Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN
-----------------
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP THU HÚT THỊ TRƯỜNG KHÁCH NGA VÀ
CỘNG ĐỒNG NÓI TIẾNG NGA VÀO VIỆT NAM TẠI
CÔNG TY DU LỊCH QUỐC TẾ NHẬT MINH
HÀ NỘI-04/2010
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
Giảng viên hướng dẫn : THS. TRƯƠNG TỬ NHÂN
Sinh viên thực hiện : TRƯƠNG ĐỨC THAO
Mã số sinh viên : CQ484211
Lớp : DU LỊCH 48
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói”, nước ta là quốc
gia có nhiều tiềm năng về du lịch.Vì vậy việc khơi dậy và khai thác các tiềm năng du
lịch của đất nước đang ngày càng được nhà nước và các doanh nghiệp, tổ chức chú
ý.Việc quảng bá hình ảnh về Việt Nam với bạn bè quốc tế thông qua con đường du
lịch cũng ngày càng phổ biến và đạt được nhiều thành công.Đặc biệt là khách du lịch
đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ kinh tế, chính trị với nước ta như:
Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Pháp, EU…
Nga là quốc gia mà tiền thân của nó là Liên Xô, quốc gia này đã có mối quan hệ
anh em với nước ta từ rất lâu đời.Cộng đồng người Việt ở Nga cũng rất lớn, người
Nga ở Việt Nam cũng nhiều, tình hữu nghị Nga-Việt ngày càng được củng cố và gắn
bó mật thiết.Do đó nhu cầu đi lại thăm bạn bè, thăm chiến trường xưa, học hỏi, giao
lưu…giữa nhân dân hai nước là rất lớn.Ngoài thuận lợi trên thì yếu tố khí hậu cũng
tạo điều kiện rất lớn để chúng ta thu hút khách Nga.Khí hậu nước Nga rất lạnh, đặc
du lịch của họ cung ngày càng đặc biệt và tổng hợp.Từ góc nhìn của các nhà nghiên
cứu về du lịch thì khách du lịch có thể được hiểu như sau:
Theo một nhà kinh tế học người Áo thì: khách du lịch là những người đặc biệt,
ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên, để thỏa mãn những nhu cầu cao cấp
mà không theo đuổi mục đích kinh tế.
Theo một nhà kinh tế người Anh thì: Để trở thành khách du lịch cần có 2 điều
kiện sau: thứ nhất là phải xa nhà một thời gian dưới một năm; thứ hai là phải dùng
những khoản tiền kiếm được ở nơi khác.
Theo khái niệm năm 1963 được đưa ra tại hội nghị quốc tế về du lịch họp tại
Roma-Italia thì: “Khách du lịch là những người khởi hành khỏi nơi cư trú thường
xuyên của mình, đi đến một nơi khác mà không nhằm mục đích kiếm tiền, phải có
thời gian lưu lại lớn hơn 24h (hoặc sử dụng ít nhất một tối trọ) đồng thời chỉ lưu lại
đó dưới một năm sau đó lại quay trở về.
Theo định nghĩa của Hội nghị quốc tế về du lịch họp tại Hà Lan năm 1989 thì:
Khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với
các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là 3 tháng, nếu quá 3
tháng phải được cấp giấy phép ra hạn..Sau khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú,
du khách bắt buộc phải rời khỏi nước đó và trở về hoặc đến nước khác; Khách du lịch
nội địa là những người đi xa nhà với khoảng cách ít nhất là 50 dặm vì các lý do khác
nhau trừ khả năng thay đổi chỗ làm việc trong khoảng thời gian cùng ngày hoặc qua
đêm.
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
Theo điều 20 trong pháp lệnh về du lịch của Việt Nam thì: Khách du lịch bao
gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.Khách du lịch nội địa là công dân
Việt Nam hoặc người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam đi du lịch trên
lãnh thổ Viêt Nam.Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
khách du lịch quốc tế chủ động.Đây là số liệu thống kê về tổng lượng khách du lịch
tại một thị trường cụ thể nào đó, xác định tại một thời điểm cụ thể nào đó.
