Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI NGỎ
CÙNG BẠN ĐỌC
Bạn đọc thân mến!
Trên tay bạn đã có Tập san “Nâng
cánh ước mơ” số 5 rồi đó. Một năm chỉ
có một dịp để bạn được suy ngẫm và thả
hồn theo con chữ của những tác giả tài
hoa gần gũi nhất bên bạn. Số báo là nơi
hội tụ, kết tinh tài năng, trí tuệ, công sức,
nơi gặp gỡ tâm tình ấm cúng của cả thầy
và trò trường THCS Thái Nguyên qua
các thế hệ. Những bông hoa đồng nội
ngày nào giờ đã thêm hương thêm sắc tự
tin khoe mình dưới ánh nắng ban mai
rực rỡ.
Cách đây vừa tròn 4 năm, 20-11-2006
tập san “Nâng cánh ước mơ” đầu tiên ra
mắt bạn đọc với bao niềm vui, bỡ ngỡ,
mong đợi và cả sự hồi hộp lo âu. Những
trang báo tuy đơn sơ mộc mạc nhưng lại
chính là món quà vô giá thể hiện lòng tri
ân tới các thầy cô giáo, những người lái
đò đưa thế hệ trẻ cập bến tương lai. Bốn
số báo qua, đã gói ghém biết bao cảm
xúc đẹp đẽ, tinh khôi, vẹn nguyên ấm áp
bao la tình người. Theo dòng thời gian
tờ báo càng ngày càng lớn hơn cả về nội
dung và ý nghĩa. “Nâng cánh ước mơ”
được lấy cảm hứng từ ý của câu hát “Ai
5 năm, 10 năm, hoặc 20 năm nữa nhìn
lại bạn cũng như tôi thấy mình ngờ
nghệch đáng yêu biết nhường nào. Nếu
có ước muốn được tìm lại cảm xúc vẹn
nguyên như thế chắc chẳng thể nào
đâu… Sáng tác của các em ngày một
thêm hay thêm ý nghĩa. Đồng nghĩa với
việc đó là sự đầu tư cho trang báo cũng
công phu hơn, chắt lọc hơn, trau chuốt
hơn. Tất cả đang khởi sắc và chuyển
mình.
Chúng tôi đã đồng hành cùng bạn đọc
và các số báo suốt mấy năm qua. Là
người thầy người cô đang dạy dỗ các
em, chúng tôi đáng tự hào lắm khi được
đón nhận ở học trò thân yêu của mình
biết bao lời tôn vinh ca tụng. Những
hình ảnh đẹp nhất, những vần thơ hay
nhất, những con chữ ý nghĩa nhất các em
đều dành để ca ngợi thầy cô. Thật là cảm
động. Trong số báo này có những bài
viết của các học trò đang học tập dưới
mái trường THCS Thái Nguyên, có
- 1 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
những bài viết của các em đã xa trường,
hướng về trường thân yêu. Thầy cô xin
ghi nhận tất cả tình cảm bao la ấy.
Chúng tôi mong rằng trên bước đường
Mong rằng các bạn luôn là độc giả trung
thành nhất của trang báo.
BAN BIÊN TẬP
TẢN MẠN NHÂN NGÀY NHÀ
GIÁO VIỆT NAM 20.11
Dân tộc ta vốn có truyền thống Tôn
Sư Trọng Đạo. Truyền thống ấy đã ăn
sâu vào nếp nghĩ, cách sống và cách đối
nhân xử thế của người Việt. Ca dao xưa
còn ghi lại những lời lẽ người ta nhắc
nhau:
“Sang sông phải bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”
Quả thực như vậy. Làm thầy trách
nhiệm lớn lao lắm. Nếu không được xã
hội tôn vinh tự nhiên thấy lòng mình
hẫng hụt vì ở mỗi người thầy cái giàu có
và đạt được nhiều nhất đó là tình cảm.
Có một thuở nhiều ý kiến cho rằng:
không nên ví nghề dạy học như người
đưa đò cho khách sang sông vì nghe nó
phũ phàng quá. Nhưng tri thức dân gian
đúc kết từ chiêm nghiệm của muôn mặt
đời thường, nó vẫn có cái lý riêng của
nó. Người chèo đò tận tuỵ với mỗi
chuyến đò đầy cùng bao nhiêu khách
sang sông ai mà nhớ hết. Nhưng ai đã
từng một đôi lần trong cuộc đời mình đi
Có giọt mồ hôi và dấu tay mình ấp ủ
Lặng thầm nói với mai sau
Mải miết đôi tay đầy bụi phấn trắng phau
Như nhà nông bốn mùa lấm láp
Viên phấn tự mất đi để đâm chồi sự thật"
Sự ví von này lại cũng có cái lý của
nó mặc dù hai nghề nghiệp này có đặc
điểm hoàn toàn khác nhau. Nhưng có
sao đâu, dù nghề gì, muốn tinh cũng cần
sự tận tuỵ, dù có là lao động giản đơn
hay phức tạp cũng phải "nhất nghệ tinh"
mới "nhất thân vinh". Chính cái hết lòng,
cái lặng thầm, cái bụi phấn lấm láp như
bùn đất kia đã khiến nghề nông rất gần
với nghề giáo. Hơn thế nữa, nghề nông
gắn liền với hạt giống, với ươm mầm, đó
chính là cái "hạt chữ" mà người thầy
giáo gieo ngay trên trang giấy trắng với
những nét mực đen, và gieo cả vào trang
vở lòng trắng trinh của lớp lớp học trò.
