Phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
………………..

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC
BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ CHỈ SỐ GIÁ
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
………………..

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC
BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ CHỈ SỐ GIÁ
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên Ngành : Tài Chính –Ngân Hàng
Mã Số
: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Bảng tóm tắt tương quan giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và TTCK ở các nước 25
Bảng 2: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình

27

Bảng 3: Thống kê mô tả các biến được sử dụng trong nghiên cứu

38

Bảng 4: Bảng tóm tắt kết quả kiểm định tính dính dừng của các biến

40

Bảng 5: Độ trễ tối ưu của mô hình

40

Bảng 6: Độ trễ tối ưu dựa trên LM test tương quan phần dư

41

Bảng 7: Kiểm định đồng liên kết Johansen -Juselius trong mô hình đa biến

42

Bảng 8 : Phương trình đồng liên kết dài hạn

42

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn của PGS.
TS Nguyễn Thị Liên Hoa. Các nội dung được đúc kết từ quá trình học tập, các số liệu và
kết quả nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trung thực, chính xác.

Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ của Quý Thầy Cô Trường Đại Học Kinh Tế Tp.HCM, gia đình
và bạn bè.
Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến PGS. TS Nguyễn Thị Liên Hoa đã tận tình
hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu của Cô đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô Trường Đại Học Kinh Tế Tp.HCM đã
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học cao học.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và hỗ trợ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Trân trọng cảm ơn.
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG


1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC




Halil Tunalı, Istanbul University, Istanbul, Turkey “The Analysis of Relationships
between Macroeconomic Factors and Stock Returns: Evidence from Turkey Using VAR
Model”, 2010 ....................................................................................................................10



Nopphon Tangjitprom, Martin de Tours School of Management of Economics
Assumption University, Bangkok, Thailand “Macroeconomic Factors of Emerging
Stock Market: The Evidence from Thailand”, November 10, 2011..................................11



Abbas Alavi Rad, Abarkouh Branch, Islamic Azad University, Iran “Macroeconomic
Variables and Stock Market: Evidence From Iran”, 2011 ...............................................13



Xiufang Wang, School of Economics, Osaka Prefecture University, Japan “The
Relationship between Stock Market Volatility and Macroeconomic Volatility: Evidence
from China” , 2011...........................................................................................................13


2



Muhammad Akbar, Shahid Ali and Muhammad Faisal Khan, Pakistan “The




Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô Trong Các Nghiên Cứu: .................................................20

3.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................................26



Dư liệu các biến nghiên cứu ............................................................................................26



Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................27

4.

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN
KINH TẾ VĨ MÔ VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM ....................38

4.1. Thống Kê Mô Tả Các Biến Được Sử Dụng Trong Nghiên Cứu ....................................38
4.2. Kiểm Định Tính Dừng Các Biến Trong Mô Hình..........................................................39
4.3. Lựa Chọn Độ Trễ Tối Ưu Trong Mô Hình: ...................................................................40
4.4. Kiểm Định Đồng Liên Kết Johansen Và Juselius: .........................................................41
4.5. Kiểm Định Nhân Quả Granger: .....................................................................................42
4.6. Kết Quả Chạy Mô Hình VAR:........................................................................................45
4.7. Phân Tích Phản Ứng Xung Lực......................................................................................47
4.8. Phân Tích Phân Rã Phương Sai (Variance Decomposition)..........................................48

thay đổi tỷ giá.
Mô hình VAR cho thấy thay đổi trong VN-index biến động cùng chiều với thay đổi
VN-index trễ 1 tháng, giá dầu trễ 2 tháng và biến động ngược chiều với thay đổi của cung
tiền trễ 2 tháng, lãi suất trễ 3 tháng.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chỉ số VN-index sốc với chính nó, phản ứng với
cú sốc giá dầu và lãi suất. Phân rã phương sai cho kết quả biến động VN-index bị tác động
nhiều nhất bởi chính bản thân nó trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
1.

