ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI SGD NGÂN
HÀNG TMCP HÀNG HẢI TRONG THỜI GIAN TỚI
I. Đánh giá về chất lượng công tác thẩm định nói chung và thẩm định tài
chính dự án vay vốn nói riêng tại SGD.
Nhìn chung trong những năm vừa qua công tác thẩm định dự án tại SGD
đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, điều này được thể hiện rõ ràng qua sự tăng lên của
doanh số tín dụng đầu tư và không có tình trạng nợ xấu trong 2 năm 2006,
2007 ; tuy dư nợ tăng lên nhưng vẫn đảm bảo các khoản vay an toàn, có hiệu
quả, số dự án thẩm định, số dự án cho vay, doanh số thu lãi hay lợi nhuận đều
tăng lên, tín dụng trong lĩnh vực sản xuất luôn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu
tín dụng tại SGD.
Bảng 2.1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SGD GIAI 2006 - 2008
Năm/ chỉ tiêu 2006 2007 9/2008
Số dự án xin vay vốn 28 45 42
Số dự án cho vay 23 41 39
Tổng dư nợ tín dụng 147.385 399.226 531.853
+ Lĩnh vực sản xuất 82.352 215.384 342.815
+ Lĩnh vực TM – DV 65.033 183.842 189.038
Tỉ lệ nợ xấu 0% 0% 0,2%
Doanh số giải ngân 289.688 1.127.320 1.271.320
Doanh số thu nợ 129.727 866.462 1.143.651
Doanh số thu lãi 7.054 31.920 83.981
Lợi nhuận 21.539 32.172 41.533
Nguồn: phòng KHDN - SGD
Quy trình, nội dụng thẩm định ngày càng được cải tiến và hoàn thiện, bên
cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục, giải quyết nhất là đối với
nội dung thẩm định tài chính dự án, để đáp ứng yêu cầu phát triển của MSB nói
riêng và của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung trong giai đoạn hội nhập
quốc tế.
1. Kết quả đã đạt được.
động ngày càng sát với thực tế của dự án.
Thẩm định trước khi cho vay được tiến hành nhiều nội dung của doanh
nghiệp và của dự án để đánh giá chính xác nhất tính khả thi của dự án. Ngoài ra
việc theo dõi, kiểm soát trong thời gian cho vay và sau khi cho vay cũng đã
được quan tâm hơn thông qua việc kiểm tra quá trình thực hiện dự án, kiểm tra
tình hình hoạt động của doanh nghiệp theo định kỳ, điều này đã góp phần làm
giảm khả năng phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu.
1.2. Đội ngũ cán bộ
Cán bộ tín dụng là nhân tố quyết định chất lượng của công tác thẩm định,
vì vậy nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cán bộ tín dụng là vấn đề luôn được
phía SGD quan tâm. Đội ngũ cán bộ ở đây trẻ, có chuyên môn, trình độ từ đại
học trở lên, có kiến thức tốt về kinh tế, kỹ thuật, hiểu biết thị trường. Bên cạnh
đó, các cán bộ tín dụng còn được thường xuyên trau dồi kiến thức thông qua các
khóa học ngắn hạn do ngân hàng MSB phối hợp tổ chức về quy trình, nội dung
thẩm đinh, quản lý rủi ro tín dụng, các quy chế, văn bản tín dụng mới... để nâng
cao năng lực phân tích, đánh giá dự án.
1.3. Công nghệ và thông tin
Ngân hàng TMCP Hàng Hải cũng như SGD luôn chú trọng tới nâng cao
chất lượng trang thiết bị nhằm đáp ứng tốt nhất cho hoạt động của SGD. Hiện
nay, ngân hàng đã trang bị các máy tính hiện đại, đảm bảo mỗi người đều có
một máy có kết nối internet, cài đặt các chương trình phần mềm tính toán phục
vụ cho công tác thẩm định, tìm kiếm thông tin, liên lạc, lưu trữ hồ sơ được dễ
dàng hơn từ đó xây dựng kho dữ liệu chung để làm cơ sở so sánh, đánh giá các
dự án. Ngân hàng cũng đã xây dựng hệ thống đánh giá xếp loại doanh nghiệp
dựa trên các tiêu chí tài chính và phi tài chính thông qua phần mềm tự động, các
chỉ tiêu đánh giá được xây dựng khá chi tiết như việc chấm điểm theo phân chia
nguồn vốn, lao động, doanh thu thuần, ý thức thực hiện trách nhiệm đối với nhà
nước; chấm điểm theo quy mô, theo kết quả phân tích các chỉ tiêu tài chính.
Ngoài ra, Phòng Khách hàng Doanh nghiệp còn được trang bị cơ sở hạ tầng khá
đầy đủ, đảm bảo môi trường làm việc hiệu quả cho mọi người.
các khoản mục để ước tính doanh thu, chi phí lại chưa được thống nhất. Ví dụ
như việc thẩm định vốn lưu động ròng của dự án. Vốn lưu động ròng đây là một
phần vốn trung hạn thường bị chủ dự án bỏ qua và nhiều khi trong quá trình
thẩm định cũng không xét tới, hơn nữa nếu có xem xét thì lại chưa đúng tiêu
chuẩn, bởi thay vì tính vốn lưu động ròng lại tính vốn lưu động, vô tình bỏ qua
phần tự tài trợ của nợ ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hơn nữa
việc tính toán trong nhiều dự án không có cơ sở để so sánh giá cả, chi phí, đặc
biệt ít khi xét tới sự biến động giá cả nên dòng tiền giữa các năm được thiết lập
như nhau và hầu hết các dự án đều có lãi ngay trong năm đầu tiên.
