LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là quá trình nghiên cứu
nghiêm túc, khoa học của riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn của
PGS.TS. Nguyễn Trọng Xuân. Những ý kiến nhận định khoa
học tiếp nhận của ngƣời khác đều đƣợc ghi chú xuất sứ đầy đủ.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực,
chuẩn xác của nội dung luận văn.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2012
Tác giả
Ngô Quang Trung
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ 4
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................. 4
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 5
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ................................................................... 12
1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ......................... 12
1.2. Các hình thức của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ........................................ 13
1.3. Về thực tiễn của Việt Nam ....................................................................... 20
1.4. Kinh nghiệm xử lý hạn chế trong thu hút và sử dụng FDI của một số
nƣớc tiêu biểu .................................................................................................. 38
Chƣơng 2: ĐỘNG THÁI VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘ
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
BTO
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
CCN
Cụm công nghiệp
ĐTNN
Đầu tƣ nƣớc ngoài
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
KCN
Khu công nghiệp
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNLD
Doanh nghiệp liên doanh
MNC
Các công ty xuyên quốc gia
DN
Doanh nghiệp
BXH
Bảng xếp hạng
FPI
Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài
UN
Liên hợp quốc
JETRO
Tổ chức xúc tiến thƣơng mại Nhật Bản
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua gần 25 năm hoạt động, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với sự phát
triển kinh tế xã hội của Việt Nam là khá rõ nét và đã đƣợc khẳng định: Các dự
án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn
vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hƣớng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát
triển kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam, đƣa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với
nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực,
nâng cao mức sống cho ngƣời lao động...
Bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, FDI cũng đã và đang
bộc lộ nhiều vấn đề gây ảnh hƣởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng
trƣởng và chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Gần đây, đã xuất hiện hàng
loạt sự việc tác động xấu đến sự phát triển của Việt Nam, gây bức xúc cho dƣ
luận xã hội, trong đó nổi bật lên là chất lƣợng sử dụng FDI còn thấp, thiếu
tính bền vững, ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng, các dự án FDI vẫn tập trung
chủ yếu vào gia công, lắp ráp nên giá trị gia tăng không cao, chuyển giá, trốn
thuế... Một số ý kiến cho rằng: nguồn vốn FDI trong những năm qua đã tập
trung chủ yếu vào đầu tƣ xây dựng, khách sạn, du lịch và những ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên, chƣa có tỷ lệ thích đáng
cho các ngành công nghệ cao và nông nghiệp. FDI đƣa vào Việt Nam nhiều
máy móc, thiết bị lạc hậu đã qua sử dụng. Các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài đã xảy ra một số tranh chấp lao động mà biểu hiện là tình trạng
ngƣợc đãi công nhân, vi phạm nhân phẩm ngƣời lao động, cƣờng độ làm việc
quá căng thẳng... đã dẫn đến các cuộc đình công, bãi công...
5
mang tin
́ h thời sƣ̣ trong tổ chƣ́c hoa ̣t đô ̣ng của
các doanh nghiệp có vốn
đầ u tƣ trƣ̣c tiế p nƣớc ngoài ở Việt Nam hiê ̣n nay . Với ý nghiã đó , tôi ma ̣nh
dạn chọn vấn đề “Một số hạn chế trong thu hút và sử dụng
đầu tư trực
tiểp nước ngoài ở Viê ̣t Nam hiện nay ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
Thạc sĩ kinh tế của mình .
6
2. Tình hình nghiên cứu
Trong số các công trình mà tác giả đã tiếp cận thì số công trình công bố
dƣới dạng bài tạp chí, bài báo vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn cả. Dƣới đây tôi chỉ
xin nêu một số công trình tiêu biểu đƣợc công bố làm ví dụ:
- Đề tài “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do PGS.TS. Nguyễn Bích
Đạt chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia (2006).
Nội dung nêu lên những vấn đề chung về khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài: bản chất, vai trò, nhân tố ảnh hƣởng tới hoạt động của khu vực có vốn
đầu tƣ nứơc ngoài; kinh nghiệm của một số nƣớc trong thu hút, sử dụng đầu
tƣ nƣớc ngoài. Tổng quan tình hình đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam, những
thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với nền kinh tế
Việt Nam.
- “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” của tập thể tác
Chí và Tuyên Truyền. Nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng thu hút FDI
ở tỉnh Vĩnh Phúc theo hƣớng bền vững nhằm chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu
và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc theo hƣớng
bền vững.
Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên đã đề cập khá toàn diện và
phân tích sâu về các hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam, nhƣng chƣa có
công trình nào giành riêng, hay nghiên cứu một cách toàn diện về mặt hạn chế
việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đó, nhất là những biểu hiện tiêu cực của các
dự án, của các nhà đầu tƣ trong thực tiễn hoạt động của họ vừa qua tại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá những hạn chế trong việc thu hút và sử dụng đầu tƣ
trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua. Luận văn đặt kỳ vọng góp
phần làm rõ những tác động tiêu cực của các dự án FDI, những thủ thuật (mánh
khóe) của các nhà đầu tƣ gây ảnh hƣởng xấu đến phát triển vủa Việt Nam.
8
- Đề xuất một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động
và sử dụng vốn đầu tƣ FDI ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là hoạt động của các dự án FDI ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Các dự án FDI ở Việt Nam.
+ Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn cả nƣớc.
+ Về thời gian: Nghiên cứu kết quả và hạn chế trong huy động, sử dụng
FDI vào Việt Nam từ khi có luật đầu tƣ nƣớc ngoài (1988 - 2011)
+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu những mặt hạn chế việc huy động và
sử dụng FDI vào Việt Nam.
- Các câu hỏi nghiên cứu:
+ Thực trạng đầu tƣ FDI ở Việt Nam thời gian qua?
với các tiến trình phát triển. Phƣơng pháp phân tích thống kê mô tả sẽ đƣợc sử
dụng để nghiên cứu trong nội dung này.
Phƣơng pháp phân tích theo nguyên lý phát triển bền vững (phân tích mối
quan hệ phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và môi trƣờng)
5.3. Phương pháp Ma trận SWOT
Tóm tắt phương pháp phân tích Ma trận SWOT
Ma trận SWOT
Cơ hội (O)
Nguy cơ (T)
Phối hợp S/O
Phối hợp S/T
Điểm mạnh (S) Tận dụng điểm mạnh để
nắm bắt cơ hội
chế nguy cơ
Phối hợp W/O
Điểm yếu (W)
Tận dụng điểm mạnh để hạn
Phối hợp W/T
Giảm điểm yếu để nắm bắt
Tối thiểu điểm yếu để ngăn
1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) ngày nay đã trở thành một trong hình
thức đầu tƣ tƣơng đối phổ biến và về cơ bản đƣợc hiểu là một loại hình đầu tƣ
quốc tế, trong đó chủ đầu tƣ của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc
tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để trực tiếp sở hữu, điều hành, kiểm
soát đối tƣợng họ bỏ vốn đầu tƣ nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích
kinh tế khác.
FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nƣớc
đi đầu tƣ sang nƣớc tiếp nhận đầu tƣ để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp
nhằm mục đích kinh doanh có lãi.
Luật Đầu tƣ 2005 của Việt Nam định nghĩa về FDI nhƣ sau:
Đầu tƣ nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tƣ. Đầu tƣ
trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý
hoạt động đầu tƣ.
Xét về bản chất FDI khác với đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài; đồng thời FDI
là đầu tƣ thuộc kênh tƣ nhân, khác hẳn với đầu tƣ tài trợ (ODA) của Chính
phủ hoặc các tổ chức quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tƣ, tức là tiền và các loại
tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lƣợng tiền và tài sản của
12
nền kinh tế nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và làm giảm lƣợng tiền và tài sản nƣớc đi
đầu tƣ.
Thứ hai, đƣợc tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp
đƣợc xem nhƣ là các cách thức thực hiện những kênh đƣa vốn bên ngoài vào
nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, và nó phụ thuộc chủ yếu vào các chính sách, định
hƣớng thu hút FDI của nƣớc chủ nhà.