GIỚI THIỆU
Thị trường chứng khoán là một thị trường vốn đóng vai trò rất quan trọng trong nền

kinh tế thị truờng. Tạo điều kiện cho nhà nước, các doanh nghiệp và cá nhân huy động
được nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì điều này mà đòi hỏi TTCK
phát triển lành mạnh và ổn định. TTCK các nước trên thế giới đã tồn tại và phát triển hàng
trăm năm nay. TTCK Việt Nam bắt đầu giao dịch vào ngày 28/07/2000 chỉ có hai loại


5

chứng khoán REE, SAM với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được
niêm yết giao dịch. TTCK Việt Nam đến nay đã hơn 12 năm tuổi và trải qua nhiều giai
đoạn thăng trầm.
Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2005 quy mô TTCK Việt Nam khá nhỏ với 32
doanh nghiệp niêm yết và phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không mang tính đại
diện cho ngành, giá trị vốn hóa/GDP chưa đến 1%, tính thanh khoản của thị trường khá
thấp, chưa tạo nên kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Cuối năm 2006 Việt Nam
gia nhập WTO, sự ra đời của luật chứng khoán với các ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp đã làm gia tăng đáng kể số lượng doanh nghiệp niêm yết, mức vốn hóa của thị
trường đã tăng đột biến đạt 18,8 tỷ USD, chiếm 22,7% GDP. Đây là giai đoạn phát triển

động đến TTCK trong đó không thể không nói đến nhân tố kinh tế vĩ mô. Hiện tại trên
TTCK Viêt Nam đã có nhiều thông tin nói đến mối tương quan giữa các biến kinh tế vĩ
mô và TTCK. Tuy nhiên vẫn còn mơ hồ và chưa có số liệu chứng minh chính xác hơn.
Hơn nữa các nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới đã có kết luận của một số TTCK
về mối tương quan giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán. Chính vì vậy
mà tác giả lựa chọn đề tài “Phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá
chứng khoán tại Việt Nam” để nghiên cứu.
Trong bài nghiên cứu này, sáu biến kinh tế vĩ mô được sử dụng: tốc độ tăng trưởng
kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cung tiền và giá dầu. Chỉ số sản xuất công
nghiệp (IP) là biến đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là
biến đại diện cho lạm phát. Biến cung tiền được sử dụng là M2. Tỷ giá hối đoái giữa VND
và đô la Mỹ (EXC) dùng đại diện cho thị trường ngoại hối. Lãi suất cơ bản (R) là biến đại
diện cho giá cả trên thị trường tiền tệ. Giá dầu thế giới (OIL) là biến đại diện cho chi phí
đầu vào của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích sử dụng mô hình vector tương quan tự hồi quy Var để kiểm
định mối quan hệ giữa TTCK và các biến số kinh tế vĩ mô. Kiểm định tính dừng bằng giản


7

đồ tự tương quan, nghiệm đơn vị được thực hiện trước để đảm bảo rằng dữ liệu trong mô
hình là dữ liệu dừng. Vì vậy, mối tương quan trễ đã được kiểm định giữa các biến bằng
cách sử dụng mô hình Var và kiểm định nhân quả Granger. Kết quả sẽ cho thấy các biến
kinh tế vĩ mô có thể hữu ích để dự đoán chỉ số chứng khoán tương lai hoặc chỉ số chứng
khoán có thể được sử dụng để dự đoán các biến kinh tế vĩ mô trong tương lai. Cuối cùng,
phương pháp kỹ thuật phân tích các biến được thực hiện để kiểm định Chỉ số chứng khoán
có nhạy cảm với mỗi biến kinh tế vĩ mô như thế nào?
Câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu:
+ Có mối tương quan giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán Việt
Nam và ngược lại hay không?

Những phát hiện trong nghiên cứu này có thể có ý nghĩa quan trọng trong việc ra
quyết định đầu tư, do tác động các biến vĩ mô trong nước ảnh hưởng khác nhau và có ý
nghĩa khác nhau đối với tỷ suất sinh lợi ở mỗi quốc gia khác nhau nên các nhà đầu tư có
thể sử dụng chiến lược đa dạng hóa danh mục theo quốc gia.


Robert D. Gay, Jr., Nova Southeastern University “Effect Of Macroeconomic
Variables On Stock Market Returns For Four Emerging Economies: Brazil,
Russia, India, And China”, March 2008
Trong nghiên cứu này tác giả phân tích tác động của các biến vĩ mô: biến tỷ giá,

biến giá dầu đến chỉ số giá chứng khoán trên thị trường Brazil, Nga, Ấn Độ, và Trung
Quốc (BRIC) giai đoạn tháng 3/1999 đến tháng 6/2006 bằng cách sử dụng mô hình
ARIMA của Box-Jenkins.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Biến tỷ giá hối đoái và thay đổi giá dầu không có
quan hệ đáng kể nào đến chỉ số giá chứng khoán trên TTCK ở các nước như Brazil, Ấn
độ, Trung Quốc và Nga. Điều này không phải là bất ngờ. Nhưng các biến kinh tế vĩ mô
khác trong nước và thế giới như sản xuất, lạm phát, cổ tức, lãi suất, cán cân thương mại, tỷ
lệ cấu trúc.. có một vai trò quyết định đối với chỉ số giá chứng khoán. Hơn nữa việc
nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô với chỉ số giá chứng khoán đã được
bảo đảm.


