THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM SINGAPORE - Pdf 67

THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM
SINGAPORE
2.1. Thực trạng quan hệ thương mại
2.1.1. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore
Từ năm 2000, Singapore giảm dần nhập khẩu những mặt hàng
nguyên liệu thô, sơ chế, nguồn gốc từ sản phẩm nông, lâm nghiệp,thực
phẩm, bởi những mặt hàng này vừa tốn nhân lực, lại kém hiệu quả khi
tái xuất khẩu. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, kim ngạch
những mặt hàng trên chưa lớn lắm, nhưng hướng lâu dài sẽ trở thành
nhóm mặt hàng tiềm năng có thể làm tăng kim ngạch, khối lượng xuất
khẩu với mức trung bình khoảng 1 tỷ USD/năm. Dưới đây là những số
liệu diễn tả cụ thể kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore
trong giai đoạn 2000-2007
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
KNXK 885,9 1.043,7 961,1 1.024,5 1.360,0 1.800,0 2.000,0 2.202,0
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore
(Nguồn Trade Development Board Singapore, đơn vị: triệu USD)
Theo bảng số liệu trên ta thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Singapore nhìn chung đều có xu hướng tăng lên tuy trong giai
đoạn 2001- 2002 có sự suy giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
tài chính từ vụ tấn công 11/09/2001 ở Mỹ.
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore đạt
1,8 tỷ USD, chiếm 0,91% tổng kim ngạch nhập khẩu của Singapore.
Trong đó, dầu mỏ chiếm khoảng 78% và các mặt hàng khác chiếm
khoảng 22% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Ngoài dầu thô, các mặt hàng
xuất khẩu có kim ngạch khá là: Giầy dép (57,1 triệu USD, tăng 13,7%);
máy xử lý dữ liệu (29,4 triệu USD, tăng 33,9%); cá tươi & đông lạnh
(18,3 triệu USD, giảm 8,8%); và các thiết bị mạch điện (12,9 triệu USD,
giảm 35,3%).
Ngoài ra, có một số mặt hàng tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu rất cao
nhưng trị giá xuất khẩu vẫn còn nhỏ, như: Đồ gỗ tăng 20,3% nhưng kim

nồi hơi và máy móc, v.v.. 78,00 44%
Máy xử lý dữ liệu tự động,
đầu đọc quang (69,6%); bộ
phận máy móc (7,7%); bộ
phận và thiết bị máy vi tính,
máy văn phòng (5,7%); bơm
không khí, chân không, nắp
chụp quạt (4,4%); nồi hơi
nước/hơi khác, nồi hơi quá
nhiệt(1.6%)
Giày dép, ghệt và sản
phẩm tương tự, và bộ
phận
63,93 31%
Giày dép có mũ bằng da (52%);
Giày dép khác (30%); giày dép có
đế ngoài bằng nguyên liệu dệt
(14,2%); giày dép có đế ngoài
hoặc mũ bằng cao su, chất dẻo
(3,2%); Giày ko thấm nước, có đế
ngoài/mũ bằng cao su/chất dẻo,,
(0.2%)
Thiết bị điện, điện tử
58,78 13%
Biến thế điện (17,7%); mạch điện
tử tích hợp và vi mạch điện tử
(16,5%); động cơ điện và máy
phát điện (13,8%); bộ phận
chuyên dùng cho bo mạch, cầu
chì…(11,2%); máy thu truyền

