Khủng hoảng nợ công thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ( Luận văn ThS. Kinh tế ) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HÀ THỊ ANH
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG THẾ GIỚI VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ



MỤC LỤC
Trang

Danh mục các chữ viết tắt . i
Danh mục bảng biểu . ii
Danh mục biểu đồ……………………………………………………… … iii
Danh mục hình vẽ….………………………………………………… …….iii
MỞ ĐẦU………………………………………………………………… 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG…………………………………………… . .8
1.1. Những khái niệm……………………………………………………… .8
1.1.1. Nợ công……………………………………………………………… .8
1.1.2. Khủng hoảng nợ công…………………………………………… ….10
1.2. Những dấu hiệu nhận diện khủng hoảng nợ công………………….… . .12
1.2.1. Nhận diện khủng hoảng nợ công theo quan điểm của Reihart và
Rogoff…………………………………………………… ………… .12
1.2.2. Nhận diện khủng hoảng nợ công theo quan điểm của Caner, Grennes và
Koehler- Geil……………… ………………………………… 13
1.2.3. Nhận diện khủng hoảng nợ công theo một số quan điểm khác…… . 13
1.3. Các yếu tố tạo nên khủng hoảng nợ công……………… ………… .17

3.1.3. Sử dụng nợ công……………………………………………… …….53
3.1.4. Trả nợ công…………………………………………………… …….55
3.2. Đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam…………………………… … 57
3.2.1. Tác động tích cực của nợ công………………………………… . ……57
3.2.2. Những nguy cơ về khủng hoảng nợ công……………………… . ……62

3.2.3. Nguyên nhân tạo nên những nguy cơ của khủng hoảng nợ công . ……64
3.3. Những bài học kinh nghiệm của thế giới nhằm tránh khủng hoảng nợ
công cho Việt Nam trong tương lai …………………… …………… 73
3.3.1. Tăng nguồn thu ngân sách, cắt giảm chi tiêu công………… . …… 73
3.3.2. Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay . 74
3.3.3. Hoàn thiện bộ máy quản lý, tăng cường giám sát và quản lí rủi ro nợ
công………………………………………………………………… …… 75
3.3.4. Công khai, minh bạch hóa thông tin trong quản lí nợ………… ……76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
2
ECB
Ngân hàng trung ương Châu Âu

ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng
1.1
Ý nghĩa xếp hạng tín dụng Moody’s
15
2
Bảng
2.1
Số liệu nợ công/ GDP của 10 nước cao nhất thế giới
26
3
Bảng
2.2
Nợ công và thâm hụt ngân sách nhóm PIIGS (2006-
2011)
27
4

Bảng
2.3
Bảng so sánh rủi ro nợ công của các nước
37
5
Bảng

60
11
Bảng
3.7
Quyết toán chi ngân sách nhà nước
61
12
Bảng
3.8
Chi ngân sách nhà nước cho các lĩnh vực
67
13
Bảng
3.9
Nợ công Việt Nam theo định nghĩa Việt Nam và định
nghĩa quốc tế (2012)
72

iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Biểu đồ
Nội dung
Trang
1
Biểu đồ
2.1
Tỉ lệ nợ công/ GDP của 10 nước cao nhất thế giới
27
2