9

Theo giả thiết, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán nên tích cực.
Giả thuyết được tìm thấy mối quan hệ giữa chỉ số giá và tỷ giá hối đoái ở TTCK Brazil,
Ấn độ, Trung Quốc nhưng không tìm thấy đối với TTCK Nga.
Với kết quả khác là mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán với giá dầu, tác giả
đưa ra giả thuyết có mối quan hệ ngược chiều. Tuy nhiên, kết quả là không một TTCK nào

3% khi cung tiền và tỷ giá giảm 1%.
Bên cạnh đó, có mối quan hệ nhân quả giữa tỷ giá hối đoái và KLCI; KLCI và lãi
suất; dự trữ và lãi suất, giữa KLCI và sản xuất công nghiệp. Đồng thời, có mối quan hệ
nhân quả 2 chiều giữa tỷ giá và lãi suất.
Hơn nữa, dựa trên phân tích phân hủy phương sai, bài viết này nhấn mạnh rằng
TTCK Malaysia có tương tác mạnh với dự trữ , chỉ số sản xuất công nghiệp so với cung
tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái.


Halil Tunalı, Istanbul University, Istanbul, Turkey

“The Analysis of

Relationships between Macroeconomic Factors and Stock Returns: Evidence
from Turkey Using VAR Model”, 2010
Nghiên cứu này nhằm phân tích các mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và
lợi nhuận cổ phiếu trong TTCK của Thổ Nhĩ Kỳ (Istanbul Stock Exchange-Index 100) giai
đoạn từ tháng 1 năm 2002 và tháng 8 năm 2008 trên cơ sở hàng tháng. Các biến kinh tế vĩ
mô đại diện cho các chỉ số cơ bản của nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ gồm 11 biến: lợi nhuận
chứng khoán ở TTCK quốc gia 100 Index (SRISEI-100), chỉ số trung bình công nghiệp
Dow Jones (DJIA), tỷ giá hối đoái (USD), lãi suất huy động 1 tháng (1-MTDR), giá vàng
(GP), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), giá dầu thô quốc tế
(ICOP), tổng khối lượng tín dụng (TCV), cung tiền (M2Y), dự trữ ngoại hối ròng (NFER),
nhập khẩu (IMP). Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp kiểm định
nghiệm đơn vị, đồng liên kết Johansen, quan hệ nhân quả Granger và thử nghiệm mô hình
VAR và phân tích phân rã phương sai để phân tích.
Bằng cách sử dụng đồng liên kết Johansen để kiểm định các mối quan hệ lâu dài
giữa lợi nhuận chứng khoán và các biến số kinh tế vĩ mô được điều tra cho hai biến, đa



kinh tế vĩ mô được thu thập dựa trên số liệu hàng tháng kể từ tháng 1 năm 2001 đến tháng


