Nợ công và xử lý khủng hoảng nợ tại Hy Lạp - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam :Luận văn ThS. Kinh tế học: 60 31 07 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o--------

VŨ THỊ VÂN ANH

NỢ CÔNG VÀ XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG NỢ
TẠI HY LẠP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o--------

VŨ THỊ VÂN ANH

NỢ CÔNG VÀ XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG NỢ
TẠI HY LẠP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ KIM CHI

Hà Nội – 2014


LẠP CHO VIỆT NAM ................................................................................... 83
3.1. Thực trạng quản lý nợ công của Việt Nam ........................................... 83
3.1.1. Quy mô nợ ngày càng lớn ............................................................... 87
3.1.2. Cơ cấu nợ đa dạng .......................................................................... 89
3.1.3. Tính thanh khoản của nợ dễ gặp rủi ro .......................................... 92
3.2. Nguyên nhân và những rủi ro tiềm ẩn .................................................. 93
3.2.1. Nguyên nhân nợ công của Việt Nam .............................................. 93
3.2.2. Rủi ro tiềm ẩn ................................................................................. 97
3.3. Hàm ý chính sách cho giải pháp nợ công tại Việt Nam ..................... 101
3.3.1. Mục tiêu nợ công an toàn và bền vững ......................................... 101
3.3.2. Giải pháp cho vấn đề nợ công của Việt Nam ............................... 103
KẾT LUẬN ................................................................................................... 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 118


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

2


IBRD

Ngân hàng thế giới về tái thiết và phát triển

8

ICOR

Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ

9

IMF

Quỹ tiền tệ quốc tế

10

NSNN

Ngân sách nhà nƣớc

11

ODA

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

12



DANH MỤC BẢNG
STT

Bảng

Nội dung

1

Bảng 1.1

Tỷ lệ tiết kiệm nội địa (so với GDP)

28

2

Bảng 2.1

Tổng sản phẩm quốc nội tại Hy Lạp

48

3

Bảng 2.2

Ý nghĩa xếp hạng tín dụng Moody


8

Bảng 3.4

9

Bảng 3.5

Tỷ lệ nợ công trung bình ở một số nƣớc năm
2010
Cơ cấu nợ công Việt Nam theo chủ nợ
Kinh nghiệm thực tiễn của WB và IMF
ngƣỡng an toàn nợ

ii

Trang

86
90
102


DANH MỤC HÌNH

STT

Hình

Nội dung


7

Hình 3.4

Hy Lạp và quá trình tái cơ cấu nợ công từ
năm 2012

Nợ công của Việt Nam so với các nƣớc
ASEAN (%GDP)
Nợ công của Việt Nam so với nhóm các
nƣớc khác (%GDP)
Cơ cấu nợ nƣớc ngoài giữa hai khu vực của
Việt Nam

iii

Trang
56

88

88

95


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo chu kỳ vận động của nền kinh tế, chúng ta đã chứng kiến rất

cho quốc gia mất khả năng thanh toán và các nhà đầu tƣ mất niềm tin, hơn thế
nữa nó có thể gây ra khủng hoảng nợ và suy thoái kinh tế. Chính vì vậy một
chính sách quản lý nợ công tốt của Chính phủ là điều vô cùng quan trọng. Do
đó, vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là Chính phủ Việt Nam cần phải có những
bƣớc đi hợp lý đặc biệt trong việc vay, quản lý và trả nợ. Trong bối cảnh đó,
câu hỏi nghiên cứu của đề tài đặt ra là:
- Cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp diễn ra nhƣ thế nào?
- Những động thái xử lý của Hy Lạp đối với khủng hoảng ra sao?
- Việt Nam đã rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm gì từ động thái
giải cứu kinh tế khỏi khủng hoảng nợ công châu Âu mà điển hình tại Hy Lạp?
Để trả lời cho những câu hỏi nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Nợ công
và xử lý khủng hoảng nợ tại Hy Lạp - Bài học kinh nghiệm đối với Việt
Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp khóa học Thạc sỹ ngành kinh tế thế giới
và quan hệ kinh tế quốc tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt ngân sách nhà nƣớc đã trở
thành một hiện tƣợng khá phổ biến trong các nƣớc kinh tế chậm phát triển và
cả các quốc gia phát triển. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009,
nợ công ở các nền kinh tế phát triển tăng lên đáng kể. Nổi bật gần đây nhất
phải kể đến là cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực Châu Âu. Khủng hoảng
ở châu Âu và đặc biệt là ở Hy Lạp không chỉ lây lan đến một loạt các nƣớc
khác trong EU mà còn ảnh hƣởng to lớn đến toàn bộ khu vực châu Âu và các
nƣớc trên thế giới, đe dọa đến tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu. Những ảnh
hƣởng của cuộc khủng hoảng nợ công tới “sức khỏe” nền kinh tế thế giới

