Thị trường quyền chọn cổ phiếu Việt Nam Cơ sở lý luận và áp dụng thực tiễn - Pdf 67

Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Theo cam kết gia nhập WTO mà Việt Nam đ ã tham gia vào đầu năm
2007, mở cửa thị trờng tài chính là vấn đề tất yếu xảy ra, trong đó có thị trờng
chứng khoán. Nhng cũng từ thời điểm chính thức trở thành thành viên của WTO
đến nay, đặc biệt vào năm vừa qua 2008 là năm ảm đạm của thị trờng chứng
khoán Việt Nam với chỉ số Vn-index liên tục chạm đáy và phá đáy. Chỉ số Vn-
index có đợt giảm xuống thấp nhất 286,85 điểm (ngày 10/12/2008) giảm 70%
1
,
đây là mức sụt giảm kỉ lục trong 8 năm hoạt động của thị trờng chứng khoán
Việt Nam. Thị trờng chứng khoán vừa qua đã khiến cho các nhà đầu t lo ngại
đến sự không an toàn về khoản đầu t của mình. Do đó vấn đề đặt ra là làm thế
nào để có thể tự bảo vệ mình trong thời điểm thị trờng chứng khoán đang không
mấy tiến triển này?
Theo nh PGS.TS kinh tế Trần Hoàng Ngân đã nhận định trên Kiến thức
chứng khoán tại trang web sti.com.vn ngày 14/07/2008 thì Điều bó tay nhà đầu
t (NĐT) trên thị trờng chứng khoán (TTCK) nớc ta là khi thị trờng lên cao thì
không có chứng khoán để bán và khi thị trờng xuống dốc lại không có tiền để
mua. Trên thế giới có rất nhiều những công cụ tài chính để NĐT tự bảo vệ mình
đồng thời đa dạng hóa phơng thức đầu t. Các công cụ tài chính này khiến cho
NĐT chủ động, yên tâm hơn và chung thủy hơn với TTCK. Khi đó những câu
hỏi nh: thị trờng bao giờ đến đáy, nỗi lo thị trờng sụt giảm sẽ không còn quá
đáng sợ vì NĐT đã có thể đầu t ở mọi trạng thái của thị trờng.
Một trong những công cụ tài chính giúp NĐT đó là chứng khoán phái
sinh. Đây là công cụ giúp NĐT phòng ngừa rủi ro, đầu t giá xuống khi thị trờng
1
trích nguồn: www.dongasecurities.com.vn ngày 31/12/2008
xuống dốc. Khi thị trờng càng đi xuống, những NĐT nắm giữ chứng khoán phái
sinh càng có lợi. Ngoài ra với sự cạnh tranh theo hai hớng đầu t ngợc nhau của
các NĐT, mua lên hoặc bán xuống, sẽ tạo lực cản để thị trờng không giảm

tích kinh tế, tổng hợp, so sánh.
5. Kết cấu của đề tài
Tên đề tài Thị trờng quyền chọn cổ phiếu Việt Nam: Cơ sở lý luận và áp dụng
thực tiễn
Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm 3 chơng:
Chơng 1: Tổng quan nghiên cứu về quyền chọn cổ phiếu
Chơng 2: Thực trạng áp dụng quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam
Chơng 3: Giải pháp phát triển thị trờng quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam
Chơng I: Tổng quan nghiên cứu về quyền chọn
cổ phiếu
1. Quá trình hình thành thị trờng quyền chọn
Giao dịch đầu tiên của thị trờng quyền chọn bán và quyền chọn mua bắt
đầu ở châu Âu và Mỹ từ đầu thế kỷ XVIII. Những năm đầu thị trờng hoạt động
thất bại vì nạn tham nhũng.
Vào đầu những năm 1900, một nhóm công ty đã thành lập Hiệp hội
những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn. Mục đích của Hiệp hội này là
cung cấp kỹ thuật nhằm đa những ngời mua và những ngời bán lại với nhau.
Nhà đầu t muốn mua quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty
này sẽ cố gắng tìm ngời bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc của
các công ty thành viên khác..., nếu không có ngời bán công ty sẽ tự phát hành
quyền chọn với giá cả thích hợp. Thị trờng hoạt động theo cách gọi là thị trờng
OTC (Over the counter market), các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn
giao dịch của thị trờng. Khi này thị trờng quyền chọn của Hiệp hội các nhà môi
giới và kinh doanh quyền chọn chịu hai áp lực của hai yếu tố. Một là, không có
thị trờng thứ cấp, ngời mua quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trớc
ngày đáo hạn. Hai là, không có kỹ thuật nào đảm bảo rằng ngời bán quyền chọn
sẽ thực hiện hợp đồng, nếu ngời bán không thực hiện hợp đồng thì ngời mua
phải tốn chi phí kiện tụng.
2
Đến tháng 4 năm 1973, Chicago Board of Trade đã lập thị trờng mới,

mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng.
Tại thời điểm xác định trong tơng lai, ngời mua quyền chọn có thể thực
hiện hoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) tài sản cơ sở. Nếu ngời mua
thực hiện quyền mua (hay bán), thì ngời bán quyền chọn buộc phải bán (hay
mua) tài sản cơ sở.
2.1. Phân loại quyền chọn
2.1.1. Phân loại theo quyền của ngời mua
3
Theo cboe.com
2.1.1.1. Quyền chọn mua (Call options):
Hợp đồng quyền chọn mua là một thỏa thuận giao dịch một lợng tài sản
cơ sở nhất định, trong đó ngời mua quyền chọn mua sẽ trả cho ngời bán quyền
chọn mua một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn và ngời
mua quyền chọn mua sẽ có quyền đợc mua nhng không bắt buộc phải mua một
lợng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã đợc thỏa thuận trớc vào một ngày
hoặc một khoảng thời gian xác định trong tơng lai. Ngời bán quyền chọn mua
đợc nhận tiền từ ngời mua quyền chọn bán nên ngời bán quyền chọn mua có
trách nhiệm phải bán sản lợng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện đã thỏa thuận
vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong
khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn
kiểu Mỹ), khi ngời mua quyền chọn mua muốn thực hiện quyền mua của mình.
4
Vào ngày thực hiện quyền (thờng cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau
khi xem xét với mức giá giao ngay của cổ phiếu ở ngày này, nếu thấy có lợi cho
mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện, ngời mua quyền chọn có thể
thực hiện quyền của mình để đợc mua lợng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực
hiện, rồi ra thị trờng bán lại với giá cao hơn để thu một khoản lợi nhuận. Nếu
thấy giá của cổ phiếu dới giá thực hiện, ngời mua quyền chọn có thể không cần
phải thực hiện quyền mua của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.
Ví dụ về quyền chọn mua cổ phiếu: giá của cổ phiếu REE là 80.000

không phải là nghĩa vụ phải bán lợng cổ phiếu đó theo một mức giá đã thỏa
thuận trớc (giá thực hiện) vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định
trong tơng lai. Ngời bán quyền chọn bán nhận đợc tiền từ ngời mua quyền chọn,
nên có nghĩa vụ phải mua lợng cổ phiếu đó ở mực giá thực hiện vào ngày đáo
hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi ngời mua quyền chọn bán muốn thực
hiện quyền đợc bán của mình.
5
Vào ngày thực hiện quyền (thờng cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau
khi xem xét giá giao ngay của tài sản cơ sở trên thị trờng, nếu thấy có lợi cho
mình, tức mức giá này nhỏ hơn giá thực hiện, ngời mua quyền chọn bán có thể
thực hiện quyền của mình để bán lợng cổ phiếu đó với giá thực hiện sau khi đã
mua đợc ở ngoài thị trờng với giá thấp hơn để thu một khoản lợi nhuận. Nếu
thấy giá giao ngay cao hơn giá thực hiện, ngời mua quyền chọn bán có thể
không cần thực hiền quyền chọn bán của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.
Ví dụ về quyền chọn bán: Giá cổ phiếu REE là 80.000đ, sau khi phân
tích bạn dự báo giá cổ phiếu REE sẽ giảm trong thời gian tới. Vậy để có lời, bạn
sẽ vay cổ phiếu của ngời khác và bán nó đi. Sau đó nếu giá cổ phiếu giảm dới
80.000đ, bạn sẽ mua lại để trả cho khoản vay cổ phiếu trớc đó. Nhng nếu
thực tế giá trị cổ phiếu REE trên thị trờng lên 100.000đ/cp chẳng hạn thì nếu
nhà đầu t muốn an toàn, ít rủi ro và vẫn thực hiện đợc dự báo của mình (cổ
phiếu REE giảm giá), nhà đầu t thử đầu t vào quyền chọn bán, cụ thể nhà đầu t
mua quyền chọn bán cho cổ phiếu REE với giá thỏa thuận trớc là 80.000đ/cp,
thời gian giá trị là 2 tháng với mức phí là 2.000đ cho một quyền chọn bán 1 cổ
phiếu REE, nếu đầu t 1.000 cổ phiếu thì phí quyền chọn bán là 2.000.000đ.
Trong thời gian 2 tháng đó nếu giá cổ phiếu REE giảm theo đúng dự báo thì
nhà đầu t (ngời mua quyền chọn bán) sẽ có lợi. Ví dụ giá REE giảm xuống còn
5
Giáo trình thị trờng chứng khoán: trang 301
50.000đ/cp, thì nhà đầu t sẽ có quyền bán cổ phiếu REE với giá thỏa thuận trớc
80.000đ/cp, so với giá thị trờng nhà đầu t sẽ có chênh lệch là 30.000đ/cp, trừ

ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc
cho nhiều mục đích khác. Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn này có thể đợc dễ
dàng chuyển nhợng giữa các nhà đầu t, điều này cho thấy tính thanh khoản cao
của các hợp đồng quyền chọn đợc giao dịch trên các thị trờng tập trung kiểu
này. Trên thế giới, thị trờng giao dịch quyền chọn theo kiểu này chiếm tỷ trọng
rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới.
Còn hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trờng phi tập trung (OTC) là
thỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn đợc ngời bán đa ra theo
thảo thuận với ngời mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một ngời mua, chúng
không đợc giao dịch trên các sở giao dịch tập trung. Hợp đồng thờng đợc giao
dịch giữa cá đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là cá
nhân, doanh nghiệp. Do các hợp đồng quyền chọn không đợc chuẩn hóa, chi tiết
6
OTC: over the counter
của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng
này là rất cao, đáp ứng đợc các nhu cầu cá biệt của các khách hàng. Dù vậy, các
giao dịch quyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao
dịch quyền chọn trên thế giới.
2.2. Các vị thế của quyền chọn của quyền chọn và chứng khoán cơ sở
2.2.1. Các vị thế quyền chọn
Có hai bên tham gia một giao dịch quyền chọn. Nhà đầu t đứng ở vị thế
mua chính là ngời mua quyền chọn. Nhà đầu t đứng ở vị thế bán chính là ngời
bán quyền chọn. Cụ thể với hai loại quyền chọn nh đã đề cập (quyền chọn mua
và quyền chọn bán) có 4 vị thế chủ yếu trong giao dịch quyền chọn: vị thế mua
quyền chọn mua, vị thế mua quyền chọn bán, vị thế bán quyền chọn mua và vị
thế bán quyền chọn bán.
Nếu giá thực hiện quyền chọn là K và ST là giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm
đáo hạn, mức đánh đổi của vị thế mua quyền chọn mua (kiểu châu Âu) là
max(ST K,0). Tức là nhà đầu t sẽ thực thi quyền chọn khi ST > K và sẽ
không thực thi khi ST < K. Mức đánh đổi của vị thế bán quyền chọn mua là