Có lẽ chính từ mối liên tưởng gieo mầm,
ươm giống, làm nên những chồi xanh hi
vọng ấy mà Hồ Chí Minh từng khái quát
"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"
như một chân lý vĩnh hằng.
Dẫu ở thời đại nào đi chăng nữa, nếu
xét về vật chất thì nghề dạy học luôn là
một nghề nghiệp nghèo nhất trong
những nghề cần tri thức. Nhưng đâu phải
- 3 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
TRANG SÁNG TÁC CỦA THẦY CÔ
CÔ HOÀ
TRUYỆN NGẮN
Bà Hoà đặt lá thư xuống bàn,
ngước mắt nhìn lên tờ lịch treo tường, đã
bước sang tháng 11 rồi, trời trở hanh se
lạnh. Bà đọc lại chiếc phong bì
Con Nguyễn Hồng Văn
Quận 10 TPHCM
Kính gửi Cô ...
Thời gian trôi đi nhanh thật, thấm
thoát đã hơn 20 năm ...
Ngày ấy bà còn trẻ lắm, cô giáo đẹp
người đẹp nết say sưa hết mực với nghề,
chồng là bộ đôị ở xa, chưa con cái nên
mọi thời gian cô dành hết cho trường,
cho lớp. Hoà được đồng nghiệp tin cậy,
với cô mỗi tiết đến lớp là một niềm vui.
Bức thư nào của Văn gửi cho bà
cũng chứa chan tình cảm nó luôn nhắc
đến những kỉ niệm khiến bà nhớ lại.
Buổi chiều hôm ấy cô giáo Hoà với
chiếc túi xách trong tay xuống nhà học
sinh kiểm tra “ góc họp tập”. Cô dự định
sẽ đến nhà Văn, cậu học sinh học khá,
đen, gầy, có đôi mắt biết nói và khuôn
nạn giao thông đột ngột qua đời.
- Cháu Văn nhà tôi từ đây phải vừa
học vừa phải thay cả bố lẫn mẹ quán
xuyến việc gia đình cô ạ.
Chị ngừng kể mệt mỏi dựa mình
vào thành giường hai mắt ầng ậng nước.
- Em có lỗi với chị, với em Văn.
Thật vô tâm, thấy em Văn ngoan, chăm
học, học khá, chỉ có điều khi giao làm
lớp trưởng Văn xin kiên quyết từ chối.
Em đâu ngờ Văn lại chịu nhiều thiệt thòi
đến thế. Em hứa từ nay sẽ gần gũi, động
- 4 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
viên em nhiều hơn. Chị yên tâm dưỡng
bệnh
Tiếng động của chiếc mo cau rơi
xuống sân làm Hoà như sực tỉnh. Bà giở
lá thư đọc tiếp. “ Cô ơi chiếc quần cô
chữa từ quần của chú cho con, con ngại
màu xanh Tô Châu phải đem nhuộm bùn
rồi mới giám mặc đi học, con còn giữu
cẩn thận, chờ khi con của con lớn con
sẽ mặc thử cho nó và kể về lai lịch chiếc
quần như một chuyện cổ tích thời hiện
đại cho nó nghe chắc cháu ngạc nhiên và
cảm động lắm cô nhỉ? Mẹ con giờ khoẻ
rồi, bà đã kể bao nhiêu lần cho vợ con
nghe về cô. Cô ơi con xin báo cho cô
Từng nét mặt đăm chiêu
Như muón nói mọi điều
Về bài thơ thầy đọc
“Thầy ơi em muốn học
Môn Văn thầy giảng hay
Chúng em hứa hăng say
Chất lượng cao kì này
Vượt bình quân của huyện”
Tôi nghẹn ngào lưu luyến
Muốn nghe mãi không thôi
Giờ học kết thúc rồi
Xin giờ sau thầy nhé!
Cô giáo Đoàn Thị Hợp
Cô-trò đồng nghiệp
Ba hai năm ở trong nghề
Năm nay dạy phải 7B chán chường
Trong lớp nhiều trò ẩm ương
Vào lớp “đánh vật” biết nhường ai đây?
Trò cũ nay đã làm thầy
Thấy cô vất vả em rày nên thương
“Cô ơi em đã tỏ tường
Em dạy lớp đó ở trường giúp cô”
Lời nói đó tưởng ngây thơ
- 5 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mà trong tâm thức thương cô thực lòng
“Em ơi cô vẫn hằng mang
“Lái đò chở khách” qua sông suót đời
Đến nay cô nở nụ cười
Thời gian qua mùa thu nay có khác
Bao chuyến đò qua chốn ấy sông sâu
Nghĩa thầy cô một đời không trả hết
Dẫu đời con qua biết mấy nhịp cầu.