2


trong thời gian qua cho thấy, nợ công là một vấn đề mang tính toàn cầu, mà
bất cứ một quốc gia nào dù mạnh hay yếu cũng có nguy cơ gặp phải. Vì thế,

trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp; cũng nhƣ phân tích nền kinh tế Việt Nam
dƣới tác động của cuộc khủng hoảng nợ công ở EU để từ đó đƣa ra những bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phòng tránh xảy ra cuộc khủng
hoảng nợ.
4) Nguyễn Bích Thuận (2013), “Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công ở
một số nước thành viên EU”, Viện nghiên cứu châu Âu , tác giả đã tập trung
phân tích các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng, từ những nguyên nhân
chung của toàn bộ Liên minh châu ÂU, cho tới những nguyên nhân của từng
nƣớc, mà nổi bật là nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp.
5) Đinh Công Hoàng (2013), “Cơ sở nền tảng của đồng Euro và cuộc
khủng hoảng nợ công Châu Âu”, Viện nghiên cứu thƣơng mại, Bộ công
thƣơng, bài viết tập trung cơ sở nền tảng (sự ra đời, những lợi ích và bất
cập) của đồng Euro và những vấn đề xung quanh đồng Euro cũng nhƣ cuộc
khủng hoảng nợ công châu Âu hiện nay. Trong đó, tác giả cũng đƣa ra một
vài kiến nghị nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng nợ công tại EU trong
ngắn hạn lẫn dài hạn.
6) Lê Quốc Lý và Lê Huy Trọng (2003), “Nợ nước ngoài – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý ở Việt Nam”, NXB Tài chính, bài viết
tập trung vào thực trạng vay và trả nợ nƣớc ngoài ở Việt nam trong thời
gian qua, và đƣa ra những định hƣớng, khuyến nghị về khả năng vay và
trả nợ nƣớc ngoài trong những năm tới trong mối quan hệ cân đối vĩ mô,
nhằm đạt đƣợc mục tiêu tăng trƣởng kinh tế cao và giải quyết các vấn đề
xã hội ở Việt Nam.
7) Hellenic Observatory (2012), “Greece’s Sovereign Debt Crisis:
Retrospect and prospect, George Alogoskoufis”, European Institude, bài viết
cung cấp những phân tích và đánh giá về cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp

4



- Nghiên cứu, phân tích một vài cuộc khủng hoảng nợ điển hình đã diễn
ra trên thế giới và cách thức đối phó, vƣợt qua cuộc khủng hoảng để từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm.
- Nghiên cứu, phân tích diễn biến, nguyên nhân, động thái giải cứu
khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp.
- Hệ thống, phân tích thực trạng nợ công tại Việt Nam hiện nay và
những tác động, ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp tới
kinh tế Việt Nam.
- Rút ra bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp
nhằm xây dựng và đề xuất những giải pháp nhằm tránh các vấn đề tƣơng tự
xảy ra tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy
Lạp và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: nghiên cứu về tình hình khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp.
- Về thời gian: Mặc dù nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc khủng hoảng tại
Hy Lạp tƣơng đối kéo dài, tuy nhiên luận văn chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu giai
đoạn cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp bùng nổ từ năm 2009 cho đến hết năm 2013.
- Về nội dung: Thời gian qua, vấn đề nợ công của châu Âu là điểm
nóng của kinh tế thế giới. Cho đến nay, khi mà cuộc khủng hoảng nợ công
châu Âu đã tạm thời lắng xuống, nhƣng những gì mà nó để lại không khỏi
khiến chúng ta bàng hoàng và đặt nhiều nghi vấn bởi từ trƣớc tới giờ, nhiều
quốc gia châu Âu đƣợc toàn thế giới biết đến nhƣ là “thiên đƣờng hƣởng thụ”
với các chế độ phúc lợi xã hội đáng mơ ƣớc đối với bất kỳ một công dân nào.
Và không khó để nhận ra rằng hậu quả của “đỉnh cao hƣởng thụ” đó chính là
vấn đề nợ công ngày một tăng cao. Các món nợ của Chính phủ các nƣớc châu
6



- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong quản lý nợ công để Việt Nam
không mắc phải lỗi tƣơng tự.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết
cấu gồm 3 chƣơng với nội dung tổng quát của từng chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn về nợ công và khủng hoảng nợ công
Chƣơng 2: Nợ công và xử lý khủng hoảng nợ tại Hy Lạp
Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy
Lạp cho Việt Nam

8


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VỀ NỢ CÔNG VÀ
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Nợ công
1.1.1.1. Khái niệm nợ công
Khái niệm nợ công là một khái niêm tƣơng đối phức tạp. Cho đến nay,
có nhiều khái niệm về nợ công và nội hàm của khái niệm nợ công cũng chƣa
thống nhất. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận ngày nay đều cho rằng, nợ
công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong
việc chi trả khoản nợ đó. Vì vậy, thuật ngữ nợ công thƣờng đƣợc sử dụng
cùng nghĩa với các thuật ngữ nhƣ nợ Nhà nƣớc hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên,
nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ
phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nƣớc và nợ của
tƣ nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Nhƣ vậy, nợ công chỉ là một bộ
phận của nợ quốc gia.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu công quá lớn của Chính phủ. Chi
tiêu công nhằm: Thứ nhất, phân bổ nguồn lực; Thứ hai, phân phối lại thu

Theo Ngân hàng thế giới (WB) và hệ thống quản lý nợ và phân tích tài
chính của Hội nghị của Liên hợp quốc về thƣơng mại và phát triển
(UNCTAD):
-

Theo nghĩa rộng, nợ công đƣợc hiểu là nghĩa vụ nợ của khu vực
công, bao gồm 4 nhóm chủ thể: 1) Nợ của Chính phủ trung ƣơng và
các Bộ, Ban, Ngành TW; 2) Nợ của các cấp chính quyền địa
phƣơng; 3) Nợ của Ngân hàng thƣơng mại; 4) Nợ của các tổ chức
độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập
Ngân sách phải đƣợc sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ
là ngƣời chịu trách nhiệm trả nợ trong trƣờng hợp tổ chức đó vỡ nợ.

10


-

Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ
trung ƣơng các cấp chính quyền địa phƣơng và nợ của các tổ chức
độc lập đƣợc Chính phủ bảo lãnh thanh toán.

-

Theo “Luật quản lý công Việt Nam” (năm 2009), nợ công đƣợc
hiểu bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ đƣợc Chính phủ bảo
lãnh và nợ chính quyền địa phƣơng.
Trong đó: 1) Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ khoản vay trong

nƣớc, nƣớc ngoài, đƣợc ký kết, phát hành dƣới danh nghĩa nhà nƣớc, Chính

Bản,… lại cũng chính là những con nợ lớn. Tuy nhiên, bên cách những tác
động tích cực cũng có không ít tác động tiêu cực.
Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân
sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nƣớc sẽ
phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa
chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác.
Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, đƣợc hầu hết chính phủ các nƣớc sử
dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Để dễ đánh giá về quy mô của
nợ Chính phủ, ngƣời ta thƣờng đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm
so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tuy nhiên, tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản
ánh một phần nào đó về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Mức độ an toàn
hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan
trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế.
Khi xem xét đến nợ công, chúng ta không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ,
nợ hàng năm phải trả mà phải quan tâm nhiều tới rủi ro và cơ cấu nợ. Vấn đề
quan trọng phải tính là khả năng trả nợ và rủi ro trong tƣơng lai, chứ không
chỉ là con số tổng nợ trên GDP. Để đánh giá mức độ rủi ro hay an toàn của nợ
công, tiêu chí tỉ lệ nợ công/GDP đƣợc coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất cho
cách nhìn tổng quát về tình hình nợ công của một quốc gia. Mức an toàn của
nợ công còn đƣợc thể hiện qua việc nợ công có vƣợt ngƣỡng an toàn tại một
thời điểm hay giai đoạn nào đó hay không. Theo thông tƣ hƣớng dẫn phƣơng
12


pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát nợ công và nợ nƣớc ngoài của quốc gia,
các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nƣớc ngoài của quốc gia bao gồm:
1. Nợ công so với GDP
a. Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn bộ nền
kinh tế và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
b. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau:

b. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau:

6. Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nƣớc
a. Tỷ lệ này xác định khả năng hoàn trả đối với nghĩa vụ nợ dự phòng
phát sinh từ khoản vay, phát hành trái phiếu đƣợc Chính phủ bảo lãnh từ
nguồn thu ngân sách nhà nƣớc và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
b. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau:

7. Nợ chính quyền địa phƣơng so với GDP

14


a. Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của Chính quyền địa phƣơng so với
thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
b. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau:

Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, ngƣời ta sẽ đánh giá tính bền vững của nợ
công, trong đó mức an toàn của nợ công đƣợc thể hiện qua việc nợ công có
vƣợt ngƣỡng an toàn tại một thời điểm hay giai đoạn nào đó hay không. Tiêu
chí để đánh giá mức an toàn của nợ công đƣợc thể hiện cụ thể là:
Thứ nhất, giới hạn nợ công không vƣợt quá 50%-60% GDP hoặc không
vƣợt quá 150% kim ngạch xuất khẩu. Ngân hàng thế giới (WB) đã đƣa ra mức
quy định ngƣỡng an toàn nợ công là 50% GDP. Các tổ chức quốc tế cho rằng, tỷ
lệ hợp lý đối với các nƣớc đang phát triển nên ở mức dƣới 50% GDP [8, tr.2,5];
Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vƣợt quá 15% kim ngạch xuất
khẩu và dịch vụ trả nợ của Chính phủ không vƣợt quá 10% chi ngân sách.
Tuy nhiên, trên thực tế không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế.
Không phải tỉ lệ nợ công/GDP thấp là trong ngƣỡng an toàn và ngƣợc lại.
Mức độ an toàn của nợ công phụ thuộc vào tình trạng mạnh hay yếu của nền

sức ép cả bên trong và bên ngoài.
Khi nợ công của một quốc gia quá lớn, cần nhận sự hỗ trợ của các Quỹ
tín dụng quốc tế thì các nƣớc phải thắt chặt chi tiêu để giảm thâm hụt ngân
sách. Tuy nhiên, điều này lại gây ảnh hƣởng đến lợi ích của đông đảo ngƣời
dân, dẫn đến những phản ứng của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổn chính
trị, xã hội. Nợ công tăng cao liên tục cũng làm hạ bậc tín nhiệm của các quốc
gia con nợ, khiến niềm tin của công dân và giới đầu tƣ lung lay, việc huy
động nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc
tế. Do vậy, việc đánh giá đúng nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là

16


vô cùng quan trọng, đặc biệt khi nền kinh tế toàn cầu luôn có những biến
động phức tạp khó lƣờng. Nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một
cách thuần túy sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, làm gia
tăng căng thẳng xã hội, gây rối loạn kinh tế thậm chí đƣa nền kinh tế vào bờ
vực của một cuộc khủng hoảng.
1.1.2. Khủng hoảng nợ công
Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao dẫn tới vỡ nợ, làm
chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia.
Nhu cầu chi quá nhiều, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền
thông qua nhiều hình thức nhƣ phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín
dụng, … để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ không có khả năng hoàn trả.
Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng. Nợ không trả sớm, để
lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm. Và khủng hoảng
sẽ nổ ra khi mà trƣớc nguy cơ đó nền kinh tế gặp một cú sốc nào đó bất kể là
bên trong hay bên ngoài.
Nếu nhƣ khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo
dài trong chu kỳ kinh tế thì khủng hoản nợ công xảy ra khi một quốc gia vay

thƣơng mại thông thƣờng.
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ: Nợ công đƣợc phân loại thành Nợ
công phải trả và Nợ công bảo lãnh.
Nợ công phải trả là các khoản nợ mà chính phủ, chính quyền địa
phƣơng có nghĩa vụ trả nợ.
Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh
cho ngƣời vay nợ, nếu bên vay không trả đƣợc nợ thì chính phủ sẽ có nghĩa
vụ trả nợ.
Theo cấp quản lý nợ: Nợ công đƣợc phân loại thành: Nợ công của
trung ƣơng và Nợ công của chính quyền địa phƣơng.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status