12

12 năm 2010. Chỉ số giá chứng khoán được thu thập cùng thời gian. Do không có dữ liệu
GDP hàng tháng tại Thái Lan, tỷ lệ thất nghiệp hàng tháng được sử dụng để đại diện cho
nhân tố tình trạng và chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế chung. Trái phiếu chính phủ 5
năm đại diện cho mức lãi suất. Chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng đại diện cho nhân tố lạm
phát. Đối với các hoạt động quốc tế, tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa Baht và đồng đô la
Mỹ được sử dụng làm đại diện.
Phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa lợi
nhuận cổ phiếu và các biến số kinh tế vĩ mô. Kết quả cho thấy chỉ có 2 biến kinh tế vĩ mô,
lãi suất và tỉ giá hối đoán là có ý nghĩa thống kê. Biến tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ lạm phát
không có ý nghĩa thống kê để xác định lợi nhuận cổ phiếu. Điều này có thể phản ánh rằng
có vài độ trễ trước khi dữ liệu được tạo ra.
Mô hình hồi quy được ước tính bằng cách sử dụng độ trễ 2 tháng của tỷ lệ thất
nghiệp và tỷ lệ lạm phát thay thế cho mô hình gốc. Kết quả của mô hình hồi quy mới cho
thấy có ý nghĩa thống kê đối với mỗi biến kinh tế vĩ mô. Ngay cả khi lãi suất ngắn hạn đã
được sử dụng thay thế cho lãi suất dài hạn, hoặc sử dụng các biến thực thay thế cho các
biến danh nghĩa vẫn không làm thay đổi kết quả trước đó.
Tương quan trễ giữa các biến được kiểm tra bằng kiểm định nhân quả Granger. Kết
quả cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tương quan không đáng kể với lợi nhuận cổ phiếu nhưng
ngược lại là không đúng. Đồng thời có quan hệ nhân quả 2 chiều giữa lãi suất và lợi nhuận
cổ phiếu. Nhưng có quan hệ nhân quả 1 chiều từ lợi nhuận cổ phiếu đến tỷ lệ lạm phát và
tỷ giá hối đoái. Như vậy, chỉ có 1 vài biến kinh tế vĩ mô có thể dự đoán lợi nhuận tương lai
của cổ phiếu nhưng ngược lại lợi nhuận cổ phiếu có thể dự đoán hầu hết các biến kinh tế
vĩ mô trong tương lai, ngoài trừ tỷ lệ thất nghiệp. Điều này ngụ ý rằng hiệu quả hoạt động
của TTCK là một ứng cử viên hàng đầu tốt như là một chỉ số kinh tế hàng đầu cho tình
hình kinh tế vĩ mô trong tương lai.


Xiufang Wang, School of Economics, Osaka Prefecture University, Japan
“The Relationship between Stock Market Volatility and Macroeconomic
Volatility: Evidence from China” , 2011


14

Bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa sự biến động của TTCK Trung Quốc
và các nhân tố kinh tế vĩ mô như GDP thực, lạm phát và lãi suất. Trong nghiên cứu này tác
giả sử dụng chỉ số Shanghai đại diện cho chỉ số TTCK của Trung Quốc. Dữ liệu trong
phân tích được thu thập hàng tháng từ tháng 1 năm 1992 đến tháng 12 năm 2008.
Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu là mô hình tổng quát tự hồi quy phương
sai có điều kiện thay đổi dạng mũ (EGARCH) và mô hình phương sai bổ sung độ trễ. Dựa
trên các dữ liệu, nghiên cứu này thực hiện dự toán biến động của mỗi biến bằng cách sử
dụng mô hình AR-EGARCH. Sau đó, sử dụng mô hình LA-VAR để phân tích các mối
quan hệ nhân quả giữa sự biến động chỉ số giá chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô.
Kết quả cho thấy rằng không có mối quan hệ nhân quả giữa biến động TTCK và
biến động của GDP thực, nghĩa là giá cổ phiếu không có ý nghĩa đáng kể trong việc giải
thích GDP thực và ngược lại. Tuy nhiên, biến động lạm phát và biến động TTCK có mối
quan hệ nhân quả song phương, nghĩa là tồn tại của một hiện tượng phản hồi giữa chỉ số
giá tiêu dùng của Trung Quốc và giá cổ phiếu. Trong khi đó tồn tại mối quan hệ nhân quả
một chiều từ biến động TTCK đến biến động lãi suất. Điều này cho thấy giá cổ phiếu phải
phản ánh kỳ vọng về hiệu quả của công ty trong tương lai. Ngược lại, lợi nhuận doanh
nghiệp nói chung có thể phản ánh mức độ của các hoạt động của nền kinh tế đất nước.
Như vậy, giá cổ phiếu phản ánh chính xác các nguyên tắc cơ bản, sau đó giá cổ
phiếu nên được sử dụng như các chỉ số hàng đầu của các hoạt động kinh tế trong tương lai.
Tuy nhiên, những kết quả cho thấy, ngoại trừ cho tỷ lệ lạm phát, TTCK Trung Quốc
không phản ánh những thay đổi của các biến số kinh tế vĩ mô như GDP thực và lãi suất.