Trang giáo án bao năm thầy vẫn mở
Mà tập bài thầy đã chấm khác xưa
Chúng con đi, biết khi nào về lại
Có bao giờ tìm được thủa thơ ngây…
Mùa thu qua, bụi thời gian rơi rắc
Nên tóc thầy một sáng bỗng bạc thêm
Trời xanh vẫ bình yên ngoài cửa lớp
Chữ nghĩa tình muôn thủa chẳng nguôi
quên.
Cô giáo Nguyễn Thị Quy
TÌNH CÔ GIÁO
Tặng học trò của cô Chuốt
“Cô mong rằng em mãi là trò ngoan
Trong sáng vô tư hồn nhiên mơ mộng.
Giữ cho tâm hồn luôn tươi trẻ,
Mãi sáng trong cái tuổi học trò”
“ Em tin rằng cô cũng rất yêu em
Tình em nguyện dành cho cô mãi mãi …
Nếu chia hai ,em xin làm trọn vẹn
Tình Mẹ -Cô, em hứa sẽ đong đầy”
Khi bến sông quê chưa có “ Cầu Kiều”,
Cô vững lái con đò trong đêm tối
Ánh sao khuya sẽ soi đường chỉ lối
Giúp học trò vươn tới những tầm cao.
Thật tự hào hạnh phúc biết bao,
Cô đã đưa bao trò đến bến
Cho ngi hng xúm nờn cõu chuyn
ci.
ng nghe anh !!! Vi ngi ngoi...
Xinh ti thiờn h, ca ri khú cm
C ụ giỏo Nguyn Th Hong Anh (st)
Anh
Anh con ngời đáng yêu
Hay vô cùng đáng sợ
Anh con ngời nhẫn tâm
Hay là ngời nhân từ
Anh tất cả trong em
Hay không là gì cả
Anh là ai trong hai con ngời ấy?
Anh đã đến để đời em biến động
Nỗi buồn vui chợt đến, chợt đi
Bao kì vọng rồi vỡ oà trong mộng
Em gục đầu đi vào ảo mộng
Có bao giờ anh thơng hết em đâu?
Buồn da diết in sâu trong khoá mắt
Và bao đêm khổ tủi một mình
Em bàng hoàng trớc cuộc đời trôi nổi
Mới chợt hiểu
Anh trong em mãi mãi.
Nguyễn Thị Ninh
Chia tay với trờng Thái Học
Gắn bó với trờng đợc thế thôi,
Chữ tình bỗng chốc bẻ làm đôi.
miền
Ở nơi đâu có thầy luôn thương nhớ
Khi thầy về nghỉ hưu
Cây phượng già treo mùa hạ trên cao
Nơi bục giảng giọng thầy sao chợt thấp:
"Các con ráng… năm nay hè cuối
cấp…"
Chút nghẹn ngào… bụi phấn vỡ lao xao.
Ngày hôm qua hay tự tháng năm nào
Con nao nức bước vào trường trung học
Thương cây lúa hóa thân từ hạt thóc
Thầy ươm mùa vàng, đất vọng đồng
dao.
Mai thầy về, sân trường cũ nằm đau?
Hay nỗi nhớ lấp vùi theo cát bụi?
Dẫu cay đắng, dẫu trăm nghìn đau tủi
Nhọc nhằn nào thầy gửi lại ngày sau?
Mai thầy về, mùa gọi nắng lên cao
Vai áo bạc như màu trang vở cũ
Con muốn gọi sao lòng đau nghẹn ứ
Đã bao lần con ngỗ nghịch thầy ơi!
Cô giáo Đào Thị Hồng Tuyên
- 8 -
Tp san s 5 Nõng cỏnh c m - Ra ngy 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khụng
Cm bỳt lờn nh vit mt bi th
Cht nh ra nay l ngy nh giỏo
Cht xu h cho nhng ln cao ngo
chỉ đơn thuần có tác dụng chỉ ra những
cái đợc cần phát huy, cái yếu kém cần
khắc phục mà hơn thế nữa lời phê của
thầy còn có tác dụng động viên khích
lệ học trò nỗ lực phấn đấu tu dỡng đạo
đức và trí tuệ.
Tôi còn nhớ trong một bài báo đăng
trên văn học và tuổi trẻ nói về lời phê
của thầy giáo dạy toán ở lớp chuyên
văn, để động viên các em cần quan
tâm chăm chỉ học toán nh học văn
thầy đã phê rằng:
"Nay ở trong văn nên có toán
Nhà văn cũng phải biết nhân chia."
Ngẫm ra, thực tế hiện nay học sinh
không mặn mà gì với chuyện học văn
nếu không muốn nói là các em chán
ghét môn văn. Nguyên nhân có không
ít cả chủ quan và khách quan mà
- 9 -
Tp san s 5 Nõng cỏnh c m - Ra ngy 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
chúng ta cũng đã bàn đến rất nhiều.
Tôi chỉ nghĩ rằng trong vấn đề học
sinh không yêu thích môn văn cũng có
một nguyên nhân là các thầy dạy văn
cha thực sự biết cách làm cho học sinh
yêu thích, cha khơi dậy đợc niềm ham
mê hứng khởi ở các em mà thôi. Ngời
ta thờng nói "văn học là nhân học",
xèo ra", "Vì bị em lay gốc nên từ đang
xanh tốt hôm sau trông cây đã phờ
phạc, lử đử". Tôi không nhịn đợc cời
khi chấm bài của em. Cái cời mà chỉ
có những thầy dạy văn mới đợc học
sinh tặng cho. Tôi bèn phê cho em
mấy câu:
"Thầy cha đợc thấy bao giờ
Cau kia lại hoá ra dừa đợc sao?