Khách du lịch quốc gia (national tourist): National tourist=internal
tourist+outbound tourist.Nghĩa là khách du ịch quốc gia bằng tổng lượng khách du
lịch nội địa và khách du lịch quốc tế thụ động.Đây là số liệu thống kê tổng lượng
khách du lịch của một quốc gia nào đó đi du lịch tại một thời điểm.
1.1.2.2. Phân loại khách du lịch theo mục đích chuyến đi:
Khách du lịch công vụ: là khách đi du lịch với mục đích giải quyết công việc,
tìm kiếm bạn hàng, đối tác, dự hội nghị, hội thảo…Nơi đến của đối tượng khách này
thường là ở các thành phố lớn, thủ đô, các trung tâm kinh tế, văn hóa…Họ thường là
các thương nhân, thương gia, các nhà hoạt động chính trị, các chuyên gia…nên khả
năng thanh toán của họ rất cao, có đòi hỏi rất lớn và đặc biệt quan tâm đến vấn đề an
toàn.
Khách du lịch với mục đích nghỉ ngơi giải trí: Chủ yếu khách muốn nghỉ ngơi
thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, tránh những ồn ào, bụi bặm nơi đô thị,
họ muốn tìm đến những nơi thanh bình, yên tĩnh, có không khí trong lành, mát
mẻ.Nên tránh những phiền toái thường xảy ra trong chuyến đi.
Khách du lịch thể thao: Bao gồm các vận động viên, cổ động viên. Đây là loại
hình du lịch xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê các hoạt động thể thao như: Bóng đá,
bóng rổ, các môn thể thao khác...Dòng khách thường đổ về những nơi có các sự kiện
thể thao đặc biệt.Vì vậy, các nhà kinh doanh du lịch rất nên chú trọng đến các sự kiện
thể thao để có kế hoạch thu hút tốt nhất số lượng khách về với doanh nghiệp mình.
Khách du lịch thăm thân: Đây là loại khách đi với mục đích thăm thân nhân,
người nhà kết hợp đi du lịch.
Ngoài ra còn có một số mục đích nữa như: Khách du lịch tín ngưỡng, khách du
lịch nghiên cứu, khách du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe...
1.1.2.3. Phân loại khách theo độ tuổi và giới tính:
Sự khác nhau ở độ tuổi và giới tính cũng gây ra hành vi khác biệt trong tiêu
1.2.2. Nhu cầu của khách du lịch
Khi một người nào đó quyết định đi du lịch tức là họ đã có thời gian rỗi, có khả
năng thanh toán và có thể đã có sự hỗ trợ của các nhà kinh doanh lữ hành, lúc đó họ
đã là cầu thực sự và trở thành khách du lịch.Nhu cầu trong chuyến hành trình của một
khách du lịch được chia làm ba loại: Nhu cầu thiết yếu; Nhu cầu đặc trưng; Nhu cầu
bổ sung.
1.2.2.1. Nhu cầu thiết yếu:
Loại nhu cầu này là nhu cầu cơ bản không thể thiếu được trong mỗi chuyến đi,
tuy nhiên chúng không có tính chất quyết định cho việc lựa chọn chương trình du lịch
cũng như chất lượng của chương trình du lịch.Nhóm nhu cầu thiết yếu bao gồm
những nhu cầu như: nhu cầu vận chuyển, nhu cầu ăn uống và nhu cầu lưu trú.
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
Nhu cầu vận chuyển: Nhu cầu này của khách du lịch phát sinh do tính cố định
của tài nguyên du lịch và được hiểu là sự di chuyển của khách du lịch từ nơi ở thường
xuyên đến một nơi khác để tiêu dùng sản phẩm du lịch và quay trở về nơi ở thường
xuyên của họ.Ở tại điểm du lịch đó cũng phát sinh nhu cầu đi lại vì một chương trình
du lịch được xây dựng thường có đến nhiều nơi xung quanh tài nguyên du lịch
chính.Ngày nay, do đời sống kinh tế - xã hội đã được nâng lên rất nhiều và sự ra đời
của nhiều loại hình vận chuyển nên nhu cầu này dần được thỏa mãn một cách tối
đa.Một số yếu tố ảnh hưởng tới mong muốn thỏa mãn nhu cầu đi lại của khách du
lịch là: Khoảng cách di chuyển; mục đích chính của chuyến đi; khả năng thanh toán;
thói quen tiêu dùng; tình trạng sức khoẻ...