Thứ hai, đó là việc tính toán chi phí cơ hội vào trong chi phí của dự án,
điều này hầu như ở mọi dự án đều bỏ qua, tuy chi phí cơ hội không phải là một
khoản thực chi nhưng việc tồn tại của nó thể hiện được chi phí chủ đầu tư đã hi
sinh để thực hiện dự án đã chọn, việc đưa chi phí cơ hội trong tính toán chi phí
sẽ đảm bảo cho lợi ích nhỏ nhất của dự án sinh ra cũng bù đắp được kỳ vọng
đầu tư cho chủ đầu tư nếu thực hiện dự án khác. Tuy nhiên thực tế giá trị này
thường rất khó ước lượng hoặc nếu có ước lượng thì cũng không đảm đảo sự
chính xác.
Thứ ba là việc xác định lãi suất chiết khấu của dự án, trong các dự án đều
chấp nhận lãi suất cho vay chính là lãi suất chiết khấu mà không xem xét tới cơ
cấu vốn của dự án, thực chất lãi suất chiết khấu phải được ước tính bằng số
trung bình của chi phí sử dụng vốn của các bên; việc chấp nhận lãi suất ngân
hàng làm lãi suất chiết khấu là vô tình coi rủi ro của ngân hàng cũng chính là rủi
ro của dự án.
Thứ tư đó là việc ít quan tâm thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án,
trong khi đó khía cạnh kỹ thuật sẽ quyết định công suất hoạt động, chi phí máy
móc thiết bị, chi phí tiêu hao nguyên vật liệu, thời gian khấu hao, chi phí vận
hành... đây chính là các yếu tố cấu thành trực tiếp lên việc tính toán, cân đối
dòng tiền dự án. Trong khi đó đối với hầu hết các dự án mới chỉ thụ động chấp
nhận các thông số kỹ thuật mà chủ đầu tư đưa ra chứ ít khi thẩm định lại như
thẩm định về công suất, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, nhất là giá cả đối
cáo tài chính thì thường không có sự so sánh với mức trung bình của ngành, hơn
nữa còn phải nói đến tác động của chính sách kế toán có thể điều chỉnh linh hoạt
để che giấu tình hình thực tế, có thể ví dụ như việc áp dụng các phương thức
khấu hao và phương pháp xác định tồn kho khác nhau sẽ dẫn đến chi phí khác
nhau. Doanh nghiệp có thể chọn khấu hao nhanh để tiết kiệm chi phí khấu hao
hay kéo dài thời gian khấu hao hoặc hạ thấp tỷ lệ khấu hao; phương pháp xác
định tồn kho khác nhau như FIFO (nhập trước xuất trước) hay LIFO (nhập sau
xuất trước).
Không những thế các thông tin này luôn luôn biến đổi, nhất là thông tin
về doanh thu, chi phí; khi phân tích tín dụng các cán bộ tín dụng thường căn cứ
trên những số liệu cũ, nếu không xử lý các thông tin, không thu thập thêm các
thông tin từ thị trường và không có khả năng phân tích, dự báo rủi ro thì kết quả
thẩm định sẽ thiếu khách quan, không đáng tin cậy.
Việc áp dụng các phần mềm tính toán trong phân tích hiệu quả tài chính
là công cụ quan trọng để nâng cao độ chính xác, rút ngắn thời gian thẩm định,
hiện nay mới chỉ áp dụng chủ yếu là phần mềm Excel để thiết lập các bảng tính,
trong khi đó phần mềm áp dụng cho công tác đánh giá rủi ro lại đang còn hạn
chế, chưa có một phần mềm đặc dụng để đánh giá rủi ro trong các dự án như
phần mềm Risk Master....
2.4. Hạn chế về thời gian, thủ tục thẩm định
Theo quy định của MSB, thời hạn tối đa để thẩm định là 20 ngày phải trả
lời khách hàng đồng ý hoặc từ chối cho vay, tuy nhiên trong thực tế thời gian
này kéo dài hơn nhiều, điều này sẽ làm mất đi cơ hội đầu tư của doanh nghiệp
trong thời gian đợi kết quả phê duyệt của ngân hàng.
Ngoài vấn đề thời gian thì những thủ tục, giấy tờ liên quan đến việc thẩm
định còn đang khá phức tạp. Các báo cáo thẩm định nhiều khi mới chỉ dừng lại
ở việc hướng dẫn thủ tục hành chính mà chưa có sự đánh giá, phân tích sâu về
khía cạnh thị trường, kỹ thuật, công nghệ nhất là việc đánh giá rủi ro khoản vay
còn đang khá sơ sài.
Những hạn chế trong công tác thẩm định đã cho thấy nguyên nghân xuất