Ngày nay, trên thế giới nói chung cũng nhƣ ở Việt Nam nói riêng, FDI
đƣợc thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu: i) đầu tƣ mới và mở rộng (GI); ii)
mua lại và sát nhập (cross-border M & As). GI là kênh đầu tƣ mà các chủ đầu
tƣ thực hiện đầu tƣ ở nƣớc tiếp nhận vốn thông qua việc xây dựng các doanh
nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô doanh nghiệp đã đầu tƣ từ trƣớc. Hình thức
này bổ sung ngay một lƣợng vốn đầu tƣ nhất định cho nƣớc nhận đầu tƣ, do
vậy có hiệu ứng rõ rệt tạo việc làm và trực tiếp tác động đến thay đổi cơ cấu
ngành kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng
quy mô, qua đó, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế. Đây là kênh đầu tƣ
truyền thống của FDI và là kênh chủ yếu để các nhà đầu tƣ của các nƣớc phát
triển đầu tƣ vào các nƣớc đang hoặc kém phát triển. Cross-border M & As là
kênh đầu tƣ mà các chủ đầu tƣ tiến hành đầu tƣ thông qua việc mua lại và sáp
nhập các doanh nghiệp hiện có ở nƣớc ngoài hoặc mua cổ phần của các công
ty cổ phần. Hình thức này chủ yếu là chuyển sở hữu của các doanh nghiệp
đang tồn tại ở nƣớc chủ nhà sang sở hữu của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Về
lâu dài, hình thức M & As sẽ thu hút đƣợc nguồn vốn từ bên ngoài do mở
rộng qui mô hoạt động của doanh nghiệp. Kênh đầu tƣ này chủ yếu đƣợc thực
hiện ở các nƣớc phát triển, các nƣớc mới công nghiệp hóa, đặc biệt là trong
những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hƣớng tăng mạnh trong những năm gần
đây. Luật Đầu tƣ 2005 của Việt Nam cũng đã thừa nhận và pháp lý hoá kênh
đầu tƣ này ở Việt Nam.
14
Tuy nhiên, hình thức đầu tƣ này vẫn chƣa phổ biến ở nƣớc ta do đây là
kênh FDI mới, nhà đầu tƣ còn dè chừng; hơn nữa, Nhà nƣớc vẫn hạn chế về
hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tại nƣớc chủ nhà, nhà đầu tƣ phải tự quản lý,
tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dƣới hình
thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam, có các loại hình công
ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tƣ nhân, công ty cổ phần,...
Hình thức 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có ƣu điểm là nƣớc chủ nhà
không cần bỏ vốn, tránh đƣợc những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay đƣợc
tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Mặt khác, do độc
lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chủ động đầu tƣ và để cạnh
tranh, họ thƣờng đầu tƣ công nghệ mới, phƣơng tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt
hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề ngƣời lao động.
Tuy nhiên, nó có nhƣợc điểm là nƣớc chủ nhà khó tiếp nhận đƣợc kinh nghiệm
quản lý và công nghệ, khó kiểm soát đƣợc đối tác đầu tƣ nƣớc ngoài và không
có lợi nhuận.
1.2.2. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài
Đây là hình thức đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trƣớc tới nay.
Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút
FDI. DNLD là doanh nghiệp đƣợc thành lập tại nƣớc sở tại trên cơ sở hợp
đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nƣớc chủ nhà với Bên hoặc các
Bên nƣớc ngoài để đầu tƣ kinh doanh tại nƣớc sở tại.
Nhƣ vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhƣng địa
điểm đầu tƣ phải ở nƣớc sở tại. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất
lớn vào môi trƣờng kinh doanh của nƣớc sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế,
chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của
nƣớc sở tại... Hình thức DNLD có những ƣu điểm là góp phần giải quyết tình
trạng thiếu vốn, nƣớc sở tại tranh thủ đƣợc nguồn vốn lớn để phát triển kinh
16
1.2.4. Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
BOT là hình thức đầu tƣ đƣợc thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn,
nhà đầu tƣ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nƣớc Việt
Nam. BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu
tƣ, khai thác, chuyển giao đƣợc đảo lộn trật tự.
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải
là Nhà nƣớc; lĩnh vực đầu tƣ là các công trình kết cấu hạ tầng nhƣ đƣờng sá,
cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nƣớc...; bắt buộc đến
thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nƣớc.
Ƣu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tƣ vào những dự án kết cấu
hạ tầng, đòi hỏi lƣợng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực
vốn cho ngân sách nhà nƣớc. Đồng thời, nƣớc sở tại sau khi chuyển giao có
đƣợc những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để
phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhƣợc điểm là độ rủi ro cao, đặc
biệt là rủi ro chính sách; nƣớc chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công
nghệ.
1.2.5. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tƣ Cross - border M & As đã nêu ở trên.
Khi thị trƣờng chứng khoán phát triển, các kênh đầu tƣ gián tiếp (FPI) đƣợc khai
thông, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp
ở nƣớc sở tại, nhiều nhà đầu tƣ rất ƣa thích hình thức đầu tƣ này.
Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tƣ nƣớc
ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trƣờng chứng khoán nƣớc sở
tại, họ tạo nên kênh đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FPI). Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở
18
báo và xác định rủi ro cũng nhƣ lợi nhuận tốt hơn
Công nghệ
Có công nghệ tiên tiến, có khả năng ứng dụng công nghệ
vào sản xuất, có khả năng phát minh ra công nghệ mới và áp
dụng trong sản xuất
Marketting
Có khả năng nghiên cứu thị trƣờng, quảng cáo và phân phối
sản phẩm
Mua nguyên
vật liệu
Thoả thuận
Có những ƣu đãi trong việc tìm kiếm và mua nguyên vật
liệu phục vụ cho quá trình sản xuất
Có khả năng đàm phán thoả thuận để đƣợc hƣởng những ƣu
với Chính phủ đãi từ phía Chính phủ của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ
19
1.3. Về thực tiễn của Việt Nam
1.3.1. Quá trình thực thi các chính sách về FDI của Việt Nam
FDI là một lĩnh vực hoạt động gắn liền với chủ trƣơng “đổi mới và mở
cửa” của Đảng và Nhà nƣớc ta. Qua hơn 20 năm thực hiện Luật Đầu tƣ nƣớc
Nhà nƣớc khuyến khích các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài đầu tƣ vốn, công
nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ
quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi
khác của các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài không bị quốc hữu hoá. Nhà nƣớc khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi để ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài đầu tƣ về nƣớc [21, tr. 23].
Tại văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam, lần đầu
tiên kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc chính thức xác định là một
thành phần kinh tế, là bộ phận cấu thành của nền kinh tế nhiều thành phần
ở nƣớc ta, đƣợc khuyến khích phát triển mạnh và lâu dài, với trọng tâm là
hƣớng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với thu
hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Nghị quyết cũng đề ra
nhiệm vụ phải cải thiện môi trƣờng kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài [17, tr. 646].
Đây là bƣớc phát triển mới về quan điểm, nhận thức so với các Đại hội
trƣớc về vai trò, vị trí của FDI đối với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội ở
nƣớc ta, thể hiện chủ trƣơng nhất quán của Đảng ta là “phát huy cao độ nội
lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế để
phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” [17, tr. 638].
Nghị quyết Đại hội IX cũng đề ra những chủ trƣơng, định hƣớng cơ bản cho
việc thu hút, sử dụng và quản lý FDI trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội
10 năm (2001 - 2010). Xuất phát từ mục tiêu tổng quát của Chiến lƣợc là đẩy
mạnh CNH, HĐH; tạo nền tảng để đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc
21
công nghiệp, cần huy động lƣợng vốn lớn trong và ngoài nƣớc cho đầu tƣ phát
triển.
Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 4 năm 2006, tiếp
nhà đầu tƣ thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tƣ trong nƣớc và đầu tƣ nƣớc
ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tƣ. Nhà nƣớc
công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tƣ, thu nhập và các quyền sở
hữu tài sản, vốn đầu tƣ, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà
đầu tƣ; thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tƣ. Nhà
nƣớc cam kết thực hiện các điều ƣớc quốc tế liên quan đến đầu tƣ mà nƣớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Nhà nƣớc khuyến khích và có
chính sách ƣu đãi đối với đầu tƣ vào các lĩnh vực, địa bàn ƣu đãi đầu tƣ [28, tr.
12-13].
Nhƣ vậy quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về thu hút vốn đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài là nhất quán và có bƣớc tiến quan trọng trên bình diện chủ
trƣơng và luật pháp. Quan điểm chung không những khẳng định vị thế của
FDI mà còn coi kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một bộ phận cấu thành
nền kinh tế Việt Nam. Việc bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài
không chỉ đƣợc thể hiện trong văn bản luật pháp có liên quan đến lĩnh vực
này, mà còn đƣợc ghi vào Hiến pháp, đạo luật cơ bản và quan trọng nhất của
đất nƣớc.
1.3.2. Những nguyên nhân làm hạn chế thu hút và sử dụng FDI
Qua hơn 20 năm (1988 - 2011) thực hiện Luật đầu tƣ nƣớc ngoài, nƣớc ta
đã thu đƣợc những thành tựu quan trọng trong thu hút FDI phục vụ công cuộc
xây dựng, đổi mới đất nƣớc. FDI đã góp phần quan trọng vào việc tạo nên
những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong thời gian qua.
Mặc dù vậy, trong lĩnh vực này vẫn còn không ít vấn đề đặt ra. Những hạn
23
chế, cản trở đang làm kém sự hấp dẫn và hiệu quả của đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài tại Việt Nam, đó là:
1.3.2.1. Về phía Việt Nam