Nhu cầu lưu trú và ăn uống: Đây là nhu cầu tất yếu phải có trong thời gian thực
hiện chuyến đi.Các khách sạn mọc lên như nấm chính là để thỏa mãn nhu cầu này
của khách du lịch.Mức độ thể hiện nhu cầu lưu trú và ăn uống của khách tuỳ thuộc
vào các yếu tố như: khả năng thanh toán của khách; hình thức tổ chức chuyến đi; thời
gian của chuyến đi; khẩu vị ăn uống; sở thích, đặc điểm cá nhân của du khách; mục
đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi; giá cả, chất lượng dịch vụ của doanh
hoàn thiện mình.Điều đó càng dễ dàng thực hiện khi tham gia một chương trình du
lịch, thông qua ngôn ngữ, hình ảnh họ mới được tiếp nhận ở điểm du lịch.
Nhu cầu tìm hiểu: Bị chi phối bởi mục đích chuyến đi nên có một số người tham
gia vào chương trình du lịch chủ yếu là để nghiên cứu về một vấn đề nào đó. Tuy
nhiên nhìn chung khi tham gia vào một chương trình du lịch khách du lịch thường có
nhu cầu tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ ở nơi đến du lịch để không ngừng trau
dồi kiến thức cho riêng mình.
Việc thu hút khách tham gia vào chương trình du lịch của doanh nghiệp mình là
vấn đề đặt lên hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp du lịch, vì thế các doanh nghiệp
du lịch nên chú trọng thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của khách du lịch để thu hút khách.
1.2.2.3. Nhu cầu bổ sung:
Đây là những nhu cầu có thể có, có thể không phát sinh trong chuyến hành trình
du lịch, chúng không mang tính thiết yếu cũng không mang tính quyết định.Những
nhu cầu này có thể là nhu cầu thẩm mỹ, làm đẹp cho bản thân (cắt tóc, giặt là, trang
điểm); nhu cầu mua sắm (hàng lưu niệm, hàng tiêu dùng cá nhân...); nhu cầu về thông
tin liên lạc (Internet, Fax, Telex...); nhu cầu về y tế để chăm sóc sức khoẻ; nhu cầu
rèn luyện thể thao (chơi Golf, Tenis...).Ngoài ra, còn rất nhiều những nhu cầu phát
sinh khác mà cuộc sống hiện đại cần có.Hiện nay, các nhà kinh doanh du lịch đang
hướng tới việc khai thác nhu cầu này để thu lợi nhuận.
Nói tóm lại, một trong những yếu tố nhằm thu hút khách của doanh nghiệp du
lịch là hiểu được nhu cầu của họ là gì, họ mong muốn gì, làm thế nào để thỏa mãn họ
một cách tốt nhất.
1.2.3. Động cơ đi du lịch của khách
Để hiểu rõ về động cơ đi du lịch, cần phải tìm hiểu thế nào là động cơ hành vi
của một cá nhân.Động cơ hành vi được hiểu là nội lực được sinh ra từ nhu cầu mong
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
muốn cần được thỏa mãn.Động cơ đi du lịch của con người cũng không nằm ngoài lý
thuyết động cơ hành vi nói chung.Và động cơ đi du lịch được bắt nguồn từ nhu cầu
1.2.3.4. Động cơ về thân thế, địa vị, uy danh:
Động cơ này thúc đẩy người ta đi đến những cuộc hội nghị, hội thảo, hoạt động
nghiên cứu, theo đuổi việc học hành gần như là vì mục đích công việc.Có một số
người lại muốn chứng tỏ mình, muốn chơi trội, muốn được công nhận, hoặc muốn
được chú ý, được đề cao.Ví dụ như trên Thế giới, hiện nay xuất hiện loại hình du lịch
bay vào vũ trụ nhằm thỏa mãn động cơ này của các tỉ phú muốn khám phá vũ trụ và
còn muốn được cả Thế giới biết đến.
