Triết học là khoa học - Pdf 67

Ldthieu sưu tầm 1
Liệu triết học có phải là khoa học không?
Ở mỗi thời, mỗi trường phái triết học đều có những quan điểm khác nhau về triết
học.
Khởi thuỷ triết học ở phương Tây có ý nghĩa là yêu thích sự thông thái. Philos (Greek)
= theo đuổi, Sophos (Greek) = khôn ngoan. Triết học mang nghĩa là Theo đuổi sự khôn
ngoan. Ở thời điểm triết học ra đời thì khoa học theo nghĩa là một hình thái ý thức xã
hội phản ánh hiện thực khách quan (bằng hệ thống chân lý về thế giới được diễn đạt
bằng các khái niệm, giả thuyết, học thuyết, nguyên lý... thông qua hoạt động nghiên cứu
khoa học đặc thù) vẫn còn chưa xuất hiện.
Trong quá trình phát triển, triết học ngày một đa dạng, phức tạp hơn và thường xuyên
biến đổi, có thâm nhập trao đổi qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác: khoa học,
nghệ thuật, mỹ học, tôn giáo… Chúng ta có thể nói đến mối quan hệ qua lại giữa khoa
học và triết học nhưng có nhiều sách báo, học giả quan điểm đồng nhất chúng với nhau,
có nghĩa là: Triết học chính là Khoa học. Chúng ta thường gặp những phát biểu như sau
về triết học: “triết học là ngành khoa học về tự nhiên, xã hội, tư duy... “
“Có thực triết học là khoa học không?” gắn với sự nghi ngờ về tính chất của ngành này
là một câu hỏi khoa học chân chính, một câu hỏi triết học đối với chúng ta. Triết gia và
những người quan tâm đến triết học cần phải nhìn lại, nhận thức đúng về ngành Triết
học để soi lại mình và định hướng để cho triết học phát triển tiếp.
A. Quan điểm coi Triết học không phải là Khoa học cho rằng triết học chưa bao giờ và
sẽ chẳng bao giờ là khoa học cả.
Việc đồng nhất Triết học là khoa học của khoa học hay là như một ngành khoa học nào
đó cũng cần phải xem xét lại. Quan điểm này dựa trên 7 đặc điểm khác biệt cơ bản giữa
triết học và khoa học:
1. Ở mức độ này hay khác thì tất cả các kết luận của khoa học phải được chứng minh
nhờ các sự kiện, quan sát và thực nghiệm. Nhưng triết học lại thờ ơ với việc xác nhận
này.
2. Các khẳng định khoa học được kiểm tra một cách kinh nghiệm và có thể bác bỏ bởi
thí nghiệm. Nhưng những khẳng định của triết học không được kiểm tra và không bị
bác bỏ.

thành và thể hiện sự nhìn nhận riêng với thế giới, mối quan hệ cá nhân với thế giới...
Quan điểm này giải thích được vấn đề tại sao các quan điểm của cá nhân là khoa học
gia hay những người không liên quan đến hoạt động khoa học lại vẫn được coi là quan
điểm có “mang tính triết học”. Đó là bởi những quan điểm ấy đóng góp hình thành nên
hệ thống hoàn chỉnh các quan điểm về thế giới cho một cá nhân hay cộng đồng.
Khi đã coi triết học không phải là khoa học, việc còn lại là chúng ta xem xét mối quan
hệ giữa chúng với nhau. Có quan điểm cho rằng đó là loại quan hệ chủ thể - khách thể
đối lập nhau. Các ngành khoa học như vật lý, hoá học… thể hiện nhân tố đối lập giữa
chủ thể và khách thể, sự nhận thức của chúng tất yếu phải loại trừ cái chủ thể trong tri
thức. Ngược lại, dù có những sự khác nhau, các học thuyết triết học đều thể hiện nhân
tố đồng nhất chủ thể và khách thể.
“Thế giới nhập vào trong cấu trúc của tự ý thức với tư cách là khách thể của chính sự
đồng nhất của ý thức”. Bởi thế trong sự nhìn nhận triết học, thế giới gắn bó bên trong
Ldthieu sưu tầm 3
với ý thức, cùng với nó tạo nên một chỉnh thể duy nhất thể hiện sự thống nhất bên trong
của con người và tự nhiên. Chỉnh thể này tạo nên nội dung của khái niệm tồn tại. Với tư
cách là nhân tố của chỉnh thể này, thế giới là đối tượng nhận thức của triết học.
B. Quan điểm ngược lại thì coi Triết học là khoa học, đã là Triết học thì phải mang tính
khoa học
Chính Mác và Ăngen đã đặt cơ sở cho triết học khoa học bằng nhận thức duy vật lịch
sử. “Nhận thức duy vật quá trình lịch sử làm cho triết học của chủ nghĩa Mác trở thành
một khoa học chân chính”.
Triết học có mặt ở trong các tư tưởng bao trùm cả thời đại và sẽ là phi lý khi giả định
nó bước qua thời đại ngày nay - thời đại mà tính duy lý khoa học được xem xét như chỉ
số của tinh thần. Vậy thời đại của chúng ta phải có triết học mang tính khoa học.
Chúng ta có thói quen coi khoa học là những tri thức phổ biến, khách quan và không
mang tính cá nhân. Nhưng đồng nhất tính khoa học với tính phổ biến, chúng ta cũng có
thể phủ nhận tính khoa học với các khoa học về hệ thống đang phát triển chừng nào mỗi
hệ thống như thể là đơn nhất và tuân theo những quy luật hoạt động và phát triển đặc
thù của riêng mình. Chúng ta cũng không thể nào phủ nhận dấu ấn của cá nhân, người