3.1
Thông số nợ công trên Global debt clock ngày
28/9/2012
49 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nợ công đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp
đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn cầu trong giai đoạn hiện
nay. Hy Lạp là quốc gia đầu tiên trên thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng
nợ công và đã kéo theo nhiều quốc gia rơi vào vòng xoáy này. Hy Lạp chỉ là
một quốc gia nhỏ nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này đã khiến các
nền kinh tế trên thế giới phải xem xét lại tình hình tài chính của mình cũng
như tìm biện pháp để chèo lái sao cho mức nợ công không vượt quá ngưỡng
an toàn.
Mức nợ công cao đã buộc các chính phủ phải điều chỉnh lại các chính
sách tài khóa, tiền tệ. Các quốc gia phải xây dựng lại lộ trình phát triển kinh
tế, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay và tính toán nguồn vốn trả nợ hợp lí
hay thậm chí phải nhờ đến sự giúp đỡ của các tổ chức tài chính quốc tế. Như
vậy, bất chấp là nền kinh tế lớn hay nhỏ nếu không kiểm soát được nợ công
thì đó chính là nguyên nhân khiến cho nền kinh tế chậm phát triển và có nguy
cơ sụp đổ trong tương lai
Theo các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
không chỉ có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động kinh tế của các nước Châu Âu
mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nền kinh tế khác.
Trong báo cáo: “ Điều tra triển vọng toàn cầu” của tập đoàn dịch vụ
thông tin tài chính toàn cầu Markit, tháng 6/2012 thì có tới 16 trong 22 quốc
gia được khảo sát cho thấy có sự sụt giảm về sản lượng sản xuất. Do sự suy

nguồn vốn cần có thì Việt Nam phải tìm trên thị trường tài chính thế giới, từ
các tổ chức tài chính quốc tế và từ các quốc gia khác. Trong những năm qua,
Việt Nam là quốc gia được đánh giá là có tiềm năng phát triển và nằm trong

3
khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nên đã thu hút được một nguồn vốn
lớn từ bên ngoài.
Theo Đồng hồ nợ công toàn cầu (Global debt clock) trên trang The
Economist.com, tính đến 10h00 (giờ Việt Nam) ngày 13/6/2014, nợ công của
Việt Nam đang ở mức trên 81,885 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người
là 905,18 USD; nợ công chiếm 47,7% GDP, tăng 10,9% so với năm 2013. Nợ
công toàn cầu thời điểm này đang ở mức trên 53.551 tỷ USD.
Mặc dù nợ công Việt Nam vẫn nằm trong ngưỡng an toàn tuy nhiên hiệu
quả sử dụng vốn vay của nước ta lại chưa cao nên áp lực trả nợ đối với nước ta là
rất lớn. Ngân sách bị thâm hụt liên tục trong một thời gian dài, các khoản chi của
chính phủ nhiều làm cho quy mô nợ công ngày càng gia tăng. Trong khi đó, hệ
thống các văn bản pháp lý, các quy định về quản lý, đánh giá về nợ công hiện
nay còn nhiều thiếu sót, chưa phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Quy
mô nợ công lớn, cơ cấu nợ công phức tạp, còn đầu tư dàn trải cho các dự án lớn
nên chậm giải ngân nguồn vốn. Nhà nước đã có những thay đổi tích cực để quản
lý nợ công và đầu tư công song chưa thực sự có hiệu quả…
Như vậy, hiện tại Việt Nam ở Việt Nam chưa có nhiều dấu hiệu của
khủng hoảng nợ công nhưng trong tương lai, Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt
với nguy cơ khủng hoảng nợ công nếu cách thức quản lý và sử dụng vốn vay
cho đầu tư công vẫn kém hiệu quả như trong thời gian qua
Trước những diễn biến của khủng hoảng nợ công thế giới và tình hình
nợ công của Việt Nam, câu hỏi đặt ra là, Việt Nam có thể học hỏi được gì từ
những cuộc khủng hoảng nợ công của các quốc gia trên thế giới nhằm tránh
phải đối mặt với khủng hoảng nợ công trong tương lai?
Câu hỏi này đã định hướng cho tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “

