Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại việt nam , luận văn thạc sĩ - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------o0o---------

LÊ HUỲNH NHƯ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN DẠNG MỞ TẠI VIỆT
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

T.P Hồ Chí Minh - Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------o0o---------

LÊ HUỲNH NHƯ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN DẠNG MỞ TẠI VIỆT
NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


Tổng giá trị tài sản ròng quỹ tương hỗ của Mỹ năm 2012

30

Biểu đồ 2.1

Huy động vốn qua phát hành cổ phiếu năm 2007 - 2012

39

Biểu đồ 2.2

Giá trị đấu thầu trái phiếu Chính Phủ

41

Biểu đồ 2.3

Thị phần quản lý tài sản của các Công ty quản lý quỹ

48

Biểu đồ 2.4

Tỷ lệ chiết khấu thị giá/NAV của các quỹ niêm yết giai

51

đoạn 2006-2012

đóng, mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm quỹ,…Sự hình thành
và phát triển mô hình quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở là một xu thế tất yếu cho sự


2

phát triển của TTCK Việt Nam. Với những ưu điểm nổi bật của quỹ mở so với quỹ
đóng đang khiến loại hình quỹ này trở nên phổ biến ở các TTCK phát triển.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Giải pháp phát triển quỹ đầu tư
chứng khoán dạng mở tại Việt Nam” là cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của nhà
đầu tư cũng như Chiến lược phát triển của TTCK giai đoạn 2011-2020. Đề tài được
thực hiện nhằm hệ thống kiến thức về quỹ đầu tư chứng khoán; kinh nghiệm phát
triển quỹ mở tại một số quốc gia trên thế giới; thực trạng hoạt động của các công ty
quản lý quỹ, quỹ đầu tư; tiến hành khảo sát và đưa ra đánh giá khả năng phát triển
quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam và tìm ra các giải pháp phù hợp giúp
cho ngành quỹ của Việt Nam chuyển sang một hình thức hoạt động mới trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quỹ đầu tư chứng khoán,
quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở, kinh nghiệm thành lập quỹ đầu tư chứng khoán
dạng mở của các quốc gia trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán,
Công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư trên TTCK Việt Nan trong thời gian qua;
đưa ra đánh giá về khả năng phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở dựa
trên khảo sát thực nghiệm về nhu cầu đầu tư của công chúng đầu tư, hệ thống pháp
lý, điều kiện cơ sở vật chất cũng như những cơ hội và thuận lợi cho sự phát triển của
quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam.
- Đề xuất đưa ra các giải pháp cụ thể và lộ trình thực hiện các giải pháp
để hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.

Tại Việt Nam, đã có một số đề tài nghiên cứu về các giải pháp phát triển
quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam nhưng nhìn chung các đề tài này chỉ tập trung
vào phân tích thực trạng và đề xuất các kiến nghị liên quan đến phát triển ngành quỹ
nói chung mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu về việc đưa ra những giải pháp cụ thể
cho sự phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở.
Đề tài tập trung nghiên cứu đưa ra các giải pháp và lộ trình thực hiện để
phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam, giúp cho các cơ quan


4

quản lý nhà nước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và đưa ra các chính sách phù hợp
cho sự thành lập quỹ và khuyến khích các quỹ đang hoạt động chuyển sang phương
thức hoạt động mới trong thời gian tới.
6. Hạn chế của đề tài
- Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và tài liệu tham khảo nên trong phần
nội dung hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở (trong Chương 1) được
viết dựa trên những nội dung được ban hành trong Thông tư 183/2011/TT-BTC
hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ mở.
- Kết quả khảo sát điều tra chỉ dừng lại ở việc thống kê và miêu tả mức độ
hiểu biết của các NĐT về quỹ mở cũng như nhu cầu tham gia đầu tư khi quỹ mở
được thành lập mà chưa có những phân tích định lượng các yếu tố tác động tới nhu
cầu tham gia đầu tư của Nhà đầu tư vào quỹ mở.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm ba phần chính sau:
Chương I: Tổng quan về quỹ đầu tư chứng khoán.
Chương II: Thực trạng phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt
Nam .
Chương III: Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt
Nam.

một kênh đầu tư rất phổ biến và được ưa chuộng, đồng thời QĐT còn là một bộ
phận cấu thành quan trọng, góp phần vào sự phát triển của TTCK và nền kinh tế nói
chung. Các QĐT sẽ có vòng đời xác định được ghi rõ trong Bản cáo bạch, thường là