Mục đích của việc nghiên cứu động cơ đi du lịch của con người là nhằm giúp
các nhà kinh doanh du lịch định hướng chính sách sản phẩm, chính sách giá cả.Trên
cơ sở đó để biết được thị trường mục tiêu của mình để có hướng kinh doanh cho phù
hợp.Để tạo ra một chuyến đi du lịch, nếu chỉ có nhu cầu về du lịch thì chưa đủ mà
phải có động cơ để biến nhu cầu đó thành hiện thực.Do vậy, nghiên cứu động cơ đi
du lịch của con người là một công việc rất quan trọng và có ý nghĩa lớn, nó không
nằm ngoài việc nghiên cứu về khách du lịch mà còn củng cố hơn nữa mục tiêu kinh
doanh của một doanh nghiệp lữ hành.
Việc xác định chính xác động cơ đi du lịch có thể làm nền tảng cho việc xây
dựng chính sách sản phẩm và chính sách giá cả để đáp ứng các nhu cầu của khách du
lịch.Tuy nhiên, nhu cầu du lịch luôn luôn biến động như xã hội, các nhân tố bên
ngoài cũng như các nhân tố bên trong của khách du lịch.
1.2.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu của việc nghiên cứu đặc điểm nguồn khách
Hàng hoá sản xuất ra là để bán cho những người có nhu cầu tiêu dùng.Trong du
lịch cũng vậy, khi khách du lịch mua nhiều hàng hoá dịch vụ thì các doanh nghiệp du
lịch ngày càng phát triển do bán được nhiều sản phẩm, thu nhập ngày càng cao là tiền
đề cho sự phát triển của doanh nghiệp, còn nếu ít khách hoặc không có khách thì hoạt
động du lịch trở nên đình trệ, thất thu.Điều này chứng tỏ, khách hàng đóng một vai
trò quan trọng trong việc kinh doanh.“Khách hàng là thượng đế” - các doanh nghiệp
đặt khách hàng lên vị trí cao hơn bởi vì doanh nghiệp chỉ bán được những cái mà
khách hàng cần.Do vậy muốn kinh doanh có hiệu quả thì các nhà kinh doanh du lịch
phải chú trọng hơn nữa đến khách du lịch, xác định được vị trí của khách trong chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp.
thường gửi gắm chuyến đi của mình vào một doanh nghiệp đã có uy tín trên thị
trường.Như vậy, các doanh nghiệp lữ hành ngoài việc thu hút khách còn phải luôn
chú trọng tới vấn đề giữ uy tín.Ngày nay, chữ tín càng có giá trị cao, bởi vì con người
khi đã có một giá trị cuộc sống nhất định thì điều họ cần hơn cả chính là sự tin tưởng,
tin cậy lẫn nhau.Trong cuộc chiến của các doanh nghiệp du lịch, giữ vững được chữ
tín trên thị trường đã và sẽ mãi là một vũ khí sắc bén để thu hút khách.do vậy nhà
kinh doanh lữ hành cần đặt chữ tín lên hàng đầu trong kinh doanh.
Chất lượng của các chương trình du lịch: thể hiện ở chỗ khách du lịch tham gia
chương trình du lịch có được đáp ứng những yêu cầu của mình một cách tốt nhất
không, trải nghiệm thực tế có tiệm cận với những gì mà nhà kinh doanh lữ hành đã
giới thiệu hay không?Họ có bị cảm thấy là mình đang bi “ mắc lừa: hay không?Bởi vì
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp du lịch vì muốn thu hút khách tham gia chương
trình du lịch của mình, đã thông qua quảng cáo để đưa ra những chương trình hấp dẫn
nhưng khi tổ chức lại không như những gì hứa hẹn nên đã để lại cảm giác và ấn
tượng không tốt cho khách du lịch.
Chất lượng của các nhân viên phục vụ trong suốt chuyến đi, ví dụ về hướng dẫn
viên có nhiệt tình hay không, các thuyết trình viên có giới thiệu hấp dẫn, truyền cảm
hay không?Đặc biệt là các hướng dẫn viên, họ là người chịu trách nhiệm đối với đoàn
khách trong suốt chuyến đi, vì vậy chất lượng phục vụ của họ phải tốt.Góp phần
không nhỏ nữa là chất lượng phục vụ của nhân viên trong các khách sạn.Thông
thường các chương trình du lịch kéo dài ít nhất là 2 đến 3 ngày, nên khách du lịch
phải nghỉ lại tại các cơ sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ, chất lượng phục vụ của
các nhân viên trong khách sạn cũng phải đảm bảo để thu hút được khách.