đơn giá là $100/cổ phiếu. Mỗi hợp đồng quyền chọn bán 100 cổ phiếu, tổng
cộng 5 hợp đồng đợc mua. Nếu giá phí quyền chọn là $4, lệ phí cho mỗi hợp
đồng là 100 x 4 = $400 và tổng cộng lệ phí mà nhà đầu t phải trả là: $2000. Với
phí là $2000 nhng đảm bảo rằng cổ phiếu có thể bán với đơn giá ít nhất là $100/
cổ phiếu trong suốt thời hạn của quyền chọn. Nếu giá thị trờng có thể giảm
xuống dới $100/cổ phiếu thì nhờ bảo hộ quyền chọn mà số cổ phiếu vẫn có thể
bán đợc 50.000$ - 2000$ = $48.000. Nếu giá thị trờng vợt trên $100/cổ phiếu
thì quyền chọn sẽ không đợc thực hiện. Tuy nhiên trong trờng hợp này giá trị
của cổ phiếu luôn ở mức 50.000$ hoặc trên 48.000$.
2.3.2. Sử dụng quyền chọn để đầu cơ
Thị trờng của các hàng hóa cơ sở thì biến động từng ngày, từng giờ. Với
chức năng cố định giá của mình, hợp đồng quyền chọn có thể đợc các nhà đầu
cơ sử dụng trong côn việc kinh doanh chênh lệch giá của mình.
Với khả năng chịu rủi ro cao và khả năng phân tích, dự báo tốt thì các
nhà đầu cơ có thể sử dụng công cụ quyền chọn để mua cổ phiếu ở mức giá cố
định nào đó (thấp hơn giá của hàng hóa đó ở thị trờng giao ngay), rồi đem
chúng ra bán lại ở thị trờng giao ngay với mức giá cao hơn theo dự đoán của
mình. Hoặc ngợc lại, nhà đầu cơ có thể mua cổ phiếu ở thị trờng giao ngay ở
mức giá thấp hơn theo dự đoán, rồi đem chúng bán lại ở mức giá cố định cao
hơn so với thị trờng giao ngay trong hợp đồng quyền chọn, giúp thu lợi nhuận từ
sự chênh lệch tỉ giá, giá cổ phiếu. Việc kinh doanh chênh lệch giá này chứa
đựng nhiều rủi ro, nhng đây chính là lực lợng đông đảo tham gia các giao dịch
quyền chọn ở các nớc, giúp tăng tính thanh khoản cho thị trơng quyền chọn
chứng khoán nói riêng và thị trờng chứng khoán nói chung.
2.3.3. Lợi nhuận của quyền chọn
Lý do phổ biến nhất cho việc mua quyền chọn mua là tìm kiếm lợi nhuận
với số tiền bỏ ra càng ít càng tốt. Nếu một nhà đầu t tin rằng giá cổ phiếu của
IBM sẽ tăng mạnh trong vài tháng tới, anh ta so sánh giữa rủi ro và phần thởng
tiềm năng của việc mua toàn bộ cổ phiếu bằng cách mua quyền chọn mua cổ
phiếu này.

t
> X. Nếu thực hiện quyền ngời mua sẽ mua cổ phiếu với giá
X, trong khi nếu ra thị trờng thì phải mua với giá S
t
> X. Khoản lợi thu đợc là S
t
X > 0. Nh vậy nếu S
t
> X, ngời mua sẽ thực hiện quyền và nhận đợc giá trị V
t
= S
t
X.
Trờng hợp S
t
bằng hoặc nhỏ hơn X. Nếu thực hiện quyền, ngời mua sẽ
mua cổ phiếu với giá X, trong khi hoàn toàn có thể ra thị trờng để mua với giá S
t
< X. Nh vậy, nếu S
t
nhỏ hơn hoặc bằng X, ngời mua quyền chọn mua sẽ không
thực hiện quyền và nhận đợc giá trị V
t
= 0.
Tóm lại, giá trị nhận đợc đối với ngời mua quyền chọn mua vào lúc đáo
hạn là:
V
t
= max[(S
t

t

X, hay nhận đợc giá trị V
t
= S
t
X. Nếu St nhỏ hơn hoặc bằng X, ngời mua
quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền và nh vậy giá trị mà ngời bán quyền
chọn mua nhận đợc là V
t
= 0.
Tóm lại, giá trị nhận đợc đối với ngời bán quyền chọn mua vào lúc đáo
hạn là:
V
t
= min[(X S
t
);0]
Ví dụ:
Trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM, nếu vào ngày đáo hạn
01/05/2007, giá cổ phiếu IBM là S
t
= 60 USD, thì ngời mua quyền mua sẽ
thực hiện quyền và đợc lợi 10USD trên 1 cổ phiếu. Ngợc lại, ngời bán quyền
sẽ bị thiệt 10 USD trên 1 cổ phiếu, do phải bán cho ngời mua với giá X = 50
USD trong khi có thể bán ra thị trờng với giá 60 USD. Còn nếu vào ngày đáo
hạn 01/05/2007, giá cổ phiếu IBM là S
t
= 40 USD, thì ngời mua sẽ không thực
hiện quyền. Ngời bán quyền nhận đợc giá trị bằng 0.