6

10 hoặc 20 năm. Hết thời hạn này, quỹ có thể được gia hạn hoạt động hoặc giải thể.
Vốn điều lệ quỹ là số vốn bằng tiền do tất cả các NĐT thực góp và được ghi trong
điều lệ quỹ.
1.1.1.2 Lợi ích khi đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán
Tại sao người dân ở các nền kinh tế phát triển lại thích đầu tư gián tiếp vào
chứng khoán thông qua các QĐT hơn là đầu tư trực tiếp vào các công ty? Đó là vì
họ nhận thấy QĐT có những lợi ích sau:
- Phân tán rủi ro: QĐT có thể đầu tư vào nhiều loại chứng khoán của
các ngành công nghiệp khác nhau theo mục tiêu của quỹ. Việc sở hữu một nhóm
các loại chứng khoán khác nhau dù không loại bỏ hoàn toàn các rủi ro tiềm ẩn
nhưng có thể giúp hạn chế rủi ro do giá của mỗi loại chứng khoán khác nhau có
thể bù đắp cho nhau và tối ưu hóa lợi nhuận.
- Đủ khả năng đầu tư: NĐT có thể đầu tư gián tiếp vào các công ty lớn
(blue-chips) hoặc sở hữu nhiều loại chứng khoán khác nhau với mức vốn tối thiểu
thông qua việc sở hữu CCQ.
- Giảm thiểu chi phí đầu tư: Một trong những nhân tố quan trọng khiến
hình thức QĐT hấp dẫn các NĐT đó là chi phí đầu tư. Sự so sánh có thể khác
nhau, nhưng với các NĐT vừa và nhỏ thường phải trả chi phí đầu tư nhiều hơn một
QĐT trong việc thực hiện mua bán chứng khoán trong một danh mục đầu tư. Lý
do là chi phí giao dịch trong hầu hết các thị trường từ trước đến nay đều có liên
quan chặt chẽ với quy mô giao dịch. Chi phí giao dịch của các NĐT cá nhân đối
với các khoản mua bán nhỏ thường cao hơn nhiều vì giá trị của mỗi giao dịch họ
thực hiện nhỏ hơn nhiều so với các QĐT khi họ giao dịch với số lượng chứng

dài hạn, cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn kế hoạch tài chính, marketing và
các mối quan hệ với các tổ chức tài chính, doanh nghiệp khác. Lợi ích này của
QĐT được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và
nhỏ, nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi.
1.1.2.2 Đối với thị trường chứng khoán
Trên TTCK, QĐT là một định chế tài chính trung gian nên có những vai
trò cơ bản sau:
- Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung
và góp phần phát triển vào thị trường sơ cấp. Các QĐT tham gia bảo lãnh trái phiếu


8

Chính phủ (TPCP) và trái phiếu doanh nghiệp, cung cấp vốn cho sự phát triển
doanh nghiệp thông qua mua cổ phiếu của các đợt phát hành ra công chúng (IPO).
Với chức năng này, các QĐT giữ vai trò quan trọng trên thị trường sơ cấp. Thị
trường sơ cấp phát triển sẽ cung cấp hàng hóa đa dạng cho các danh mục đầu tư của
quỹ, tăng hiệu quả hoạt động, giúp cho các các quỹ tăng trưởng và phát triển.
- Quỹ góp phần vào việc ổn định thị trường thứ cấp. Với vai trò là các tổ
chức đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK, các QĐT góp phần bình ổn giá cả trên thị
trường thứ cấp, góp phần phát triển vào thị trường này thông qua các hoạt động đầu
tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học.
- Quỹ góp phần tạo ra các phương thức huy động vốn đa dạng qua
TTCK. Khi nền kinh tế phát triển và các tài sản chính ngày càng tạo khả năng sinh
lời hơn, NĐT có khuynh hướng muốn có nhiều dạng công cụ tài chính để đầu tư. Để
đáp ứng nhu cầu của người đầu tư, các QĐT hình thành dưới nhiều dạng sản phẩm
tài chính khác nhau như quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu, quỹ cân bằng, quỹ đầu tư
doanh nghiệp tăng trưởng, quỹ đầu tư tư nhân,… có thời gian đáo hạn, khả năng
sinh lời và mức độ rủi ro được kiểm soát tốt.
- Quỹ làm cho các hoạt động đầu tư chứng khoán mang tính xã hội hóa:

- Đảm bảo hiệu quả đầu tư cao do tính chuyên nghiệp hoạt động đầu tư
với các chuyên viên có trình độ chuyên môn về chứng khoán, TTCK và các lĩnh vực
đầu tư khác. Các nhà quản lý quỹ cung cấp dịch vụ quản lý và nghiên cứu thị trường
trong các môi trường mà các NĐT thường không hiểu rõ ràng. Do đó, khi đầu tư
qua quỹ, NĐT có thể ủy quyền cho nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp và được hưởng
nhiều loại dịch vụ do họ cung cấp, đảm bảo hiệu quả đầu tư.
1.1.2.4 Đối với Chính phủ
- Tăng tiết kiệm nội địa: Khi các QĐT huy động vốn thì sẽ thu hút lượng
vốn tiết kiệm lớn từ tập thể các NĐT trong một quốc gia mà quỹ hoạt động. Nếu
một NĐT trong quỹ mở bán cổ phiếu, nhà quản lý quỹ sẽ phải bán tài sản của quỹ
để thanh toán cho NĐT. Ngược lại, nếu quỹ đóng được niêm yết và mua bán sôi
động trên TTCK sẽ tăng sự luân chuyển các dòng vốn đầu tư trong nền kinh tế.
- Giảm sự phụ thuộc nguồn tài chính hay thay đổi: cam kết vốn dài hạn của
các quỹ đóng sẽ giảm sự phụ thuộc các nguồn vốn tư nhân bên ngoài không ổn định.
- Đa dạng hóa sở hữu: các QĐT có sức thuyết phục Chính phủ quan tâm

đến việc sở hữu các NĐTNN đối với các doanh nghiệp trong nước. Điều này lý giải


10

tại sao các quỹ lại được phép đầu tư vào một số nước trước khi thị trường được mở
cho các NĐT trực tiếp tham gia.
- Kỹ năng phát triển các thị trường vốn sở tại: các nhà quản lý quỹ mang lại
sự đánh giá về đầu tư và kỹ năng vận hành cho các thị trường sở tại. Để đáp lại sự quan
tâm của các NĐT, các nhà quản lý quỹ thường yêu cầu các tiêu chuẩn cao về bảo quản,
lưu giữ, thanh toán bù trừ, tiết lộ thông tin và sự giám sát của các cơ quan quản lý.

- Sự tăng trưởng giá cổ phiếu: nguồn vốn mới từ bên ngoài đổ vào TTCK
thường dẫn đến điểm cân bằng về giá cổ phiếu cao hơn, và do vậy chi phí vốn sẽ

trò là người bảo quản an toàn vốn và tài sản của người đầu tư, giám sát các hoạt
động của CTQLQ trong việc tuân thủ điều lệ quỹ. Mô hình QĐT dạng tín thác
thường được sử dụng ở các TTCK mới nổi, đặc biệt là ở Châu Á.
1.1.3.2 Theo quy mô, cách thức và tính chất góp vốn
Dựa theo quy mô, cách thức và tính chất góp vốn, QĐT được tổ chức dưới hai
hình thức: QĐT dạng đóng (gọi tắt là quỹ đóng) và QĐT dạng mở (gọi tắt là quỹ mở)

Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed End Funds)
Quỹ đóng tiến hành huy động vốn thông qua việc phát hành CCQ một
lần duy nhất ra công chúng. Quỹ đóng có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu
ưu đãi hoặc trái phiếu và quỹ không được phát hành thêm bất cứ một loại cổ phiếu
nào để huy động vốn và cũng không thực hiện mua lại các cổ phiếu đã phát hành
khi NĐT yêu cầu. Những người tham gia góp vốn không được phép rút vốn bằng
cách bán lại CCQ cho chính quỹ cho nên cấu trúc vốn của quỹ đóng rất chặt chẽ.
Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn
(đóng quỹ), CCQ được niêm yết trên TTCK, vì vậy NĐT có thể rút vốn bằng cách
bán lại CCQ thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ luôn cố định
và chỉ biến đổi trong trường hợp quỹ gọi thêm vốn, do đó quỹ có thể đăng ký đầu tư
vào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp. Giá thị trường của
cổ phần quỹ đóng do cung cầu trên thị trường quyết định, có thể cao hơn, thấp hơn
hoặc bằng giá trị tài sản ròng (NAV) cổ phần của quỹ.
Quỹ đầu tư dạng mở (Open end Funds)
Quỹ mở còn được gọi là quỹ tương hỗ (Mutual Fund). Khác với quỹ
đóng, quỹ mở luôn phát hành thêm những cổ phiếu mới để tăng vốn và cũng sẵn