Ngoài ra, còn phải kể đến trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, điều
hành.Chính họ là những người quản lý toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, định
hướng và xây dựng các mục tiêu chiến lược giúp doanh nghiệp đẩy mạnh việc tăng
cường thu hút khách.
thể thu hút được khách du lịch về doanh nghiệp mình.
Các sự kiện đặc biệt trên Thế giới như: các hội nghị, hội thảo có tính chất quốc
tế, các đại hội thể thao, các giải bóng đá lớn... cũng góp phần vào việc tăng số lượng
khách tham gia chương trình du lịch.
1.3.2. Một số biện pháp cơ bản nhằm thu hút khách du lịch của doanh nghiệp
kinh doanh lữ hành:
1.3.2.1. Hoàn thiện chính sách giá
Giá là một trong các nhân tố tác động mạnh đến tâm lý khách hàng cũng như
nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.Nó quyết định chủ
yếu đến mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được.Ngày nay, khi mà trình độ của con
người ngày càng cao, nhu cầu ngày càng lớn thì độ nhạy cảm về giá cũng ngày càng
tăng.Do đó khi xây dựng chiến lược sản phẩm cần phải định ra một chính sách giá
phù hợp.Tuỳ theo chu kỳ sống của sản phẩm, những thay đổi về mục tiêu chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp, tuỳ theo sự vận động của thị trường, và chi phí kinh
doanh, tuỳ theo thời vụ của mùa du lịch và tuỳ theo chính sách giá của các đối thủ
cạnh tranh mà doanh nghiệp kinh doanh đưa ra chính sách giá của mình, sử dụng
từng mức giá phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh cụ thể để lôi cuốn khách hàng.
1.3.2.2. Hoàn thiện chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm là phương thức kinh doanh có hiệu quả trên cơ sở thoả
mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh
doanh.Trong chính sách sản phẩm thì chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng đáp
ứng được nhu cầu đòi hỏi của khách.Chính sách sản phẩm là làm cho sản phẩm của
doanh nghiệp luôn có sức sống trên thị trường, hấp dẫn được thị trường.
Ngày nay, các nhà kinh doanh không những nghiên cứu để đáp ứng tối đa các
nhu cầu của khách hàng mà còn nghiêu cứu sâu các nhu cầu của họ để tạo ra các sản
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
phẩm định hướng và gợi mở nhu cầu của khách hàng, tạo ra sự hài long của khách
đến ngỡ ngàng.
phối.Trong kinh doanh du lịch thì các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh phân
phối và doanh nghiệp kinh doanh có thể lựa chọn các kênh phân phối.
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
SƠ ĐỒ: KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM DU LỊCH
Hầu hết các kênh phân phối trong du lịch đều được thực hiện thông qua các
công ty lữ hành.Thông qua các kênh phân phối nhà sản xuất tiêu thụ được nhiều sản
phẩm, có thêm nhiều khách hàng và thị trường mới, bởi vì thông qua các công ty, đại
lý lữ hành khác nhau của công ty để bán hàng.
1.3.2.4. Xúc tiến Marketing hỗn hợp
Quảng cáo: Là việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để giới thiệu,
tuyên truyền về sản phẩm, về doanh nghiệp cho người trung gian hoặc cho người tiêu
dùng cuối cùng trong một thời gian và không gian cụ thể. Một quảng cáo có chất
lượng cao thì nó phải đạt được các yêu cầu như: lượng thông tin cao, hợp lý, đảm bảo
tính pháp lý, tính nghệ thuật, phù hợp với kinh phí quảng cáo.Mục đích của quảng
cáo là gây dựng được hình ảnh về sản phẩm và dịch vụ của công ty trong tâm trí
khách hàng, gây được ấn tượng cho họ và kích thích họ mua hàng.
Quảng cáo là công cụ đắc lực cho cạnh tranh bán hàng.Đảm bảo được hiệu quả
trong quảng cáo cần phải thiết lập một chính sách quảng cáo, sau đây là các bước để
thiết lập một chính sách quảng cáo:
Xác định mục tiêu: mục tiêu của quảng cáo là để tăng sự nhận biết về mẫu mã,
nhãn sản phẩm, tăng sự hồi tưởng của khách hàng về sản phẩm gây được ấn tượng
mạnh của sản phẩm vào trong tâm trí khách hàng, kích thích họ mua hàng.