quát diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu. Phân tích nguyên

5
nhân, tác động của nó cũng như đánh giá về hệ thống giải pháp ứng phó của
Châu Âu. Qua đó có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về bản chất, mức độ
nghiêm trọng của khủng hoảng nợ công từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam trong việc kiểm soát nợ công, đề xuất chính sách phòng ngừa, đối
phó với vấn đề nợ công, hạn chế rủi ro khi khủng hoảng xảy ra.
Luận văn thạc sĩ kinh tế trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
“ Nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” của Phạm Văn Dũng
đã đề cập đến các vấn đề như khái niệm về nợ nước ngoài, các tiêu chí đánh
giá mức độ an toàn nợ nước ngoài đối với các quốc gia, đi sâu vào phân tích
thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả quản lí nợ ở nước ta như: hoàn thiện cơ chế quản lí
nợ nước ngoài, cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư, xây dựng một chiến lược
quản lý nợ thích nghi với bối cảnh hiện nay….
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: “ Nợ công Hy
Lạp, nguyên nhân và thực trạng” của Phạm Thị Thanh Bình và Lê Minh Tâm;
“Luận bàn về vấn đề nợ công ở Việt Nam” của Nguyễn Quốc Nghi…….
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu nói trên đều tiếp cận vấn
đề nợ công ở các góc độ khác nhau. Tất cả các công trình nghiên cứu này là
nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả luận văn từng bước tìm hiểu và đi sâu
vào vấn đề nợ công thế giới và nợ công Việt Nam trong giai đoạn vừa qua và
trong tương lai.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng về khủng
hoảng nợ công của một số quốc gia trên thế giới, luận văn nhằm rút ra
những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để tránh rơi vào tình trạng khủng
hoảng nợ công và đảm bảo an toàn nợ công trong thời gian tới.

7

6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về nợ công và khủng hoảng
nợ công.
- Phân tích và đánh giá được tình hình khủng hoảng nợ công trên thế giới
- Phân tích và đánh giá được thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay.
- Trên cơ sở tình hình khủng hoảng nợ công trên thế giới và tình hình nợ
công của Việt Nam, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong
việc đảm bảo an toàn nợ công, tránh khủng hoảng nợ công trong tương lai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nợ công và khủng hoảng nợ công
Chương 2: Thực trạng khủng hoảng nợ công của thế giới
Chương 3: Bài học kinh nghiệm nhằm tránh khủng hoảng nợ công cho
Việt Nam

8

phương nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nhà nước.
Theo hệ thống quản lí nợ và phân tích tài chính của hội nghị của Liên
hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công bao gồm các
nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao
gồm các doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền.
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) thì nợ công được hiểu
toàn bộ những khoản nợ của chính phủ và những khoản nợ được chính phủ
bảo lãnh. Trong đó:
- Nợ của chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài
của chính phủ và các đại lí của chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ
chức chính trị trực thuộc chính phủ và các đại lí của các tổ chức này, các
doanh nghiệp nhà nước.
- Nợ của chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước
ngoài của khu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực
công. Khu vực công bao gồm khu vực chính phủ và khu vực các tổ chức
công. Trong đó:
- Khu vực chính phủ gồm các chính phủ trung ương, chính quyền liên
bang, chính quyền địa phương.
- Khu vực các tổ chức công gồm các tổ chức công tài chính và phi tài chính.
Theo luật quản lí nợ công của Việt Nam được ban hành năm 2009 thì
nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính
quyền địa phương.
- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,
nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chính phủ

10
hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài Chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát
hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ
do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ

đúng trong những năm 1980, thời kì mà nhiều quốc gia không thể thanh toán
được các khoản vay ngân hàng của họ. Đến những năm 1990, khi mà thị
trường trái phiếu chính phủ nổi lên thì định nghĩa này không còn hoàn toàn
chính xác.
Dựa trên nhiều nghiên cứu của IMF, hai nhà kinh tế Andrea Pescatory
và Amadou N.R.Sy đã tổng hợp ra các hình thức chủ yếu của khủng hoảng nợ.
Khủng hoảng nợ xảy ra khi: một quốc gia bị vỡ nợ; có khoản nợ xấu lớn; có
khoản vay quy mô lớn từ IMF hoặc có điềm báo tai họa.
Thứ nhất, khủng hoảng nợ xảy ra khi một quốc gia bị vỡ nợ. Định
nghĩa này được các tổ chức tín dụng tập trung xây dựng dựa vào khả năng
không chi trả được nợ với các dấu hiệu như: Có sự chậm trễ trong việc thanh
toán lãi hoặc gốc, ngay cả khi việc thanh toán chậm được thanh toán trong
thời gian ân hạn, không có khả năng chi trả khi việc thanh toán nợ hàng năm
theo lịch trình không được thực hiện vào ngày đáo hạn, hoặc khi đề nghị hoán
đổi khoản nợ mới bao hàm những điều kiện kém thuận lợi hơn so với việc
phát hành ban đầu…
Thứ hai, khủng hoảng nợ xảy ra khi có khoản nợ xấu hơn. Có thể là:
- Khoản nợ xấu về gốc hoặc lãi về nghĩa vụ bên ngoài đối với các chủ
nợ thương mại (ngân hàng hoặc người nắm giữ trái phiếu) lớn hơn 5% tổng
dư nợ thương mại
- Có thỏa thuận gia hạn hoặc cơ cấu lại nợ với các chủ nợ thương mại
được liệt kê trong báo cáo tài chính phát triển của ngân hàng thế giới.

