Xu hướng bảo hộ mậu dịch nhằm đối phó với khủng hoảng hiện nay trên thế giới và một số kiến nghị cho Việt Nam - Pdf 27

1
Lời nói đầu
Chủ nghĩa bảo hộ thương mại trên thực tế đã trở thành vấn đề gây tranh cãi
từ rất lâu, với vô số những lý lẽ không thể thuyết phục được nhau của cả bên ủng
hộ cũng như bên phản đối. Chủ đề này càng trở nên nóng bỏng hơn vào thời điểm
của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, khi nhiều nước phương Tây dù ra sức hô
hào ủng hộ tự do thương mại, trong khi mặt khác vẫn đưa ra những quyết định
nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước.
Chính sách bảo hộ dù sao vẫn là con dao hai lưỡi khi sử dụng, có thể làm
phức tạp thêm tình hình, thậm chí làm bùng nổ những cuộc chiến thương mại. Lời
cảnh báo này đã được nhắc tới không phải một lần trong hội nghị thượng đỉnh G-
20 hồi tháng 4 vừa qua tại London.
Tuy nhiên lịch sử cũng như những nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể xóa
bỏ hoàn toàn chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch. Đây có thể nói là một công cụ kinh tế
mang tính chính trị sâu sắc. Càng trong bối cảnh khủng hoảng, các nhà cầm quyền
càng bất chấp mọi nỗ lực tự do hóa thương mại quốc tế nhằm mục đích bảo hộ nền
sản xuất và trấn an người dân. Chính bởi vậy sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ mậu
dịch trong thời điểm hiện tại đã trở thành vấn đề cả thế giới quan ngại, chống bảo
hộ mậu dịch trở thành vấn đề cấp thiết với mọi quốc gia nếu muốn kéo nền kinh tế
ra khỏi khủng hoảng.
2
Mặc dù vậy, thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Các biện pháp bảo hộ mậu
dịch ngày càng được các quốc gia lạm dụng, nhất là EU và Hoa Kỳ, hai tác nhân
chính duy trì sự sôi động của nền kinh tế thế giới. Nghiên cứu lí thuyết, thực tế và
rút ra những kinh nghiệm, bài học, từ đó đề ra những kiến nghị cho Việt Nam là
mục đích chính của người viết khi chọn đề tài:
“Xu hướng bảo hộ mậu dịch nhằm đối phó với khủng hoảng hiện nay trên thế
giới và một số kiến nghị cho Việt Nam”
Do những hạn chế nhất định về mặt thu thập nguồn số liệu mới chuẩn xác
cũng như kỹ năng của bản thân người viết nên khóa luận này chỉ dừng lại ở mức
nghiên cứu những số liệu về bảo hộ mậu dịch đến tháng 6 năm 2009, từ đó đưa ra

Giáo dục Việt Nam 2009:
Chính sách bảo hộ mậu dịch là một hình thức trong chính sách thương mại
quốc tế trong đó nhà nước áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ thì trường
nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập
khẩu từ nước ngoài.
4
Mục đích của chính sách bảo hộ mậu dịch là hỗ trợ, bảo vệ và khuyến khích
các ngành công nghiệp non trẻ đang gặp khó khăn, đảm bảo duy trì việc làm trong
một số ngành cũng như đảm bảo sự phát triển cân đối của cơ cấu kinh tế, tránh
được những áp lực và tác động xấu từ bên ngoài.
1.1.2. Theo “Britannica Concise Encyclopedia”
Bảo hộ mậu dịch – Protectionism là những chính sách bảo hộ các ngành
công nghiệp trong nước chống cạnh tranh nước ngoài bằng thuế quan, trợ cấp, hạn
ngạch nhập khẩu, hoặc những rào cản khác đối với nhập khẩu. Biện pháp bảo hộ
chủ yếu là: Chính phủ đánh thuế, tăng giá của hàng nhập khẩu, làm cho chúng ít
hấp dẫn khách hàng hơn so với giá rẻ hơn sản phẩm trong nước; áp hạn ngạch nhập
khẩu, trong đó giới hạn số lượng hàng hoá có thể được nhập khẩu cũng là một cơ
chế bảo hộ.