12

sàng mua lại những cổ phiếu đã phát hành nên tổng vốn của quỹ mở biến động theo
từng ngày giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua/bán CCQ được


phù hợp với việc huy động vốn từ công chúng. Quy mô và phạm vi huy động vốn
của quỹ chỉ tập trung vào một số ít NĐT lớn, có tiềm lực tài chính và có khả năng
chấp nhận những rủi ro cao trong hoạt động đầu tư. Để tham gia vào quỹ thành viên,
các NĐT phải đạt được những điều kiện nhất định do pháp luật đặt ra. Với tính chất
và mục tiêu đầu tư như trên, quỹ thành viên thường không phải chịu các hạn chế
như quỹ công chúng. Hầu hết các nước có TTCK phát triển đều có hình thức quỹ
này.
1.2. Những nội dung cơ bản về quỹ mở
1.2.1 Khái niệm và đặc tính của quỹ mở
1.2.1.1 Khái niệm về quỹ mở
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam thì quỹ mở là quỹ đại chúng mà CCQ
đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của NĐT.
Sau đợt phát hành lần đầu ra công chúng, giao dịch mua/bán CCQ của
NĐT được thực hiện định kỳ dựa trên NAV của quỹ. Giao dịch này được thực hiện
trực tiếp với CTQLQ hoặc tại các đại lý phân phối chỉ định.
Theo khái niệm trên thì có sự khác biệt cơ bản giữa hình thức quỹ mở so
với quỹ đóng thể hiện ở việc quỹ mở cho phép NĐT mua và bán lại CCQ trực tiếp
với CTQLQ tại bất cứ thời điểm nào được xác định trước, với mức giá được xác
định trên cơ sở NAV của quỹ. Trong khi đó, CCQ của quỹ đóng chỉ được phát hành
một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn và quỹ không thực hiện mua lại CCQ
khi NĐT có nhu cầu. Điều này nghĩa là nếu muốn rút vốn khỏi quỹ, NĐT phải
chuyển nhượng phần vốn đã góp vào quỹ cho NĐT khác với mức giá do thị trường
hoặc hai bên thỏa thuận, mức giá đó có thể cao hoặc thấp hơn giá trị của một đơn vị
quỹ của quỹ. Thông thường, quỹ mở không quy định thời gian hoạt động cụ thể như
quỹ đóng, mà phụ thuộc vào nhu cầu của NĐT. Khi các NĐT không còn nhu cầu
đầu tư vào quỹ, họ sẽ rút toàn bộ vốn đầu tư và quỹ sẽ phải chấm dứt sự tồn tại của
mình tại thời điểm đó.



Thông thường có giới hạn và
được quy định trong bản cáo
bạch.

- Được huy động vốn liên tục
- Chỉ huy động vốn trong
trong quá trình hoạt động. NĐT có giai đoạn phát hành, hoặc có
Giao dịch
mua/chuyển

thể thực hiện việc mua/bán vào

thể tăng vốn theo thời điểm

thời điểm định kỳ với CTQLQ.

khác nhau.

- NĐT có thể thực hiện việc

- CTQLQ chỉ giao dịch

đổi/ bán

chuyển đổi CCQ giữa các quỹ

trực tiếp với NĐT trong thời

CCQ


- Không có chiết khấu giữa giá vào lượng cung/cầu, có thể lớn
giao dịch và giá trị NAV.
Giá giao
dịch

hoặc nhỏ hơn giá trị NAV của

- NĐT phải trả phí phát quỹ.
hành/phí mua lại/phí chuyển đổi

- Giá trị NAV phản ánh

cho CTQLQ khi thực hiện giao

hiệu quả đầu tư nhưng chỉ

dịch.

mang tính tham khảo.
- NĐT trả phí giao dịch
cho CTCK.

Tài sản
cơ sở

Tài sản cần có tính thanh khoản

Có thể là tài sản có tính thanh
khoản hoặc ít thanh khoản.