12
Nếu xác định theo tiêu chí này thì đã có khoảng 54 cuộc khủng hoảng
nợ xảy ra. Các cuộc khủng hoảng này có xu hướng tập trung vào những năm
1980, khi hầu hết các nước Mỹ La Tinh và một số nước Châu Phi không thể
thanh toán các khoản vay ngân hàng quá mức của họ trong những năm 1970.
Thứ ba, khủng hoảng nợ xảy ra khi có các khoản vay quy mô lớn từ
IMF, một quốc gia đang trải qua khủng hoảng nợ nếu: Quốc gia đó được xếp

Grennes và Koehler – Geil (2011)
Vẫn sử dụng thuật ngữ Ngưỡng nợ nguy hiểm, nhưng theo nghiên cứu
của Caner, Grennes và Koehler- Geib (2011) đối với 101 quốc gia (75 quốc
gia đang phát triển và 26 quốc gia đã phát triển) trong giai đoạn 1980 – 2008,
ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình cho tất cả các quốc gia đã lấy số liệu là 77%
GDP. Riêng các quốc gia đang phát triển thì con số này là 64% GDP.
Như vậy, theo cách tính của Caner, Grennes và Koehler – Geib, mặc dù
ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình của các quốc gia nói chung khá chênh lệch
so với cách tính của Reihart và Rogoff (77% so với 90 %). Tuy nhiên, ngưỡng
nợ nguy hiểm trung bình của các quốc gia đang phát triển là khá tương đồng ở
cả hai cách tính (64% và 60%).
1.2.3. Nhận diện khủng hoảng nợ công theo một số quan điểm khác
1.2.3.1. Kumar và Woo (2010) nghiên cứu 38 nền kinh tế phát triển và
đang phát triển trong thời gian 4 thập kỉ đã chỉ ra mối quan hệ giữa nợ công
và tăng trưởng nếu như nợ công vượt quá 90% GDP. Tác động của nợ công
đối với nền kinh tế đang phát triển lớn hơn so với các nền kinh tế phát triển.
Nếu nợ công tăng thêm 10%,tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm từ 0,15 đến
0,2% tại các nền kinh tế phát triển, từ 0,3 đến 0,4% tại các nền kinh tế đang
phát triển. Ngoài ra mức nợ cao cũng sẽ tạo nên nhiều rủi ro hơn và gây ra
khủng hoảng nợ công. Đối với các quốc gia mà nợ công đã vượt quá 90%

14
GDP, một mức gia tăng nợ công thêm 10% GDP sẽ đi kèm với tăng trưởng
giảm 0,19%, gây ra khủng hoảng nợ công. Còn nếu mức nợ ban đầu chỉ từ
30% GDP đến 60% GDP thì nợ công vẫn còn nằm trong ngưỡng an toàn.
1.2.3.2. Nghiên cứu của Presbitero (2010) dựa trên số liệu thống kê
tổng nợ công tại 92 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trong khoảng thời
gian từ 1990- 2007 đã tìm ra nếu nợ công vào mức khoảng 90% GDP thì nền
kinh tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tăng trưởng và đứng trước
nguy cơ khủng hoảng nợ công.