Rida Habbash “Investigating the Relationship between Stock Market Returns
and Macroeconomic Variables: Evidence from Developed and Emerging
Markets”, 2011
Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và giá chứng

khoán đối với thị trường phát triển và thị trường đang nổi lên trong giai đoạn từ tháng 1
năm 2002 đến tháng 12 năm 2008. Các biến kinh tế vĩ mô được nghiên cứu bao gồm: hoạt
động kinh tế thực tế, lạm phát, lãi suất, cung tiền và tỷ giá hối đoái. Chỉ số giá tiêu dùng là
biến đại diện cho lạm phát. Biến cung tiền được sử dụng là M2. Tỷ giá hối đoái được đo
bằng đồng nội tệ cho mỗi đồng đô la Mỹ. Chỉ số sản xuất công nghiệp là biến đại diện cho


16

hoạt động kinh tế thực. Trái phiếu kho bạc 3 tháng là biến đại diện cho lãi suất. Các dữ
liệu của nghiên cứu bao gồm giá đóng cửa hàng tháng của TTCK ở 16 nước mới nổi và 16
nước đang phát triển, cũng như chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, tỷ giá hối đoái, lãi suất, chỉ
số sản xuất công nghiệp.
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng các phương pháp thử nghiệm khác nhau bao
gồm cả kiểm định quan hệ nhân quả Granger và kiểm định đồng liên kết bảng Pedroni.
Kiểm định này thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu từ 16 thị trường phát triển (Australia,
Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Hồng Kông, Nhật Bản, New Zealand, Bồ
Đào Nha, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ ) và 16 thị trường
mới nổi ( Argentina, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Cộng hòa Séc, Hungary, Ấn
Độ, In-đô-nê-xi-a, Malaysia, Mexico, Philippines, Ba Lan, Nga,Thái Lan, và Thổ Nhĩ Kỳ).
Cấu trúc của TTCK mới nổi khác với thị trường phát triển nên biến động chỉ số TTCK
mới nổi có thể phản ứng khác nhau với các biến kinh tế vĩ mô so với các thị trường phát
triển. Do đó, nghiên cứu này để phát hiện sự khác biệt trong phản ứng của biến động giá
chứng khoán đến sự biến động các biến kinh tế vĩ mô giữa thị trường mới nổi và phát
triển.

1% (giảm) trong sản xuất công nghiệp sẽ dẫn đến tăng (giảm) 2,761% các chỉ số chứng
khoán Bovespa. Tăng (giảm) 1% lãi suất cho vay sẽ dẫn đến giảm (tăng) 0,924% chỉ số
chứng khoán Bovespa. Nếu chỉ số giá cổ phiếu thị trường Mỹ tăng (giảm) 1%, chỉ số
chứng khoán bovespa sẽ tăng (giảm) 0,717%, cho thấy rằng TTCK bovespa thay đổi tỷ lệ
ít hơn so với chỉ số TTCK Mỹ.
Độ co giãn ước tính -0,291 đối với tỷ giá đối đoái cho thấy rằng nếu thực sự Brazil
mất giá (đánh giá cao) 1% chỉ số chứng khoán Bovespa sẽ giảm (tăng) 0,291%. Điều này
ngụ ý rằng những tác động tiêu cực trên vốn quốc tế chảy vào Brazil, chi phí nhập khẩu và
giá trong nước lớn hơn so với tác động tích cực vào xuất khẩu. Như vậy, trong việc xem
xét các chính sách tỷ giá hối đoái, ngoài tác động thông thường trên xuất khẩu ròng, hiệu
ứng tiền năng khác cần được xem xét.


18

Đồng thời chỉ số chứng khoán Bovespa của Brazil cho thấy có mối quan hệ cùng
chiều với sản xuất công nghiệp, tỷ lệ của cung tiền M2 với GDP và chỉ số TTCK Mỹ, và
có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất cho vay, khấu hao thực tế Brazil, tỉ lệ lạm phát
của Brazil và tỷ lệ quỹ liên quan Mỹ. Chính sách tiền tệ của Mỹ sẽ ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động của TTCK Brazil. Hiệu ứng lây lan từ TTCK Mỹ đến TTCK Brazil là đáng
kể. Tiền khấu hao có thể giúp khu vực xuất khấu nhưng sẽ làm tổn thương TTCK.


Yu Hsing, Southeastern Louisiana University, USA“Effects of Macroeconomic
Variables on the Stock Market: The Case of the Czech Republic” 2011
Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa các chỉ số TTCK Czech và các biến số

kinh tế vĩ mô. Dữ liệu được thu thập từ cục thống kê tài chính Quốc tế và Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF) trong khoảng thời gian từ quý 1- 2002 đến quý 2-2010.
Áp dụng mô hình GARCH, bài này cho thấy rằng chỉ số TTCK Czech có mối quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status