t
X.
Tóm lại, giá trị nhận đợc đối với ngời mua quyền chọn bán vào lúc đáo
hạn là:
V
t
= max[(X S
t
);0]
Ví dụ:
Quyền chọn bán cổ phiếu IBM có giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào
ngày đáo hạn 01/05/2007, giá cổ phiếu IBM là S
t
= 60 USD, thì ngời mua
quyền chọn bán sẽ không đợc lợi gì, vì nếu thực hiện quyền, anh ta sẽ bán 1
cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi có thể ra thị trờng để bán với giá 60
USD. Nh vậy, quyền sẽ không đợc thực hiện và giá trị nhận đợc bằng 0. Ngợc
lại, giả sử vào ngày đáo hạn 01/05/2007, giá cổ phiếu IBM là S
t
= 40 USD.
Nếu thực hiện quyền, ngời mua quyền chọn bán sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với
giá 50 USD, trong khi nếu bán ra thị trờng thì chỉ có thể bán với giá 40 USD.
Nh vậy, ngời có quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và khoản lợi nhuận sẽ
thực hiện quyền và khoản lợi anh ta nhận đợc là 10 USD.
Đối với quyền chọn bán, vào thời điểm đáo hạn hay ở bất kì thời điểm
nào khi quyền chọn có giá trị, nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S >
X), ta gọi quyền chọn bán là không có lời; nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá
thực hiện (S < X), ta gọi quyền chọn bán là có lời; còn nếu giá tài sản cơ sở
bằng giá thực hiện (S = X), ta gọi quyền chọn bán là hòa tiền.
Bán quyền chọn bán

t
= 60 USD, thì ngời mua quyền
chọn bán sẽ không thực hiện quyền và cả ngời mua lẫn ngời bán quyền chọn
bán nhận đợc giá trị bằng 0. Nếu giá cổ phiếu IBM là S
t
= 40 USD vào ngày
đáo hạn thì ngời mua quyền chọn bán chắc chắn sẽ thực hiện quyền và ngời
bán quyền chọn bán phải mua tài sản cơ sở với giá 50 USD, trong khi có thể
ra mua trên thị trờng với giá 40 USD. Nh vậy, ngời bán quyền chọn bán sẽ bị
lỗ 10 USD.
3.3. Những yếu tố liên quan đến quyền chọn
3.3.1. Những yếu tố cấu thành quyền chọn
Thứ nhất là tên của loại chứng khoán và khối lợng đợc mua theo quyền.
Để đợc giao dịch trên thị trờng quyền chọn chính thức, chứng khoán cơ sở của
hợp đồng quyền chọn (kiểu Mỹ) phải thỏa mãn các điều kiện sau:
1Tối thiểu có 7.000.000 cổ phiếu đang lu hành;
2Tối thiểu phải có 2000 cổ đông;
3Dung lợng giao dịch trên tất cả các thị trờng trong 12 tháng trớc phải đạt mức
tối thiểu là 2.400.000 cổ phiếu;
4Mức giá tối thiểu trong 3 tháng gần nhất là $7,50;
5Ngời phát hành phải tuân theo luật chứng khoán Securities Exchange Act 1934
Thứ hai là loại quyền. Có thể là quyền chọn bán hay quyền chọn mua tùy
theo mục đích của nhà đầu t.
Thứ ba là thời hạn của quyền. Tất cả các quyền lựa chọn đợc niêm yết
đều có ngày hết hạn cố định. Ngời mua quyền có quyền bán hoặc mua cổ phiếu
tại một thời điểm bất kỳ trớc ngày đáo hạn. Nếu nó không đợc thực hiện trớc
ngày đáo hạn, nó sẽ chấm dứt tồn tại. Ví dụ nh quyền chọn kiểu Mỹ thì một thứ
dùng để miêu tả một quyền chọn cổ phiếu là tháng của ngày đến hạn. Vì một
quyền mua tháng giêng cổ phiếu IBM là một quyền chọn mua cổ phiếu IBM với
ngày đáo hạn vào tháng Giêng. Thời điểm đến hạn chính xác là 10:59pm. Thời