Bài này em tính thế nào
Điểm thấp chẳng nỡ điểm cao sao
đành
Em về viết lại cho nhanh."
Đến năm nay, tôi lại bắt gặp hai tr-
ờng học sinh lớp 9 mà viết chữ vẫn
không ra hồn. Tôi giận và cũng buồn
đau lắm. Nhng cũng vẫn phải nhẫn tâm
khuyên nhủ các em bằng lời phê nhẹ
nhàng:
"Văn hay chữ cũng phải hay
Văn đâu cha thấy chữ này rất nguy
Em ơi rèn chữ tức thì
Bài này em tính điểm gì- thầy cho?"
Dạy văn, học văn, chấm văn
có biết bao niềm vui, nỗi buồn. Đó là
chuyện muôn thuở. Tôi lại chợt nhớ
đến những câu thơ của giáo s Lê Trí
Viễn:
"Lạ gì cái chuyện văn chơng
Một câu một chữ khôn lờng chiều sâu
rng long, vi ngi ph n H thnh
i cỏc th xa, chng b, nh vn
Tụ Hoi vn l ngi say i, say vit.
Bõy gi dự mt Tụ Hoi ó khụng cũn
tinh tng, mun xem tin tc phi cú
ngi c bỏo giỳp, chõn tay ụng lm
mi vic u khú khn, nhng tt ny
vn vit c hai bi bỏo. Trc õy
ụng ch vit trong mt ngy, nhng gi
õy cú hai bi bỏo cha y 3000 ch
ụng phi vit nú trong c thỏng. Nhng
ụng y hoan h lm, b Cỳc k.
Ngi ph n i cỏc Nguyn Th Cỳc
th xa gi vn p. B k rng, khi
nhỡn thy Tụ Hoi ln u tiờn trong dp
ụng v nh cựng vi anh trai mỡnh, b ó
nhn thy s khỏc thng ca ngi
thanh niờn y. Nhỡn ụi dộp cao su mũn
vt lm b tin ngay li anh trai k, ụng
y ó i b nhiu nm t nh lờn trng
ph Hng Than hc. Anh y ch
mc mt b c k duy nht y trong
nhiu ln n nh tụi. V cụ gỏi lóng
mn thớch th v hay c truyn y hiu
rng, ngi n ụng ny cú chớ, nht
nh s lm nờn s nghip.
Ngy quen nhau Tụ Hoi ó cú D
mốn phiờu lu ký, b Cỳc k. Nhng
ngy ú vn chng ca ụng cha ni
là cách ông Phan giúp cho Tô Hoài luôn
vững một niềm tin để viết”. Chính vì thế
cho đến bây giờ những người con của
ông Phan như Vũ Tuyên Hoàng, Giáng
Hương đều coi gia đình Tô Hoài như
những người thân, bà Cúc kể.
Tô Hoài tính tình lành lắm. Sự lành
hiền mà theo bà Cúc thường mang theo
đi của vợ con ông nhiều cơ hội tốt. Bà
Cúc kể, cái nhà ở Đoàn Nhữ Hải ông có
được bây giờ là nhờ bạn, nhà ở Nghĩa
Đô cũng do một người giúp đỡ tận tình
mà có. Cứ như ông ấy thì không khéo
chẳng có nhà để ở.
Cũng vì sự liêm khiết và luôn làm
những điều mà mình cho là đúng nên cái
thời người ta đi nước ngoài còn là cả
niềm mơ ước, có thể làm giàu sau mỗi
chuyến đi thì quà ông “Dế mèn” mang
về cho vợ chỉ là một xâu ớt cay. Món
quà giá trị nhất bà Tô Hoài nhận được từ
chồng mà bà vẫn giữ đến giờ là một
chiếc áo dài ông mua tặng bà sau một
chuyến đi Lào. Tất nhiên bà không giận
ông về những điều đó, bởi bà hiểu không
có ai hoàn hảo, và cuộc đời bà được ông
bù đắp bằng những niềm tin mạnh mẽ
hơn.
Tô Hoài đã đi không biết bao nước,
đến hầu khắp tất cả các vùng ở Việt
hồng bụt". Ông nói, râm bụt là tả lá,
"rậm rạp" - theo cách giải thích của cụ
Nguyễn Lân, còn người Nghĩa Đô gọi
loài cây này theo hoa, là cây hồng bụt.
Ông nói, Cụ Hồ quý loài hoa này lắm, vì
quê Cụ có rất nhiều. Cụ Hồ cho trồng
nhiều râm bụt quanh nơi ở, "vì thèm nhớ
quê hương". Về cuối đời, Tô Hoài nói
ông học Tolstoy, lại trở về viết cho trẻ
em, viết cho tâm hồn còn trắng như tờ
giấy của chúng.
