quốc gia và lợi ích của các tổ
chức kinh tế này.
16
Xây dựng môi trƣờng pháp luật đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích
các định chế tài chính phát triển.
Hoạt động của CTTC trong tập đoàn kinh tế đƣợc tiến hành trong một khuôn
khổ pháp lý chặt chẽ, đƣợc xây dựng chủ yếu để bảo đảm tính an toàn của hệ thống tài
chính ngân hàng và bảo vệ lợi ích của toàn nền kinh tế - xã hội. Nhà nƣớc xây dựng hệ
thống khuôn khổ pháp luật nhằm quy định điều kiện thành lập, nội dung và phạm vi
hoạt động; các vấn đề về sáp nhập, hợp nhất, mở rộng lĩnh vực hoạt động; phá sản, giải
đến cân đối sử dụng vốn phù hợp, đáp ứng đƣợc nhiều đối tƣợng khách hàng.
1.2.5 Chiến lƣợc phát triển và cơ chế hoạt động của tập đoàn kinh tế
Nếu CTTC là một thành viên của tập đoàn kinh tế thì lợi ích của CTTC gắn liền
với lợi ích của tập đoàn. Việc thành lập CTTC cũng nhằm mục tiêu huy động vốn và
cho vay hỗ trợ các thành viên trong Tổng Công ty nên hoạt động của CTTC sẽ đƣợc
sự quan tâm, chỉ đạo và kiểm tra và điều phối của Tổng Công ty. Nhƣ vậy, chiến lƣợc
cũng nhƣ hiệu quả của Tổng Công ty trong từng giai đoạn sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến
hiệu quả hoạt động của CTTC. Chiến lƣợc phát triển của tập đoàn tập trung vào lĩnh
vực đầu tƣ phát triển kinh doanh, nghiên cứu triển khai công nghệ mới, sản phẩm mới,
huy động sức mạnh tài chính và các nguồn lực của tập đoàn để tập trung vào các lĩnh
vực then chốt có ý nghĩa quyết định đến khả năng phát triển, mở rộng thị phần, củng
cố và nâng cao uy tín, danh tiếng của tập đoàn. Trên cơ sở định hƣớng phát triển của
tập đoàn, CTTC trong tập đoàn kinh tế chủ động xác định, lựa chọn chiến lƣợc kinh
doanh của công ty phù hợp với môi trƣờng ngành và điều kiện cụ thể trong từng lĩnh
vực, từng khu vực thị trƣờng, vừa nâng cao lợi nhuận, vừa phát huy sức mạnh tổng
hợp của tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế là một hình thức liên kết kinh tế, tập đoàn chỉ tồn tại và phát triển
vững mạnh khi xây dựng đƣợc cơ chế hoạt động dựa trên sự thống nhất lợi ích kinh tế của
từng thành viên với lợi ích kinh tế chung của cả tập đoàn. Trong tập đoàn kinh tế, giữa
công ty mẹ, các công ty thành viên với công ty tài chính có mối quan hệ ràng buộc, phụ
thuộc, hỗ trợ lẫn nhau nhằm phục vụ mục tiêu chung của tập đoàn. Mối quan hệ liên kết
kinh tế này đƣợc điều hành bằng các hợp đồng hoặc thoả thuận kinh tế nhằm phối hợp
hành động, phát huy sức mạnh chung của toàn tập đoàn. Để hạn chế cạnh tranh nội bộ
giữa các công ty thành viên của tập đoàn, các hoạt động trong tập đoàn đƣợc chuyên môn
hoá theo từng lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh hoặc có sự thoả thuận về phân chia thị
trƣờng, đối tƣợng khách hàng. Hầu hết các tập đoàn kinh tế theo đuổi một chính sách
quản lý phi tập trung. Ban lãnh đạo tập đoàn kinh tế thƣờng nằm ở công ty mẹ, đƣợc hình
thành trên nguyên tắc số vốn cổ đông đóng góp của các
hƣởng đến lợi nhuận của CTTC.