ngời tạo thanh khoản cho thị trờng. Các nhà làm giá sẽ kiếm lợi nhuận từ mức
chênh lệch giá mua giá bán. Họ sử dụng vài công cụ để hạn chế các khoản rủi
ro của họ.
Đối với nhà môi giới sàn thì các nhà môi giới sàn thực hiện các giao dịch
cho dân chúng. Khi một nhà đầu t liên hệ với ngời môi giới của họ để mua hoặc
bán quyền chọn, các nhà môi giới chuyển tải các lệnh của họ đến các môi giới
sàn của công ty nơi quyền chọn sẽ đợc thực hiện.
Rất nhiều lệnh mà các nhà môi giới sàn nhận đợc là lệnh giới hạn (limit
order). Điều này có nghĩa là chúng chỉ có thể đợc thực hiện với mức giá đã đợc
dự tính hoặc với một mức giá thuận lợi hơn. Thông thờng, khi một lệnh giới hạn
đến tay nhà môi giới sàn, nó không thể đợc thực hiện ngay tức thời. Trong hầu
hết các trờng hợp, nhà môi giới sàn sẽ đẩy lệnh đó đến một ngời đợc gọi là nhân
viên nhận lệnh. Ngời này sẽ nhập lệnh đó vào hệ thống máy tính với các lệnh
chận khác. Điều này đảm bảo ngay khi giá giới hạn đợc chạm, lệnh sẽ đợc thực
hiện. Các nhà kinh doanh có thể tiếp cận đợc thông tin các lệnh chận này dễ
dàng (công khai).
Và cuối cùng là nhà đầu t, ngời đã mua một quyền chọn có thể đóng
trạng thái của họ bằng cách bán lại quyền chọn đó. Tơng tự, một nhà đầu t, ngời
đã bán một quyền chọn có thể đóng trạng thái của họ bằng cách mua lại quyền
chọn đó.
3.4. Giá của quyền chọn
Một quyền chọn có giá trị là bao nhiêu? Phí của quyền chọn thay đổi
theo sự chuyển động của giá cả chứng khoán cơ sở (chứng khoán cơ sở càng
biến động thì phí quyền chọn càng cao), bởi vì giá trị nội tại của quyền chọn khi
tăng khi giảm và vì thời gian vẫn còn cho đến khi ngày đáo hạn của quyền chọn
ngắn đi. Nhà đầu t quyền chọn, cũng nh các nhà đầu t khác, hy vọng là giá của
quyền chọn trên thị trờng sẽ tăng .
Khi một hợp đồng quyền chọn đáng giá để thực hiện quyền chọn, thì gọi
là quyền chọn trong giá. Một quyền chọn mua trong giá khi giá thị trờng của cổ
phiếu nhiều hơn giá thỏa thuận của quyền chọn. Ví dụ, một quyền chọn mua cổ