1.1.3. Từ khía cạnh thương mại:
Bảo hộ mậu dịch là chính sách kinh tế hạn chế thương mại giữa các quốc
gia, thông qua các phương pháp như thuế quan cho hàng hoá nhập khẩu, hạn ngạch
hạn nhập khẩu và một loạt các quy định khác của chính phủ được thiết kế để ngăn
cản hàng nhập khẩu. Chính sách này đi ngược lại xu hướng toàn cầu hoá và nỗ lực
tự do hóa thương mại, nơi mà các rào cản thương mại được các chính phủ duy trì ở
mức tối thiểu để luồng vốn quốc tế tự do di chuyển. Thuật ngữ này chủ yếu được
sử dụng trong bối cảnh các nền kinh tế sử dụng các chính sách với mục đích bảo vệ
các doanh nghiệp và công nhân trong nước bằng cách hạn chế hoặc điểu chỉnh
thương mại với nước ngoài.
Tuy nhiên, bảo hộ mậu dịch chỉ là một giải pháp tạm thời để ngăn cản hàng
hoá nước ngoài xuất hiện tràn lan trên thị trường cạnh tranh với hàng nội địa. Về

điểm trước năm 1850, Mỹ trong giai đoạn 1860-1914, Đức (1870-1914), Nhật
(1950-1990)… Còn Anh do chuyển sang chính sách ủng hộ tự do thương mại từ
năm 1860 đã nhanh chóng mất vị trí cường quốc hàng đầu về tay Mỹ, trước khi
còn bị cả Đức vượt qua.
1.2.2. Khủng hoảng kinh tế 1930 và Đạo luật Smoot - Hawley
6
Trong lịch sử, nền kinh tế hàng đầu thế giới như nước Mỹ đã không ngần
ngại áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại trên tư thế của “kẻ mạnh” chỉ vì
những quyền lợi riêng của kinh tế trong nước. Tuy nhiên, không phải bao giờ
những biện pháp đơn phương như vậy cũng đem lại hiệu quả, khi chúng thường
gặp phải sự chống đối quyết liệt không những từ phía các quốc gia khác mà còn từ
nhiều doanh nghiệp của chính nước Mỹ. Điển hình như trường hợp đạo luật Smoot
- Hawley đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với kinh tế Mỹ cũng như toàn
thế giới.
Bất đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, khi ngành nông nghiệp Mỹ rơi
vào một giai đoạn khó khăn nghiêm trọng, ứng cử viên Herbert Hoover trong chiến
dịch tranh cử tổng thống vào năm 1928 đã hứa hẹn sẽ giúp đỡ các chủ trang trại
Mỹ bằng cách tăng thuế đối với các hàng hóa nông nghiệp nhập khẩu. Ngay sau
khi Hoover đắc cử, dự thảo về đạo luật này đã được giao cho thượng nghị sĩ Rid
Smoot và nghị sĩ Willis Hawley nghiên cứu soạn thảo. Tháng 5-1929, dự thảo đạo
luật Smoot - Hawley được đưa ra điều trần trước quốc hội và xuất hiện trên bàn
của tổng thống để chờ ký ban hành.
Tháng 9-1929, Nhà Trắng đã nhận tổng cộng 23 công hàm phản đối của các
nước đối tác với Mỹ về dự thảo luật này. Chính phủ các nước này đều khẳng định
sẽ nâng thuế đối với các hàng hóa xuất khẩu của Mỹ để trả đũa nếu Washington
quyết định ban hành đạo luật trên.
Chống lại đạo luật này còn có phần lớn các thương gia hàng đầu của nước
Mỹ, khi tất cả đều lường trước được hậu quả từ những đòn trả đũa của các đối tác.
Tháng 5-1930, đã có tổng cộng 1.028 nhà kinh tế của Mỹ cùng ký vào một
lá đơn thỉnh cầu gửi lên Nhà Trắng vì đạo luật trên. Trùm tư bản về ô tô Henry

họ (ví dụ liên quan đến an toàn thực phẩm , tiêu chuẩn môi trường, an toàn điện,
…) như là một cách để tạo rào cản đối với hàng nhập khẩu.
Thuế chống bán phá giá: Là biện pháp nhằm ngăn chặn hàng hóa nước
ngoài bán phá giá vào thị trường có thể gây ra cho các công ty địa phương nhiều
thiệt hại. Trong thực tế, thuế chống bán phá giá thường được sử dụng như một
hình thức áp đặt thuế quan đặc biệt với nước ngoài.