2005
2006 2007
KNNK 2.694,3 2.478,3 2.533,5 2.878,2 3.440,0 4.300,0 5.700,0 8.101,0
Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore trong
giai đoạn 2000-2007
(Nguồn Trade Developvement Board Singapore, đơn vị: triệu USD)
Tính đến hết năm 2004, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt
Nam và Singapore đạt khoảng 4,8 tỷ USD, trong đó kim ngạch nhập
khẩu của Việt Nam từ Singapore là 3,44 tỷ USD. Các mặt hàng nhập
khẩu chủ yếu từ Singapore là phân bón, xăng dầu, máy móc thiết bị phụ
tùng, đồ uống có cồn, vật tư ngành ảnh……
Năm 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và
Singapore chiếm 1,45% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore
với thế giới, trong hàng Việt Nam nhập khẩu từ Singapore chiếm 1,93%
tổng kim ngạch xuất khẩu của Singapore. Cùng năm này, Việt Nam
nhập khẩu của Singapore tăng mạnh lên tới 37,2% so với năm 2004.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: Các sản phẩm dầu mỏ (trên 2,1 tỷ
USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ 2004) chiếm trên 49,3% tổng kim
ngạch nhập khẩu); phụ tùng máy xử lý dữ liệu văn phòng (trên 155 triệu
USD, tăng 85,2%); nguyên liệu sản xuất thuốc lá (trên 134 triệu USD,
tăng 40,7%); máy xử lý dữ liệu (123,5 triệu USD, tăng 1,9%); và các
thiết bị cơ khí công trình (99,5 triệu USD, tăng 42,1%)....
Điều đáng lưu ý là trong tổng kim ngạch 4,3 tỷ USD Việt Nam nhập
khẩu của Singapore, chỉ có 2,6 tỷ USD là hàng sản xuất tại Singapore,
còn lại khoảng 1,7 tỷ USD là hàng Singapore nhập của các nước khác
rồi tái xuất sang Việt Nam.
Năm 2006 đánh dấu việc Việt Nam trở thành thị trường xuất khẩu
lớn thứ 14 của Singapore, với kim ngạch xuất khẩu từ nước này sang
Việt Nam đạt 5,7 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2005.
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Singapore đạt 8,1 tỷ USD tăng

cạnh tranh xâm nhập thị trường một cách bền vững, lâu dài, nhất là đối
với Singapore một thị trường mang đậm đặc thù chuyển tải, tái xuất.
Về nhập khẩu, ngoài sản phẩm hóa dầu chiếm tỷ trọng lớn, Việt
Nam nhập khẩu của Singapore chủ yếu là các mặt hàng: máy móc thiết
bị, nguyên phụ liệu cho sản xuất cho hàng xuất khẩu. Nhập khẩu hàng
tiêu dùng chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Trong điều kiện nền kinh tế của nước
ta hiện nay, cơ cấu xuất nhập khẩu này là có thể chấp nhận được.
Nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam- Singapore, ta có thể
thấy được một số thuận lợi cho Việt Nam trong việc phát triển quan hệ
giữa hai quốc gia như:
+ Hai mặt hàng của Việt Nam có triển vọng trên thị trường
Singapore là hàng thủ công và đồ gỗ. Bên cạnh đó, các mặt hàng nông
sản, hải sản, hàng hoá sử dụng trong gia đình, do có truyền thống sản
xuất đạt chất lượng yêu cầu nên trong tương lai, Việt Nam vẫn có thể
tiếp tục xuất sang thị trường Singapore.
+Việt Nam có thể tận dụng lợi thế của Singapore về vị trí địa lý và
thế mạnh về kinh tế nhằm đẩy mạnh các hoạt động giao thương của
mình với thế giới bên ngoài. Hơn nữa Singapore lại có quan hệ giao thương tốt đẹp
với thị trường thế giới. Các nhà sản xuất Việt Nam nên tận dụng mạng lưới này của Singapore để mở
rộng quan hệ thương mại với các thị trường khác, đặc biệt là các mặt hàng hải sản, may mặc và cao
su.
+Singapore là thị trường xuất nhập khẩu hoàn toàn tự do, 96%
hàng hóa xuất nhập khẩu không có thuế (thuế suất = 0); Chính phủ
không sử dụng những rào cản như biện pháp hạn chế thương mại; cơ
sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu (như thanh
toán, trọng tài thương mại, cảng khẩu …). Điều này là một thuận lợi lớn
cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu.
+ Vì các sản phẩm của Việt Nam và Singapore mang tính chất bổ
sung cho nhau nên hầu như là không có sự cạnh tranh. Đây là điểm

hoá của họ bị hải quan Việt Nam giữ lại quá lâu. Và họ gặp nhiều khó
khăn trong việc tìm kiếm đối tác/đại lý thương mại Việt Nam. Bên cạnh
đó việc cấp phép XNK hàng hóa còn khá chậm.
+ Singapore còn có nhiều hạn chế đối với việc nhập khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status