1.000 năm Thăng Long, Tô Hoài cộng
tác với nhiều NXB và sẽ cho ra mắt
hàng loạt tác phẩm trong thời gian tới,
như "Nhà Chử", "Quê nhà - quê người",
"Miếu Đồng Cổ"... Còn NXB Kim Đồng
vừa mới cho ra mắt tập "Chuyện ngày
xưa" của ông, tinh tuyển 100 truyện cổ
tích tuyệt vời nhất mà chính Tô Hoài
yêu mến và muốn kể lại cho trẻ em
nghe. Ông nói, ông đã viết chúng bằng
thứ ngôn ngữ đẹp như thơ. Về Tấm
Cám, ông bỏ đi chi tiết Tấm ướp mắm
Cám; về Mỵ Châu - Trọng Thủy, ông
lược đi chi tiết vua Thục chém con gái
khi giặc đuổi đến gần mà cả hai cha con
đều nhảy xuống biển quyên sinh... Ông
muốn viết lại những câu chuyện cổ tích
theo cách của Tô Hoài - người một đời
cầm bút.
bảng nối đời phụng sự quốc gia; toàn xã
có tới 22 tiến sĩ kể từ thời nhà Trần đến
nhà Nguyễn.
-Làng Kim Điền, Bắc Ninh nổi danh có
nhiều thiếu nữ đẹp. Nhiều bộ phả của
các dòng họ làng Hoa Thiều và toàn xã
Ông Mặc có nói về gái vùng này thường
được kén chọn vào cung vua làm phi,
thiếp.
Mẹ của Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần
(1740 - 1778), con gái quan Câu kê họ
Trần ở làng Hoa Thiền huyện Đông
Ngạn xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc
Ninh), vợ thứ ba của tể tướng Nguyễn
Nghiễm, nhỏ hơn chồng 32 tuổi, thuộc
hệ thứ 11 theo bản phả họ Trần ở Hoa
Thiều và bản phả của họ Nguyễn ở Tiên
Điền. Tể tướng Nguyễn Nghiễm có vợ
cả, vợ hai là hai chị em ruột họ Đặng:
Đặng Thị Dương và Đặng Thị Thuyết.
Nguyễn Nghiễm có tất cả 8 vợ và 21
người con. Tể tướng Nguyễn Nghiễm
kết duyên với Trần Thị Tần sinh được 4
trai, 1 gái, theo thứ tự: Nguyễn Trụ,
Nguyễn Nễ, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn
Du và Nguyễn Ức.
Quê cha: Cha của Nguyễn Du là Nguyễn
Nghiễm (1708 - 1775), quê làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, Phủ Đức
Quang, trấn Nghệ An (nay là tỉnh Hà
hầu, Mộ Nguyễn Du... Cụm di tích và
khu lưu niệm Nguyễn Du bao gồm khu
lưu niệm Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn
Huệ (Anh cả của Nguyễn Nghiễm, bác
ruột Nguyễn Du), mộ và đền thờ
Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Du),
nhà thờ Nguyễn Trọng (chú ruột Nguyễn
Du) và khu mộ Nguyễn Du.
Từ Tiên Điền nhìn qua Xuân Mỹ, thấy
núi Hồng Lĩnh đứng sừng sững mé Tây-
Nam. Vì thế nên Nguyễn Du đã lấy biệt
- 14 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
hiệu “Nam hải điếu đồ”, “Hồng Sơn lạp
hộ”; và câu đối truyền tụng đời này qua
đời khác ở Tiên Điền:
Hồng Sơn chi ngoại uất giai khí, Vị
Thủy chi kim thành đại giang.
(Hồng sơn đất ngoại kết tụ được khí tốt -
Vị Thủy đến nay đã thành sông rộng)
Cha của Nguyễn Du đậu Nhị Giáp Tiến
Sĩ, làm quan tới chức Đại Tư Đồ, tể
Tướng (thủ tướng) dưới triều đại Lê
Hiển Tông (1740-1786).. Con trai
trưởng của Nguyễn Nghiễm là Nguyễn
Khản đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm tới chức
Tham Tụng đời chúa Trịnh Khải. Con
thứ hai là Nguyễn Điều đậu Hương
Cống, trấn thủ tỉnh Sơn Tây, được
đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn
Đạm.
Dòng họ này còn được người đời kính
trọng về lòng trung nghĩa. Tổ tiên thuở
xưa theo Nhà Mạc thì nhiều người tuẫn
tiết khi Nhà Mạc mất ngôi. Thời Lê, sau
khi Nhà Lê sụp đổ, mấy anh em Nguyễn
Khản, Nguyễn Điêu, Nguyễn Luyện,
Nguyễn Du cho đến cháu là Nguyễn
Đạm đều khởi nghĩa cần vương. Từ
Triều đại Tây Sơn sang tới thời Nhà
Nguyễn nhiều người trong họ không
chịu ra làm quan, kiên trinh giữ tiết với
chúa cũ theo đúng phương châm "Tôi
trung không thờ hai chúa".
Câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống hết
cây, Sông Lam hết nước họ này hết
quan”
là chỉ cái danh giá, chức quyền của làng
Tiên Điền, của dòng họ Nguyễn Du là
vậy.