Trợ cấp trực tiếp: Chính phủ trợ cấp bằng cách trao cho doanh nghiệp
trong nước các hình thức thanh toán một lần hoặc các khoản vay giá rẻ khi họ
8
không thể cạnh tranh tốt với hàng nhập khẩu nước ngoài. Các khoản trợ cấp được
dùng với mục đích "bảo vệ" người lao động, và giúp doanh nghiệp trong nước
thích nghi với thị trường thế giới.
Trợ cấp xuất khẩu : Trợ cấp xuất khẩu thường được các chính phủ sử dụng
để tăng xuất khẩu thông qua những ưu đãi về cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Tỷ giá ngoại tệ : Một chính phủ có thể can thiệp vào ngoại hối trên thị
trường để hạ thấp giá trị của nội tệ bằng cách mua ngoại tệ trong thị trường ngoại
hối. Làm như vậy sẽ tăng chi phí nhập khẩu và giảm chi phí xuất khẩu, dẫn đến
một sự thay đổi trong cán cân thương mại. Tuy nhiên, chính sách này chỉ có hiệu
quả trong ngắn hạn, vì nó sẽ rất có thể dẫn đến lạm phát trong nước, mà từ đó sẽ
làm tăng chi phí xuất khẩu và giảm giá tương đối của hàng nhập khẩu.
Trên thực tế, các biện pháp được sử dụng nhiều nhất trong bối cảnh thương
mại hiện nay trên thế giới là thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp và chống bán
phá giá. Trong đó thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu là bộ đôi chính sách phổ biến
nhất.
2.1. Thuế quan
2.1.1. Khái niệm
Theo giáo trình “Quan hệ kinh tế quốc tế” – TS. Bùi Thị Lý– NXB Giáo dục
Việt Nam 2009:
Thuế quan là loại thuế đánh vào hàng hóa khi hàng hóa đó đi qua lãnh thổ
hải quan của một nước.

khẩu phần thiếu hụt (chênh lệch giữa Qd và Qs) ở mức giá thế giới, người tiêu
dùng có thể thoả mãn toàn bộ nhu cầu ở mức giá này.
Khi có thuế nhập khẩu cân bằng thị trường như sau: giá hàng hoá trong nước
bị tăng lên đến mức bằng giá thế giới công với thuế nhập khẩu kích thích những
nhà sản xuất trong nước sản suất thêm, đẩy sản lượng sản xuất trong nước từ Qs
11
lên Qs'. Tuy nhiên do giá tăng nên cầu của người tiêu dùng bị kéo từ Qd xuống
Qd'.
Rõ ràng việc giá bị đẩy lên cao đã làm cho người tiêu dùng phải trả thêm một
khoản tiền bằng diện tích của hình chữ nhật CEGH để mua số lượng hàng Qd'.
Phần diện tích hình ABF đã bị mất trắng, đây chính là tổn thất của xã hội để chi
phí cho sự yếu kém của những nhà sản xuất trong nước. Diện tích hình ECD lại là
một tổn thất nữa khi độ thoả dụng của người tiêu dùng bị giảm sút: thay vì có thể
tiêu thụ Qd hàng hoá, do có thuế nhập khẩu họ chỉ có thể tiêu dùng Qd' mà thôi.
Đối với sản xuất trong nước, thuế nhập khẩu làm giá ở thị trường nội địa
tăng lên, khuyến khích các nhà sản xuất trong nước phát triển. Mặt khác, như đã
phân tích ở trên, người tiêu dùng phải trả thêm một khoản ứng với diện tích BCEF.
Khoản trả thêm này một phần (bằng diện tích hình BCEF) được chuyển cho chính
phủ dưới dạng thuế nhập khẩu thu được, một phần (bằng diện tích hình AFGH)
được chuyển thành lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước do vậy hai phần này
không làm thiệt hại lợi ích tổng thể của quốc gia.
Tóm lại, thuế nhập khẩu dẫn đến cả thu nhập chuyển giao từ người tiêu dùng
sang chính phủ và nhà sản xuất trong nước đồng thời gây tổn thất lợi ích ròng của
toàn xã hội.