vụ nợ tốt hơn so với quốc gia có mức xếp hạng tín nhiệm thấp hơn. Quốc gia
có mức xếp hạng tín nhiệm cao hơn thì mức độ rủi ro trong việc thực hiện các
nghĩa vụ nợ sẽ thấp hơn.
Hiện nay ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín nhất là Moody’s, Fitch,
Standard & Poor’s (S&P). Mặc dù dựa trên các tiêu chí khác nhau nhưng về
cơ bản là đều đánh giá khả năng trả nợ của các quốc gia.
Bảng 1.1: Ý nghĩa xếp hạng tín dụng Moody’s
Xếp
hạng
Aaa
Aa1
Aa2
Aa3
A1
A2
A3
Baa1
Baa2
Baa3
Ý
nghĩa
Chất lượng cao
nhất
Chất lượng cao
Khả năng trả nợ
được cao
Đủ khả năng trả nợ
Xếp
hạng
Ba1

nền kinh tế quốc gia, cho nên khi một quốc gia bị hạ mức tín nhiệm thì có
nghĩa nền kinh tế đó đang gặp những khó khăn về tài chính hoặc đang tiềm ẩn
những rủi ro có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ.
Trong thực tế, khi những dự báo cho thấy nợ công của Hy Lạp có thể tăng
từ mức 113,4% GDP năm 2009 lên 121-125% GDP trong năm 2010. Hàng loạt
tổ chức quốc tế tuyên bố hạ định mức tín nhiệm của Hy Lạp trên thị trường tài
chính. Ngày 7/12/2009, Standard &Poor’s cho Hy Lạp điểm tín nhiệm A- với
triển vọng kém lạc quan. Ngay sau đó, Fitch đánh tụt điểm số của nền kinh tế
này từ A- xuống còn BBB+. Hy Lạp tiếp tục bán trái phiếu để có tiền cho ngân
sách. Lãi suất trái phiếu chính phủ của Hy Lạp liên tục tăng cao.
Cuối tháng 12/2010, Chính phủ Hy Lạp thông qua dự thảo ngân sách
với dự báo thâm hụt 9,1%. Standard & Poor’s hạ mức tín nhiệm quốc gia này
về mức BBB Quốc hội nước này lại điều chỉnh mức thâm hụt ngân sách về
8,7% và cắt giảm quỹ lương khoảng 4%. Từ đây, Hy Lạp rơi vào thời gian dài
bất ổn xã hội do làn sóng biểu tình phản đối của người dân.
Tháng 2/2012, Standard &Poor’s tiếp tục hạ mức tín nhiệm của Hy Lạp
và xem như Hy Lạp đã vỡ nợ một phần.
Tháng 3/2012, các chủ nợ tư nhân đồng ý hoán đổi 85% nợ cho Hy
Lạp, giúp cắt giảm khoảng 100 tỷ euro nợ khỏi nghĩ vụ nợ của quốc gia này.
Ngay lập tức, ngày 9/3, Fitch và Moody’s đồng loạt tuyên bố Hy Lạp đã vỡ
nợ. Như vậy, việc bị hạ mức tín nhiệm quốc gia đã cho thấy những dấu hiệu
bất ổn của nền kinh tế Hy Lạp đã bộc lộ ra bên ngoài và Hy Lạp đang bị đánh
giá thấp về khả năng thanh toán các khoản nợ.
Ngoài ra, Trong cơ cấu nợ công của các quốc gia mà vay nợ nước ngoài
chiếm tỉ lệ lớn, các khoản vay ngắn hạn là chủ yếu thì cũng tiềm ẩn nhiều rủi
ro cho nền kinh tế. Nếu các khoản vay được sử dụng hiệu quả, khả năng trả

Trích đoạn Gặp những bất ổn về tài chính Quy mô nợ công Sử dụng nợ công Trả nợ công Những nguy cơ về khủng hoảng nợ công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status