Năm 1771, lúc Nguyễn Du 5 tuổi thì
gia đình chuyển về làng Tiên Điền và
năm lên 10 thì cha mất. Không hiểu vì
quá thương nhớ cha sinh bệnh rồi chết
hay vì một căn bệnh nào đó, mẹ cậu
cũng qua đời vào năm 1778, lúc mới 38
tuổi. Bị mồ côi cha mẹ, cậu phải ra
Thăng Long ở chung với người anh cả
- 15 -
-Đậu Nhị Trường: đậu Tú Tài I, lớp đệ
nhị thời VNCH; lớp 11 ngày nay.
-Đậu Tam Trường: đậu Tú Tài II, lớp đệ
nhất thời VNCH; lớp 12 ngày nay.
-Đậu Tứ Trường: đậu Cử Nhân.
Nguyễn Du lập gia đình, có 3 vợ và 18
con. Sau khi Nguyễn Du chết, gia đình
ly tán.
3- Trên đường công danh
Nguyễn Du không tiếp tục học và thi cử
nhân, mà theo chí hướng của người trai
thời chinh chiến nhận chức quan Thủ
Hiệu (Lãnh Binh) ở tỉnh Thái Nguyên,
thay cho người cha nuôi mới qua đời. Từ
đó, ông có tự là Tố Như, hiệu Thanh
Hiên (có tài liệu nói Trai Hiên), biệt hiệu
Hồng Sơn lạp hộ
Ngược dòng thời gian, trước khi Nguyễn
Du sinh ra thì Nhà Lê đã mất quyền
hành. Họ Trịnh thao túng chính trường.
Xã hội rối loạn là nguyên nhân đưa đến
các cuộc khởi nghĩa tranh dành quyền
lực. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu
Cầu và Nguyễn Danh Phương chưa tan,
thì Hoàng Công Chất nổi lên từ năm
1739 cướp phá ở miền Hưng Hoá và
Thanh Hoá. Lê Duy Mật nổi lên từ năm
1738 đóng giữ miền Trấn Ninh, thường
xuống đánh phá đất Nghệ Tĩnh. Các
cuộc khởi nghĩa mới dẹp yên thì năm
ấy vua Quang Trung đã lên ngôi nắm
vững quyền hành ở miền Bắc; nhưng ở
miền Nam lại bị thua to, đất Gia Định bị
mất về tay Nguyễn Ánh.
Nguyễn Du bị thất bại ở Quỳnh Côi mới
nẩy sinh ý nghĩ vào Thanh Nghệ Tĩnh,
toan tìm đường vào Nam mượn sức chúa
Nguyễn chống Tây Sơn. Ông đi tới Vinh
thì bị chận bắt và ở tù một thời gian.
May nhờ quan Trấn thủ Nghệ An của
Tây Sơn là người quen biết với Nguyễn
Nễ, người anh ruột cùng mẹ với ông.
Nguyễn Nễ đã ra hợp tác với nhà Tây
Sơn, được thăng Hàm Đông Các Đại học
sĩ, gia tăng Thái sử Thự tả Nghị lang,
tước Nghi Thành Hầu; nên Nguyễn Du
được thả. Đây là thời điểm khiến cho
một số tác giả cho rằng Nguyễn Du viết
truyện Kiều vào lúc đó, khi ông tròn 30
tuổi. Nhận định này dựa vào truyện Kiều
có câu: “Trải qua một cuộc bể dâu”.
Bể dâu xuất phát từ câu “thương hải tang
điền” (bãi bể (biển), nương dâu), theo
nghĩa đen thì truyện thần tiên có nói về
sự tuần hoàn trong vũ trụ cứ 30 năm
biển bồi đất thành ruộng dâu và 30 năm
ruộng dâu bị lở thành bể. Nghĩa bóng thì
cuộc đời của con người luôn thay đổi
(theo chu kỳ 30 năm).
Sau khi được thả, Nguyễn Du trở về làng
chính sứ đi Trung Hoa. Sau khi đi sứ về
ông được được thăng Lễ Bộ Hữu Tham
Tri vào năm 1815.
- 17 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đường công danh của Nguyễn Du với
nhà Nguyễn không trở ngại. Ông thăng
chức nhanh và giữ chức trọng, song
chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc
chí. Nguyễn Du sinh trưởng ở thời loạn
lạc, lại gặp cảnh nước mất nhà tan mà
mình không thể nào vãn hồi được, đành
phải ôm mối hận lòng. Mặc dù được
trọng dụng, nhưng Nguyễn Du không
mấy vui lòng nhận bổng lộc của triều
đình mới.
Sách Đại Nam Chính biên Liệt truyện
chép rằng ông làm quan hay bị người
trên đè nén, không được thoả chí, cho
nên thường buồn rầu. Sự kiện này xẩy ra
có thể vì đám quần thần miền Trung
ghen tị với Nguyễn Du, một cựu quan
chức đời Lê, người miền Bắc mà lại
được trọng vọng. Đối với vua mỗi khi
yết kiến ông làm ra vẻ sợ sệt, không biết
nói năng gì. Có lần vua đã trách rằng:
“Triều đình dùng người, cứ kẻ hiền tài là
dùng, chứ không phân biệt Nam Bắc.
Ngươi với Ngô Vị, đã được ơn tri ngộ
thần Hàn, Nhật... chắc họ Nguyễn đã tỏ
rõ được cái sở học uyên bác của mình.
Trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã
được tận mắt chứng kiến nhiều nỗi oan
trái và cuộc sống khổ ải của dân nghèo,
sau này đã được tập hợp lại trong tập thơ
mang tên Bắc hành Tạp lục (131 bài).
Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã
có dịp tìm hiểu sâu nền văn hoá Trung
Quốc. Với vốn sống đa dạng và tài năng
kiệt xuất của mình, sau khi về nước, ông
đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều,
lấy cảm hứng từ tập truyên của tác giả
Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân.
Truyện Kiều sau đó đã vượt lên trên
nguyên tác, trở thành một kiệt tác thơ
trong lịch sử văn chương Việt Nam.
Tháng Tư năm Giáp Tuất (1814),
Nguyễn Du cùng đoàn sứ thần về nước.
- 18 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trong chuyến đi, ông đã cho chọn giống
cây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn
An Hiên (Huế) hiện vẫn còn được người
dân nâng niu chăm sóc. Sau khi hoàn
thành trọng trách cùng với đoàn sứ bộ,
Nguyễn Du được thăng chức Lễ Bộ Hữu
Tham Tri.
Năm 1820, sau khi vua Gia Long chết,
dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở
trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy
(581-618), Đường (618-907) của phong
kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho
đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều
tên gọi.
1. Long Đỗ. - Truyền thuyết kể rằng lúc
Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp
Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự
xưng là Thần Long Đỗ. Do đó trong sử
sách thường gọi Thăng Long là đất Long
Đỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10
(1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý
Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên
muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ
Thanh Hóa. Khu mật chủ sự Nguyễn
Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói:
“Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh
đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất
Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô
Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao
sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Điều
đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi
đất Hà Nội thời cổ.
2. Tống Bình. - Tống Bình là tên trị sở
của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy
(581 - 618), Đường (618 - 907). Trước
đây, trị sở của chúng là ở vùng Long
Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy
chúng mới chuyển đến Tống Bình.
đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là
Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi
lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết
thứ nhất. Thăng Long, Kinh đô mới của
Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử
ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó
bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và
“Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”.
Đặt tên Thăng Long với cách viết như
trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ
thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn
làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh
kỳ diệu và tốt lành của giống Rồng, rất
gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là
“con Rồng cháu Tiên”.
Có điều đáng chú ý là các từ điển thông
dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ
hải (Từ nguyên xuất bản 1947, Từ hải
xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất
bản sau có khác không), không thấy ghi
từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ
Thăng. Riêng Trung văn đại từ điển (tập
5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ
“Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất
nói trên, có từ kép “Thăng Long” nhưng
là danh từ chung và được giảng là “rồng
bay lên”. Như vậy, có thể thấy tên gọi
Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ
là một địa danh hoàn toàn do người Việt
sáng tạo.
Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ
điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành
Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là
Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại
Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15
Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành
Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô,
cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông
Kinh”
8. Bắc Thành. - Đời Tây Sơn (Nguyễn
Huệ - Quang Trung 1787 - 1802), vì
Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên
gọi Thăng Long là Bắc Thành
9. Thăng Long. - (Thịnh vượng lên).
Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết:
“Năm 1802, Gia Long quyết định đóng
đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế),
không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn
Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi
Kinh thành Thăng Long làm trấn thành
miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm
trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần
phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã
có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian
cả nước, nên Gia Long thấy không tiện
bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long,
nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành
chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng
rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay
Vua không ở đây thì không được dùng
chở của các thầy cô-những người cha
người mẹ thứ hai của con, những người
mà con đã gắn bó suốt 4 năm liền. Con
muốn khóc thật to trong sự lạ lẫm này.
Thế nhưng con chợt hiểu ra: con được
học ở đây là do nhận được những tình
cảmộư yêu thương chăm sóc chỉ bảo tận
tình của các thầy cô. Bởi vì con biết các
- 21 -
Tập san số 5 “Nâng cánh ước mơ” - Ra ngày 20-11-2010
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
thày cô luôn muốn đem lại cho con
những điều tốt đẹp nhất để chúng con có
thể được học trong môi trường tốt. Và
hơn hết con sẽ có thêm hành trang, kiến
thức để tự tin bước vào đời. Con lại tự
bảo mình phải cố lên…
Đã bao lần đi ngang qua ngôi trường
THCS Thái Nguyên, con lại thấy sống
trong tim mình bao nhiêu là kỉ niệm của
một thời tuổi thơ. Kí ức đẹp đẽ và vui
tươi luôn thường trực trong tâm trí con,
đôi lần chợt ùa về làm con xao xuyến.
Xa trường đã lâu nhưng con chưa một
lần về thăm lại ngôi trường, thăm các
thầy cô giáo, một thời mà con đã gắn bó.