12
2.2. Hạn ngạch nhập khẩu
2.2.1. Khái niệm
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị một
mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng được xuất đi hoặc nhập về đến hoặc từ
một thị trường nào đó, trong một thời gian nhất định, thường là một năm.

trong khi phần còn lại (sự chênh lệch giữa Q1 và Q4) sẽ được chuyển sang nhà
nhập khẩu.
Khi mậu dịch tự do xuất hiện, người tiêu dùng được lợi đáng kể. Xét trên thị
trường thuần nội địa, thặng dư tiêu dùng được biểu diễn bởi vùng A. Mậu dịch tự
do làm tăng mức thặng dư tiêu dùng này, bao gồm B, C ,D, E, F, G, H, và I bời vì
người tiêu dùng chỉ phải trả mức giá là P2 cho chi mua hàng hoá thay vì mức giá
cao hơn P*, và họ có thể mua một lượng Q4 thay vì Q*. Mặt khác, các doanh
nghiệp trong nước phải chịu ảnh hưởng tiêu cực. Xét trên thị trường thuần nội địa,
thặng dư sản xuất trong nước được biểu diễn bởi vùng B, E và J. Và mậu dịch tự
14
do khiến họ mất đi vùng B và E, chuyển sang người tiêu dùng, bởi vì họ chỉ có thể
tính giá P2 thay vì P*. Cuối cùng, nền kinh tế sẽ được lợi trên những vùng C, D, F,
G, H, và I, trước khi mậu dịch tự do xuất hiện, hoàn toàn không có những thặng dư
này. Rõ ràng rằng, người được lợi ở đây là người tiêu dùng.
Khi có hạn ngạch, chính phủ sẽ hạn chế số lượng hàng nhập khẩu để tăng
giá và giúp các doanh nghiệp lấy lại phần thặng dư bị mất. Nếu chính phủ giới hạn
tổng lượng nhập khẩu tại sự chênh lệch giữa Q2 và Q3, lượng hàng nhập khẩu sẽ
giảm từ chênh lệch Q1 và Q4 sang chênh lệch giữa Q2 và Q3, giá sẽ tăng lên P1.
Hạn ngạch gián tiếp đẩy giá trong nước từ P2 lên P1 nên cũng khuyến khích
sản xuất trong nước phát triển.
Tuy nhiên, khác với thuế, hạn ngạch còn có thể biến một doanh nghiệp trong
nước trở thành kẻ độc quyền. Và do đó, họ có thể áp đặt giá cả độc quyền để thu
được lợi nhuận tối đa.
Chính phủ không có thu nhập từ hạn ngạch. Khi một hạn ngạch đựơc dùng
để hạn chế nhập khẩu thay cho thuế quan, thì lượng tiền thuế đáng ra Chính phủ
thu được sẽ rơi vào bất cứ người nào có giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch.
Những người có giấy phép này nhập khẩu hàng hoá và sau đó bán lại với giá cao
hơn tại thị trường trong nước.
2.2.4. Hạn ngạch thuế quan
Hạn ngạch thuế quan là chế độ trong đó quy định sẽ áp dụng một mức thuế

thị trường ra nước ngoài do hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh về giá. Việc
mở rộng quy mô thị trường này lại gây sức ép khó khăn cho ngành sản xuất
16
hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu: sự suy giảm sản lượng, doanh số bán,
lợi nhuận,…
Về mặt kinh tế học, tác động của trợ cấp là ngược lại với thuế quan,
đồng thời cũng tạo ra phần mất không cho xã hội làm giảm hiệu quả của tự
do mậu dịch.
Chính vì thế nước nhập khẩu sẽ có thể áp dụng biện pháp đối kháng:
“Thuế chống trợ cấp”. Nó là khoản thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu được
trợ cấp từ phía chính phủ nước xuất khẩu nhằm triệt tiêu những lợi thế do
khoản trợ cấp mang lại. Mức thuế này được thông qua sau một quá trình điều
tra xác định mức độ trợ cấp và mức độ thiệt hại gây ra của nước nhập khẩu.