Xác định chương trình quảng cáo: khi xác định chương trình quảng cáo thì
doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm, xem xét các
phương tiện truyền tin.
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
15
Sản
ấn phẩm quảng cáo.
Xúc tiến bán hàng: Là biện pháp tiếp tục để tác động vào tâm lý khách hàng,
nắm bắt được nhu cầu và phản ứng của khách hàng về các dịch vụ của công ty. Và có
thể thu hút được khách hàng nhiều hơn.
Hình thức xúc tiến bán có thể là các phần thưởng, quảng cáo tại chỗ, mua sắm
thông qua hội nghị khách hàng, hội chợ triển lãm…
1.3.2.5. Một số cách đặc biệt khác
Thu hút khách thông qua việc tạo lập và xây dựng mối quan hệ với các đơn vị khác:
Có câu: “buôn có bạn, bán có phường”, đặc biệt là trong nền kinh tế cạnh tranh
gay gắt như hiện nay, một doanh nghiệp đơn lẻ khó có thể đứng vững trên thương
trường nếu như không thiết lập được cho mình các mối quan hệ.Có mối quan hệ chặt
chẽ với các đơn vị kinh doanh khác, doanh nghiệp du lịch sẽ có nhiều nguồn khách
hơn, vì vậy nên có chế độ hoa hồng và chế độ hậu mãi thỏa đáng.Ngoài ra cũng cần
có mối quan hệ với các bộ, ban, ngành có liên quan như các đơn vị chủ quản, hãng
hàng không, hải quan...để từ đó tạo nên sự đồng bộ trong hoạt động, hỗ trợ lẫn nhau
vì du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp đòi hỏi sự có mặt của nhiều ngành khác
nữa.Việc tạo lập và xây dựng các mối quan hệ đó đều phải dựa trên quan hệ bình
đẳng đôi bên cùng có lợi.
Ngoài ra, một bí quyết giúp các doanh nghiệp có thể thu hút khách nữa là luôn
luôn lắng nghe những góp ý của chính những khách du lịch, quan tâm đến ý kiến của
họ để từ đó đưa ra những điều chỉnh cần thiết và phù hợp.
Thu hút khách thông qua con đường ngoại giao, qua các hiệp hội, các mối quan
hệ đặc biệt…
Một số doanh nghiệp lữ hành có những lợi thế đặc biệt về quan hệ ngoại giao
mà các doanh nghiệp khách không có được như: lãnh đạo cao cấp của doanh nghiệp
có quyền lợi về chính trị, thường đi cùng các đoàn ngoại giao của nhà nước đi ra
nước ngoài làm việc thì họ sẽ có được những lợi thế vô cùng to lớn trong việc quảng
bá hình ảnh doanh nghiệp mình với bạn bè quốc tế.Mặt khác họ lại có được những
đặc quyền về thông tin, về các chính sách của nhà nước cũng như các chương trình
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú đối với
cá nhân hoặc địa chỉ trụ sở chính đối
với tổ chức
Giá trị
vốn góp
( đồng )
Phần vốn
góp
(%)
1 NGUYỄN THỊ
THANH HOÀI
Tập thể Viện công cụ và cơ giới hóa
Nông nghiệp, phố Phương Mai,
phường
Phương Mai-Quận Đống Đa-Hà Nội
14,000,
000,000
70
2 LÊ VĂN
NGHĨA
Tập thể Viện công cụ và cơ giới hóa
Nông nghiệp, phố Phương Mai,
phường
Phương Mai-Quận Đống Đa-Hà Nội
6,000,
000,000
30
2.1.1.2. Người đại diện theo pháp luật
Chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc
Họ và tên: NGUYỄN THỊ THANH HOÀI Giới tính: Nữ
2.1.1.3. Ngành nghề kinh doanh
Đại lý cung cấp các dịch vụ bưu chính viễn thông.
Cung cấp các dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ giao nhận, vận tải hàng hóa,
vận chuyển hành khách.
Đại lý bán vé máy bay, đại lý vận tải hàng không.