Thời gian không ngừng trôi, con cũng bị
cuốn vào trong lòng thời gian đó. Việc
học không ngừng nghỉ, khiến con không
có thời gian để thực hiện mong muốn
9B của con. Cô có nhiều điều khiến cho
con khâm phục và thấy mình phải noi
theo cô. Có lẽ là giáo viên chủ nhiệm
nên tình yêu thương , chăm sóc của cô
dành cho lớp 9B là đặc biệt nhất. Mỗi
giờ giảng trên lớp, cô truyền giảng hết
kiến thức cho chúng con, cô giảng bài tỉ
mỉ những chỗ chúng con chưa hiểu, dạy
chúng con nhiều điều hay lẽ phải. Cô
dạy chúng con phải biết cố gắng học
hành để sau này có một tương lai tốt đẹp
và hơn hết là đóng góp một chút sức lực
xây dựng đất nước quê hương. Cô không
bao giờ tạo áp lực về việc học hành cho
chúng con mà cô luôn đem đén những
tiếng cười sảng khaói, vui vẻ trong giờ
học. Vì thế mà chúng con tiếp thu bài
cũng nhanh hơn, nhẹ nhàng hơn. Nhận
được sự quan tâm như thế chúng con tự
bảo nhau phải học tập thật tốt để cô vui
lòng.
Con không thể nào quên những giờ
Ngữ văn mượt mà đằm thắm cùng giọng
đọc ngọt ngào của cô giáo Bùi Thị
Chiều. Qua các bài giảng của cô, con
thấy thêm yêu quê hương đất nước, tâm
hồn như được bồi đắp thêm khiến chúng
con nhận ra rằng: “sóng là để yêu
thương”…Rồi những ý nghĩ của chúng
con dần trưởng thành lớn lên từ đó.
Con gửi vào đây tất cả lòng thành
kính, sự biết ơn sâu sắc đối với các thầy
cô. Nhân ngày hôi Hiến chương các Nhà
giáo Việt Nam 20-11, con xin thay mặt
cho các thành viên cũ lớp 9B (khoá học
2007-2008) chúc các thầy cô trong
trường mạnh khoẻ, có nhiều niềm vui
trong cuộc sống và gặt hái được nhiều
thành công trong sự nghiệp trồng người.
Học trò cũ
Vũ Thị Hoa-9B, niên khoá 2007-2008
GỬI
(Bùi Hồng Nguyên-9B)
Cơn gió nào trở lại
Ô cửa lớp mở ra
Lời thầy cô vọng mãi
Nâng ước mơ bay xa
Giọt nắng nào đi qua
Con đường ta tới lớp
Ngẩn ngơ con chim hót
Vòm lá xanh dịu dàng
Cơn mưa nào lang thang
Ướt sân trường xưa cũ
Hương ngọc lan nhắn nhủ
Hàng ghế đá thầm thì
Về lại những màu thi
Tiếng ve nào xanh thẳm
Bâng khuâng làn mây trắng
Dòng nước mắt xa vời
Tháng năm nào trong tôi
Cô là mẹ hiền
Cô dạy cho em
Điều hay lẽ phải
Tiến tới tương lai
Cô người trồng cây
Ươm mầm cây lớn
Cô ươm đời em
Thành cây hoa thơm
Cô là đôi cánh
Cho em bay xa
Cô là bài ca
Dạy em biết hát
Cô là gió mát
Để em ngủ ngon
Cô ươm mầm non
Sao thật khôn lớn
Cô là trăng rằm
Cô là cô Tấm
Cô là vì sao
Sáng chiếu đời em
Cô vì chúng em
rải bao vất vả
Cô là tất cả
Tất cả của em.
NHỚ
(Nguyễn Thị Thuỳ Linh-9B)
Hàng phượng vĩ đang rộn rã tiếng ve
Như náo nức say sưa báo hè về
Sân trường đỏ nắng, lòng rạo rực
Nhớ lại mùa thu ôn bài thao thức
Dỗ giấc em ngoan.
VÔ ĐỀ
(Đàm Văn Hướng-9B)
Nắng sân trường gọi hồn ai lơ lửng
Dưới hàng cây to nhỏ chuyện ngây thơ
Bước chân đi trên đường đời chập chững
Phút chốc nhìn lá rụng mất mộng mơ
Một chiếc lá chưa vàng nằm cạnh gốc
Phải lìa cành vì gió chẳng mến thương
Nhắc lên tay mà lòng buồn muốn khóc
Mai xa rồi những lưu luyến còn vương.
Xa bạn bè vẫn còn duyên gặp gỡ
Kỉ niệm nhoà biết tìm lại nơi đâu
Dòng sông kia có khi nào ngừng chảy
Nó xa nguồn đẩy dạt bèo trôi mau.
TRƯỜNG XƯA
(Vũ Thị Thu Hoà-9B)
Bụi dứa gai vẫn nép mình trước cổng
Dãy ao trường cá vẫn quẫy tung tăng
Tán bàng xưa vẫn xoàe ô đội nắng
Biết bao tuổi thơ lớn với trường làng.
Chính ở nơi này ngày xưa ta học
Những chiếc bàn vẫn hòn gạch kê chân
Tấm bảng đen treo tường bằng dây thép
Và nhìn thầy cô năm tháng tảo tần
Chính ở nơi này ngày xưa ta học
Nhiều cây đã thành cổ thụ lưu niên
Dẫu năm tháng nhiều gió xô bão đổ
Màu lá xanh vẫn còn sắc dịu hiền
Phòng thí nghiệm mở nhìn được bốn