2.4. Chống bán phá giá
2.4.1. Bán phá giá
a)Khái niệm:
Bán phá giá hàng hóa là việc bán sản phẩm của một nước sang một
nước khác với giá thấp hơn giá bán thông thường của hàng hóa đó tại nước
xuất khẩu.
b) Mục đích:
Về cơ bản bán phá giá hàng hóa được thực hiện với 3 mục đích chính:
- Gạt bỏ đối thủ cạnh tranh
- Thu lợi nhuận độc quyền
- Giải quyết hàng tồn kho
Việc bán hàng hóa với giá thấp như vậy nhằm mục đích loại bỏ các đối
thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường từ đó đẩy mạnh xuất khẩu.Khi thực hiện
bán phá giá, ban đầu người bán sẽ chịu lỗ, vì vậy họ phải có tiềm lực kinh tế
mạnh hoặc được sự hỗ trợ từ phái chính phủ. Sau khi chiếm lĩnh thị trường,
họ sẽ khống chế giá để thu lợi nhuận tối đa.
2.4.2. Chống bán phá giá

giới, tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia. Nhưng ngay trong thập niên đầu của thế kỷ này, cuộc khủng hoảng kinh tế với
quy mô toàn thế giới đã đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến các thể chế kinh tế, các
chính sách thương mại và các xu hướng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trong đó
nổi lên vấn đề gây tranh cãi về chủ nghĩa bảo hộ thương mại trong bối cảnh hiện
nay.
3.2. Nguyên nhân cơ bản của khủng hoảng
Nếu nói rằng toàn cầu hóa là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế thì điều
đó là không đúng. Nhưng toàn cầu hóa có tác dụng làm cho khủng hoảng lan rộng
hơn. Khủng hoảng là biểu hiện có tính chu kỳ của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng
19
lần này có thể có những điểm tương đồng với khủng hoảng của những năm 70, 80
của thế kỷ XX nhưng trong nội tại nền kinh tế thế giới thời kỳ này có những diễn
biến rất khác.
Có thể nói cuộc suy thoái đầu thế kỷ XXI được bắt nguồn từ 3 nguyên nhân
chính: sự buông lỏng quản lý của Nhà nước, sự đua tranh khốc liệt vì lợi nhuận và
hoạt động đầu cơ của các tổ chức tài chính, trong khi các định chế quản lý và giám
sát thị trường một cách bất cẩn. Sự tăng lên nhanh chóng của mậu dịch tiền tệ và
quy mô mở rộng của thị trường tài chính với sự ra đời các sản phẩm phái sinh mà
không được kiểm soát trong điều kiện toàn cầu hóa, đã khiến các tác nhân kinh tế
trở nên lúng túng trước những bất ổn của thị trường. Chính trong bối cảnh hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đã làm cho khủng hoảng lan tỏa nhanh
hơn và có tác động tới tất cả các nền kinh tế, nhất là những nước có mức tự do hóa
tài khoản vốn cao và có độ mở lớn về kinh tế…
Điều tất yếu xảy ra là các nước tìm cách đối phó với khủng hoảng kinh tế
bằng nhiều biện pháp, nhiều hình thức khác nhau trong đó có khuyến khích xuất
khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước, nhằm đảm bảo việc làm và duy trì tăng trưởng
kinh tế.
3.3. Bảo hộ mậu dịch làm khủng hoảng thêm trầm trọng
Chính sách bảo hộ dù sao vẫn là con dao hai lưỡi khi sử dụng, có thể làm

toàn cầu lần thứ hai về viện trợ cho thương mại, nhằm mở rộng khả năng buôn bán
21
của các nước đang phát triển, Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy cho biết, cuộc
họp về Viện trợ cho thương mại nhằm ủng hộ các nước đang phát triển khi các
nước này đang tìm cách hội nhập tốt hơn vào hệ thống buôn bán đa phương và để
tận dụng những cơ hội về xuất khẩu. Ông nói, vấn đề này ngày nay thậm chí còn
quan trọng hơn, bởi Viện trợ cho thương mại là bước chuẩn bị cần thiết cho các
nước nghèo thoát khỏi khủng hoảng và bây giờ không phải lúc để phớt lờ các lời
hứa về phát triển. Theo đó, kết quả cuộc họp về Viện trợ cho thương mại mong
muốn đẩy lùi những hiện tượng tương tự theo kiểu “người Mỹ mua hàng Mỹ”, hay
việc Trung Quốc siết lại việc xuất khẩu khoảng 20 loại khoáng sản bằng một lời
giải thích” mục tiêu chính của chính sách Trung Quốc về vấn đề xuất khẩu là bảo
vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên...”