CTCK

hoặc

CTQLQ.
Quy mô

Quy mô của Quỹ thay đổi thường
xuyên. Ở Việt Nam, không có giới

Tổng nguồn vốn huy động của

hạn tối đa mà chỉ có giới hạn tối

quỹ luôn cố định và chỉ biến

thiểu cho quy mô quỹ là 50 tỷ

đổi trong trường hợp quỹ gọi


16

Phí

đồng (theo quy định của Thông tư
183/TT-BTC).

thêm vốn.


cho thấy quỹ đóng chỉ tồn tại trong thời gian đầu khi TTTC mới phát triển. Tuy
nhiên, khi thanh khoản thị trường ngày càng tốt, nhu cầu quay vòng vốn của các
NĐT ngày một cao thì quỹ đóng đã bộc lộ một số hạn chế, đòi hỏi phải có những
điều chỉnh, cải tiến thêm.
Quỹ mở ngày càng thông dụng nhiều hơn so với quỹ đóng và thể hiện
được chính xác ý nghĩa của việc tạo lập ra QĐT - một định chế tài chính trung gian
phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ
phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác nhằm đạt được mục tiêu đầu tư
nhất định - tạo ra giá trị thặng dư cho NĐT góp tiền vào quỹ.
Quỹ mở ra đời không chỉ giải quyết những hạn chế căn bản của quỹ đóng
mà còn là một bước đột phá trong việc tạo ra các sản phẩm đầu tư mới, các công
cụ đầu tư có tính minh bạch cao và phản ánh được giá trị thực của tài sản đầu tư,
giúp cải thiện sức cầu và tính thanh khoản cho thị trường.


17

1.2.3 Ưu và nhược điểm của quỹ mở
So với các hình thức đầu tư khác, nhất là quỹ đóng, quỹ mở cũng có
những ưu điểm và hạn chế nhất định trong phương thức hoạt động.
Ưu điểm của quỹ mở
- Quỹ mở luôn đảm bảo tính thanh khoản cao, cho phép NĐT có thể rút
vốn theo định kỳ sát với NAV của quỹ sau khi trừ đi một số chi phí liên quan. Điều
này vừa bảo vệ NĐT vừa giúp cho các CTQLQ thu hút vốn nhanh hơn.
- CCQ của quỹ mở được giao dịch mua/bán theo NAV của quỹ, giúp
khoảng cách giữa giá trị của một đơn vị quỹ và thị giá ít bị chênh lệch, cho phép
bảo vệ NĐT tốt hơn do công bố thông tin minh bạch và thường xuyên hơn.
- Quỹ mở tạo ra một kênh huy động vốn linh hoạt, có khả năng tốt hơn
trong tận dụng cơ hội đầu tư dựa trên kỳ vọng xu hướng biến động tăng/giảm của
kết quả hoạt động của quỹ và thị trường.

mua lại CCQ khi không xác định được NAV (trường hợp chứng khoán trong danh
mục đầu tư của quỹ bị hủy niêm yết) hoặc khi CTQLQ không bán được tài sản
trong danh mục đầu tư (do tài sản bị mất tính thanh khoản hoặc chứng khoán của
quỹ nằm trong danh mục giải thể, phá sản).
- Ngoài ra, khi NĐT giao dịch mua/bán CCQ liên tục với CTQLQ thì vấn đề
về tổ chức, quản lý, giám sát, thanh toán, phân bổ đầu tư… trở nên phức tạp hơn. Để
quản lý và vận hành quỹ mở, đòi hỏi các CTQLQ phải có tiềm lực, đẩy mạnh đầu tư
máy móc, công nghệ, tổ chức đội ngủ nhân sự, xây dựng chiến lược đầu tư, tăng cường
năng lực quản lý,… Việc trang bị kiến thức đầu tư, kiến thức về quỹ mở không chỉ cần
thiết với đối tượng là NĐT, mà còn rất cần với các nhân viên đang làm việc trong các tổ
chức phân phối của quỹ và cả nhà quản lý của các quỹ. Để thành công, CTQLQ đương
nhiên cũng phải tiến hành các nghiên cứu, khảo sát thị trường nhằm cho ra đời các sản
phẩm phù hợp dựa trên nhu cầu của các nhóm đối tượng NĐT khác nhau.