Dịch vụ tư vấn và giới thiệu việc làm trong nước (không bao gồm môi giới và
tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động).
Tư vấn du học.
Kinh doanh lữ hành nội địa, kinh doanh lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ
khách du lịch.
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ trong các lĩnh vực: tin hoc, ngoại ngữ hàng
không và du lịch, thư ký văn phòng, hướng dẫn viên du lịch, nghiệp vụ hàng không.
Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa.
Xuất nhập khẩu các mặt hàng của công ty kinh doanh.
Dịch vụ cho thuê xe các loại.
Dịch vụ vận tải hàng hóa, vận chuyển hàng hóa bằng ô tô.
Vận chuyển hành khách bằng ô tô theo hợp đồng.
2.1.2. Chức năng của công ty
a. Chức năng kinh doanh lữ hành:
Tổ chức các tour du lịch đón khách du lịch người Nga (chủ yếu là Vladivostok
và Moscow) và cộng đồng nói tiếng Nga vào du lịch tai Việt Nam.(thường là nghỉ tại
Việt Nam vào dịp tết cổ truyền của Việt Nam hoặc vào mùa nghỉ đông của Nga).Tour
chủ yếu là các tour đi Sài Gòn-Phan Thiết-Mũi Né-Ninh Thuận, Bình Thuận, Nha
Trang…Nói chung là Sài Gòn và các khu du lịch biển miền trung.
Tổ chức các tour cho các doanh nghiệp Việt Nam đi tham dự hội trợ, hội thảo,
xúc tiến đầu tư, du lịch tại Liên bang Nga.
Tổ chức các chuyến đi du lịch thăm viếng người thân cho người Việt có người
hàng kiểu Nga tại một số điểm đến phổ biến của khách, các khách sạn mini, khu nghỉ
dưỡng…Ngoài ra liên kết với các hãng hàng không Nga để mở các đường bay mới
tới Sài Gòn, Cam Ranh-Khánh Hòa.
2.1.3. Các yếu tố cấu thành
2.1.3.1. Tầm nhìn
Nhật Minh chủ yếu tập trung hoạt động thu hút khách Nga và cộng đồng nói
tiếng Nga vào Việt Nam.Với lợi thế về mối quan hệ thân thiện và hợp tác lâu dài với
các hãng hàng không của Liên bang Nga và một số hãng hàng không khác trên thế
giới, Nhật Minh đang hướng tới trở thành công ty lữ hành lớn chuyên về inbound
thông qua vận chuyển hàng không.
Có thể nói Nhật minh là một điển hình trong việc liên kết hoàn hảo giữa hàng
không và du lịch, liên kết này ngày càng được mở rộng và chặt chẽ, từ việc những
ngày đầu chỉ làm đại lý vé cho các hãng hàng không thì nay đã có thê lien kết với
chính những hãng hàng không đó để mở các đường bay tới các điểm đến du lịch.Cụ
thể là năm 2004, tổng giám đốc Nhật Minh là ông Lê Văn Nghĩa đã đóng cổ phần và
cùng với hãng Vladivostok avia lines của Nga để thành lập công ty cổ phần
Vladivostok tại Việt Nam và mở đường bay Hà Nội-Vladivostok rồi sau đó là Hồ Chí
Minh-Vladivostok và trong năm 2011 này sẽ có thêm đường bay mới Moscow-
Uzbekitan-Cam Ranh.
Nhật Minh cũng hướng tới những sản phẩm du lịch hoàn hảo và giảm thiểu
những tác động từ bên ngoài, từ các nhà cung ứng dịch vụ tại điểm đến bằng việc cho
xây dựng các văn phòng chi nhánh, các nhà hàng kiểu Nga, các khách sạn mini tại
một số điểm đến.
2.1.3.2. Sứ mệnh
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
Quảng bá hình ảnh đất nước, con người việt nam đến với bạn bè nước Nga và
cộng đồng nói tiếng Nga.
Xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết gắn bó giữa nhân dân hai nước Nga-Việt.
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
một nhà hàng phục vụ các món ăn kiểu Nga và Uzbekitan-Nhà hàng Uzbekitan
Restaurant ở số 60 phố Đào Tấn-Ba Đình-Hà Nội).