của quyền chọn bán cổ phiếu với giá cao hơn giá thị trờng của cổ phiếu đó. Ví
dụ, một quyền chọn bán MCS giá 40 có giá trị nội tại khi giá thị trờng của MCS
dới 40. Khi MCS đang giao dịch tại mức giá 35, chủ của quyền chọn bán giá 40
sẽ thu đc khoản lời $5/cổ phiếu bằng cách mua MCS với giá 35 và sau đó thực
hiện quyền chọn bán của mình với mức giá 40. Do đó, giá trị nội tại của quyền
chọn bán MCS giá 40 là 5 khi giá cổ phiếu cơ sở là 35.
Một quyền chọn là ngoài giá khi ngời chủ của hợp đồng quyền chọn
không thực hiện quyền chọn và quyền chọn ngoài giá thì không có giá trị nội tại
(mặc dù nó có giá trị thời gian).
3.4.2. Giá trị thời gian
Số lợng các nhà đầu t sẵn sàng trả một khoản cao hơn giá trị nội tại của
quyền chọn để mua và nắm giữ quyền chọn cho đến khi quyền chọn đáo hạn
gọi là giá trị thời gian của quyền chọn. Một quyền chọn đáo hạn vào một ngày
định trớc, càng cách xa ngày đó, thì có nhiều thời gian cho sự thay đổi trong giá
cả của cổ phiếu cơ sở. Do đó, thời gian qui định trong hợp đồng quyền chọn có
giá trị đối với ngời mua quyền chọn. Nói chung một nhà đầu t sẵn sàng trả
nhiều hơn cho một hợp đồng quyền chọn có thời gian đáo hạn còn dài hơn là
hợp đồng quyền chọn sắp đáo hạn. Bởi vì khi ngày đáo hạn của quyền chọn gần
cận kề thì giá trị thời gian của quyền chọn có khuynh hớng giảm dần. Trong ngày
giao dịch cuối cùng trớc khi đáo hạn, giá trị thời gian của quyền chọn sẽ không
còn và phí của quyền chọn thờng sẽ bằng giá trị nội tại của quyền chọn. Nếu
quyền chọn không còn thời gian nữa thì giá trị thời gian sẽ bằng không và tất cả
giá trị còn lại của quyền chọn là giá trị nội tại.
Do đó, một quyền chọn có thể có 2 loại giá trị, cả hai đều phản ánh trong
phí của quyền chọn. Quyền chọn có thể có giá trị nội tại và giá trị thời gian. Nói
chung, để tìm giá trị thời gian của quyền chọn thì ta tính giá trị nội tại của
quyền chọn và trừ đi mức phí của quyền chọn. Ví dụ, nếu một quyền chọn mua
IBM giá 50 đang giao dịch với mức phí 7
2
1

Mỗi giao dịch quyền chọn đều có giá chọn của nó. Với các quyền chọn
cổ phiếu, các giá chọn thông thờng có nhịp 2
1/2
$, 5$, hoặc 10$. Thông thờng các
giao dịch có cách chọn nhịp giá theo giá trị cổ phiếu chọn, nh thờng nhịp 2
1/2
$
sử dụng trong giá chọn cho các loại cổ phiếu có giá trị < 25$, nhịp 5$ sử dụng
cho các cổ phiếu có giá trị từ 25$ đến 200$, và nhịp 10$ sử dụng cho các cổ
phiếu có giá trị > 200$. Ví dụ vào thời điểm giao dịch, cổ phiếu Citicorp có giá
trị 12$ và các quyền chọn đợc giao dịch với giá chọn nh sau 10, 12
1/2
, 15,
17
1/2
Giá cổ phiếu IBM vào thời điểm giao dịch có giá 99$ thì giá chọn quyền
chọn đợc giao dịch là 90, 95, 100, 105, 110, 115.
Khi một ngày đến hạn mới đợc đa ra, 2 giá chọn gần với giá trị cổ phiếu
đang đợc giao dịch tại thời điểm thờng đợc chọn để trao đổi, giao dịch. Nếu một
trong 2 giá chọn quá gần với giá trị cổ phiếu hiện hành, giá chọn thứ 3 gần với
giá trị cổ phiếu hiện hành sẽ đợc chọn để thay thế. Nếu giá cổ phiếu dao động
vợt khỏi phạm vi mức giá chọn cao nhất hay thấp nhất đã định, giao dịch lúc đó
thờng sẽ phải đa ra một quyền chọn với mức giá chọn mới. Để minh họa các
quy luật này, chúng ta giả định giá cổ phiếu là 53$, khi giao dịch của các quyền
chọn tháng 10 bắt đầu. Các quyền chọn mua và chọn bán đầu tiên sẽ đợc chào
với các giá chọn là 50 & 55$. Nếu giá cổ phiếu tăng trên 55$, mức giá chọn 60$

Trích đoạn Giá trị của một quyền chọn bán kiểu Châu Âu để bán một cổ phiếu #: Độ biến động của giá cổ phiếu Thực trạng áp dụng quyền chọn cổ phiếu tại Việt Nam nghĩa của việc ứng dụng giao dịch quyền chọn ở thị trờng chứng khoán Việt Nam Thuận lợi và khó khăn của viêc ứng dụng giao dịch quyền chọn cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán Việt Nam Thị trờng quyền chọn cổ phiếu của Mỹ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status