1.2.4 Rủi ro khi đầu tư vào quỹ mở
Đầu tư theo bất kỳ hình thức nào NĐT cũng gặp phải một số rủi ro nhất
định, đối với quỹ mở NĐT thường gặp phải một số rủi ro sau đây:
Rủi ro thị trường
Rủi ro này phát sinh khi các thị trường tài sản mà quỹ thực hiện đầu tư có
sự suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian, dẫn tới sự suy giảm
của toàn bộ thị trường. Đây là loại rủi ro mang tính hệ thống nằm ngoài khả năng
kiểm soát của CTQLQ. Việc tổ chức nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường từ
hoạt động nghiên cứu đầu tư sẽ góp phần đánh giá và dự đoán kịp thời


19

những tác động có thể có nhằm đưa ra những giải pháp thích hợp trong hoạt động
đầu tư, giảm thiểu tác động bất lợi từ những rủi ro thị trường.
Rủi ro lãi suất

đó, sự giám sát của ngân hàng giám sát cũng sẽ giúp giảm thiểu rủi ro này.
Rủi ro về tiến độ giải ngân
Quá trình phân bổ tài sản của quỹ mở vào các công ty đã niêm yết hoặc
chưa niêm yết sẽ phụ thuộc nhiều vào tiến độ thực hiện cổ phần hóa, quyết định
chấp thuận được niêm yết của các công ty theo chính sách của Chính phủ. CTQLQ
nên áp dụng chiến lược đầu tư năng động, linh hoạt thay đổi cơ cấu phân bổ tài sản
vào cổ phiếu niêm yết và chưa niêm yết nhằm nắm bắt cơ hội thị trường mang lại
hiệu quả tốt nhất cho quỹ.
Rủi ro giảm sút giá trị tài sản ròng
Rủi ro này phát sinh chủ yếu do sự giảm giá của các loại cổ phiếu trên thị
trường phi tập trung (OTC) và cổ phiếu niêm yết trên TTCK mà quỹ thực hiện đầu
tư. Khi đó, NAV của quỹ sẽ bị giảm sút và ảnh hưởng trực tiếp đến thị giá của CCQ
trên thị trường. CTQLQ cần nghiên cứu lựa chọn dự án đầu tư hiệu quả, tăng trưởng
với mức rủi ro hợp lý; thường xuyên theo dõi chặt chẽ những biến động và xu
hướng của nền kinh tế để có những giải pháp đầu tư hợp lý.
1.2.5
Nội dung hoạt động của quỹ mở
1.2.5.1
Mô hình tổ chức của quỹ mở

Quỹ mở là một hình thức của QĐT, có phương thức hoạt động tương đối
đặc thù nên mô hình hoạt động của quỹ có các bên tham gia như: CTQLQ, ngân
hàng giám sát, công ty kiểm toán, NĐT và các tổ chức cung cấp dịch vụ.


21

UBCKNN

Quản lý

Các tổ chức
cung cấp dịch vụ

Kiểm toán
định kỳ
hàng năm

Công ty
kiểm toán

Hình 1.1 – Mô hình tổ chức của quỹ mở
● CTQLQ (Fund management): được thành lập dưới dạng công ty cổ
phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thực hiện quản lý quỹ, danh mục đầu tư và
một số dịch vụ giá trị gia tăng như tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính doanh nghiệp.
Một CTQLQ có thể thành lập nhiều quỹ, gọi là các quỹ gia đình. Mỗi quỹ có thể
khác nhau về tiêu chí đầu tư, quốc gia đầu tư, tài sản hoặc ngành nghề đầu tư nhằm
đáp ứng thị hiếu đa dạng của những NĐT. Ở Việt Nam hiện nay, VietFund
Management (VFM) đang quản lý các quỹ VF1, VF2, VF3 và VF4. Mekong
Capital quản lý quỹ Mekong Enterprise Fund, Ltd; Mekong Enterprise Fund II, Ltd;
Vietnam Azalea Fund Limited….


22

Theo quy định của Việt Nam, CTQLQ thực hiện một số nhiệm vụ chính
trong hoạt động của quỹ mở như sau:
- Phân bổ danh mục đầu tư của quỹ theo mục tiêu mà quỹ đề ra.
- Hoàn thành việc phân phối CCQ mở trong thời hạn quy định.
- Thay mặt Ban đại diện quỹ xây dựng và ban hành điều lệ quỹ, bản cáo
bạch tóm tắt; trường hợp sữa đổi, bổ sung điều lệ quỹ, CTQLQ phải lấy ý kiến của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status