2.1.3.4. Chiến lược
a. Chiến lược về sản phẩm
Với các mục tiêu mà công ty đang theo đuổi ở trên thi Nhật Minh đã thực hiện
đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cung ứng tới khách hàng, tạo cơ hội lựa chọn nhiều
hơn cho khách hàng.Phát triển các sản phẩm dịch vụ có chiều sâu và cam kết đem
đến cho khách hàng những lợi ích lớn nhất, được hưởng dịch vụ hoàn hảo nhất.
Tích cực nghiên cứu đặc tính, thói quen tiêu dung của người Nga và cộng đồng
nói tiếng Nga đồng thời nghiên cứu những đặc thù của các điểm đến mà họ ưa thích
để tạo ra các sản phẩm du lịch mới phù hợp với nhu cầu của khách.
Chiến lược hạ thấp chi phí cũng được công ty theo đuổi, chiến lược này công ty
hoàn toàn có thể theo đuổi được vì họ có nền tài chính mạnh, họ cũng chính là nhà
cung ứng nhiều dịch vụ cho du lịch như: vận chuyển, ăn uống, lưu trú…
Đối với các sản phẩm du lịch ra nước ngoài, Nhật Minh đang hướng tới việc rút
ngắn chi phí chuyến đi tiến lại gần giá vé máy bay để khích lệ nhu cầu đi của khách
đồng thời sẽ kích thích nhu cầu mua sắm của khách ở các điểm đến.Muốn vậy Nhật
Minh đang xúc tiến mối quan hệ với các nhà cung ứng dịch vụ ở các điểm đến ở Nga,
ở Thái lan và ở Trung Quốc về việc phân chia lợi ích để có thể thực hiện sản phẩm
này.
Như vậy Nhật Minh đang theo đuổi một chiến lược sản phẩm mà ở đó lợi nhuận
đem lại không phải trực tiếp từ khách hàng mà từ các nhà cung ứng dịch vụ tại điểm
đến thông qua việc kích thích nhu cầu tiêu dùng của khách tại điểm đến.
b. Chiến lược về nguồn nhân lực
Hiểu rõ được tầm quan trọng của nhân tố người lao động có ý nghĩa quyết định
sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của công ty, ban lãnh đaoh Nhật Minh đã
theo đuổi những chiến lược, những cách làm sau để có một đội ngũ lao động tốt, yêu
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: THS. Trương Tử Nhân
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy công ty TNHH du lịch Quốc tế Nhật Minh
2.1.4.2. Chức năng của từng bộ phận
Đây là mô hình cơ cấu tổ chức trực tuyến chức năng, người lãnh đạo ra toàn bộ
quyết định trong họat động của công ty.Vì công ty TNHH Du Lịch Quốc Tế Nhật
Minh là công ty nhỏ nên mô hình này rất phù hợp với công ty.Trong đó, chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp, các bộ phận của công ty là:
Giám đốc công ty kiêm chủ tịch hội đồng thành viên là bà Nguyễn Thị Thanh
Hoài: Chịu trách nhiệm và điều hành mọi hoạt động của công ty.Trực tiếp quản lý và
điều hảnh phó giám đốc và các trưởng phòng, quyết định chiến lược kinh doanh cho
công ty.Phụ trách công tác đối ngoại và uỷ quyền cho phó giám đốc khi cần
thiết.Đồng thới cũng là người phát ngôn chính thức của công ty.
Phó giám đốc (1 người) ông Nguyễn Tiến Sơn chịu trách nhiệm trứơc giám đốc
về các công việc được giao phó, cùng với giám đốc điều hành công ty và lập kế
hoạch hoạt động cho công ty.Ngoài ra, phó giám đốc sẽ thay mặt giám đốc đàm phán
với các đối tác và điều hành công ty khi giám đốc vắng mặt.Bên cạnh đó, có trách
nhiệm tham mưu cho giám đốc về việc xắp xếp nhân sự, tài chính cho phù hợp hay
các quyết định chiến lược ngắn hạn hay dài hạn của công ty.
Phòng kế toán (4 người): Chịu trách nhiệm hạch toán kinh doanh cho toàn bộ
các mặt hoạt động của công ty theo chế độ tài chính hiện hành.Lập kế hoạch về tài
SV: Trương Đức Thao Lớp: DL48
25