Vòng phát triển Đô-ha sẽ đem lại nhiều cơ hội mở cửa thị trường cụ thể cho
các nước đang phát triển không có khả năng, nhiều nước sẽ không thể bắt kịp
những cơ hội này và hậu quả là không thể sử dụng thương mại như công cụ cho
công cuộc phát triển và xóa đói giảm nghèo. Các nước cần củng cố cơ sở hạ tầng,
khả năng sản xuất và đào tạo liên quan đến thương mại nếu thương mại hỗ trợ tốt
hơn cho các chiến lược phát triển và xóa đói giảm nghèo ở những nước đang phát
triển. Sáng kiến Viện trợ cho thương mại được đưa ra có liên quan mật thiết với kết
quả đầy tham vọng về phát triển của vòng đàm phán Đô-ha.
Theo ông Lamy, WTO và các đối tác của Viện trợ cho thương mại sẽ xây
dựng trên những thành quả đã đạt được từ trước tới nay trong các diễn đàn viện trợ
cho thương mại của khu vực và quốc tế, đồng thời củng cố vai trò của khu vực tư
nhân và xã hội dân sự để mở rộng cơ sở kinh nghiệm và các nguồn lực dành cho
buôn bán và phát triển.
22
WTO cho rằng nhiệm vụ cấp thiết đối với Nhóm 20 nền kinh tế phát triển và
đang nổi (G-20) là phải nhanh chóng hình thành một chiến lược bứt ra khỏi chủ
nghĩa bảo hộ cục bộ nhằm những biện pháp ứng phó khủng hoảng hiện nay đưa

thấy, những lời hô hào về ủng hộ tự do thương mại nhiều khi chỉ mang tính “sách
vở”. Các quốc gia sẽ luôn luôn áp dụng những chính sách này hay chính sách khác
không phải vì chúng mang tính hợp lý, mà do có lợi cho họ trong từng trường hợp
cụ thể. Đó là lý do khiến những chính sách bảo hộ vẫn sẽ còn tiếp tục trong thời
đại toàn cầu hóa hiện nay.
24
Chương 2: Xu hướng bảo hộ mậu dịch nhằm đối phó với
khủng hoảng trên thế giới hiện nay
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009 đã có những ảnh hưởng sâu xa đến
thương mại toàn cầu.Tai họa đầu tiên của cuộc khủng hoảng này là vấn đề tài chính
thương mại - lượng tín dụng cần thiết để cho 90% hàng hóa được buôn bán qua
biên giới. Mức lãi suất của những khoản nợ tài chính thương mại tăng nhanh 300%
vào mùa thu năm 2008, buộc WTO phải triệu tập một cuộc họp đặc biệt và buộc
Ngân hàng thế giới lập nên 1 quỹ tài chính thương mại. Khi cuộc khủng hoảng ảnh
hưởng đến nền kinh tế thực sự thì nó sẽ làm giảm cầu và cung hàng hóa trong
thương mại toàn cầu. Cuộc khủng hoảng có vẻ đang làm thương mại toàn cầu co
lại 2.8 % vào năm 2009, lần giảm đầu tiên từ năm 1982.
1. Thực tế gia tăng hàng rào bảo hộ trên phạm vi toàn cầu
Trong “Báo cáo bảo hộ thương mại toàn cầu 2009” – bản tổng kết các hoạt
động phòng vệ thương mại toàn cầu năm 2008 bao gồm: Chống bán phá giá,các
biện pháp đối kháng và biện pháp tự vệ - ta có thể thấy được sự gia tăng của các
biện pháp bảo hộ mậu dịch kiểu mới trong thời gian đầu của khủng hoảng.
1.1. Gia tăng các biện pháp chống bán phá giá
1.1.1. Số lượng các vụ kiện
Ta có thể thấy hoạt động chống bán phá giá gia tăng đáng kể trong năm
2008 so với năm 2007:
Bảng 1 – Số liệu các vụ khởi xướngđiều tra chống bán phá giá giai đoạn 1995-2008
Đơn vị: vụ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status