với sự hình thành triết học với tư cách một hình thái ý thức xã hội. Vì thế khoa học triết
học không có tên riêng mà trộn với hình thái ý thức xã hội tương ứng. Nó cũng giải
thích vì sao từ lâu người ta đồng nhất Khoa học với Triết học.
Sự khác biệt có thể phân biệt là hình thái triết học của ý thức xã hội (có thể gọi với một
cái tên khác là triết lý) chính là sự hướng ra ngoài, là quá trình thấu hiểu của triết học về
thế giới – thế giới quan. Còn khoa học triết học (vẫn thường dùng với cái tên truyền
thống là triết học) - đó là sự phản tư triết học hướng đến bản thân mình (đến thế giới
quan) hoàn thành vai trò phương pháp luận và là “sự tự nhận thức” của xã hội.
Vậy đấy, thế còn bạn nghĩ sao? Triết học có là khoa học chăng?
Nếu ta nhận thức được rằng, triết học có những yếu tố không mang tính khoa học thì nó
sẽ giúp ta thoát khỏi tình trạng giáo điều trong suy tư triết học, tạo điều kiện cho sự phát
triển tự do, sáng tạo tri thức triết học. Ngoài phương diện về nhận thức luận ra, triết học
còn chứa đựng cả phương diện đánh giá mang tính cá nhân. Giá trị học thể hiện vai trò
của tác giả trong việc biện minh, tiếp nhận các quan điểm, các hệ thống triết học khác
nhau đối với cá nhân.
Về nguồn gốc triết học Việt Nam
TS. Trần Văn Khánh
Tạp chí Triết học
Theo chúng tôi, cần phải khẳng định rằng, Việt Nam có triết học. Về nguồn gốc nhận
thức, ngay từ thời kỳ Đông Sơn, nhận thức của người Việt đã đạt đến trình độ tư duy
trừu tượng và thực tế, đã có sự hình thành những mầm mống của triết học. Nguồn gốc
xã hội của triết học Việt Nam có nét đặc thù riêng - không gắn với sự phân chia giai
cấp trong xã hội, mà chủ yếu gắn với công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giành
và giữ vững độc lập của dân tộc. Bắt đầu từ khi nước ta bước vào thời kỳ xây dựng
quốc gia độc lập (thế kỷ X), những tư tưởng triết học về xã hội, về thực tiễn giữ vai trò
trung tâm và xuyên suốt cho đến sau này. Triết học Việt Nam tiếp tục được kế thừa, bổ
sung, phát triển và đặc biệt đã tỏa sáng rực rỡ trong tư tưởng triết học của Hồ Chí
Minh.
Ldthieu sưu tầm 5
Mặc dù một số tài liệu cả trong nước và ở nước ngoài đã nói về triết học Việt Nam

thức và nguồn gốc xã hội về sự ra đời của triết học, cũng như xem xét các chức năng cơ
bản của triết học, như chức năng thế giới quan, chức năng phương pháp luận, chức năng
nhân sinh quan của triết học thì Việt Nam hoàn toàn có triết học. Vấn đề đặt ra ở đây là,
sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của triết học Việt Nam thông qua những hình thức đặc
thù như thế nào? Trong bài viết này, chúng tôi chỉ bước đầu đi vào tìm hiểu về nguồn
gốc ra đời của nền triết học nước ta.
Như chúng ta đã biết, triết học ra đời với hai nguồn gốc: nguồn gốc nhận thức và nguồn
gốc xã hội.
1. Về nguồn gốc nhận thức
Ldthieu sưu tầm 6
Triết học với tiêu chí như là một hệ thống những tri thức chung nhất của con người về
tự nhiên, xã hội và tư duy chỉ ra đời khi nhận thức của con người đạt tới một giới hạn
nhất định. Đó là ở trình độ nhận thức lý luận. Điều đó cũng có nghĩa là khi ngôn ngữ đã
phát triển tới giai đoạn có chữ viết.
Ở Việt Nam, theo các nhà khoa học, cách nay bốn nghìn năm, vào thời kỳ Tiền Đông
Sơn, thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, mà trước hết là hoạt động sản
xuất, nhận thức của cư dân người Việt đã đạt đến trình độ tư duy trừu tượng. Những
nhận thức này được biểu hiện thông qua kỹ thuật chế tác công cụ lao động bằng đá và
bằng kim loại. "Do đó, chúng ta phải đánh giá cao hoạt động tư duy trừu tượng của cư
dân Tiền Đông Sơn, mà trong một chừng mực nào đó, có thể gọi là tư duy khoa học của
họ. Chính thứ tư duy chính xác đó được phát triển nhờ hoạt động sản xuất, nhưng nó lại
có tác động ngược lại một cách tích cực với kỹ thuật sản xuất"
(2)
. Theo suy đoán, từ thời
kỳ Đông Sơn về sau, đã hình thành các huyền thoại, hơn nữa có quan điểm còn cho
rằng thời kỳ này cũng bắt đầu xuất hiện một hệ thống thần thoại khá ổn định
(3)
. Như
vậy, ở thời kỳ Đông Sơn, nước ta đã hình thành và phát triển những mầm mống của
triết học, "tiền triết học" hay nói như Nguyễn Đăng Thục là "ngụ ý triết học", "là triết

thâm độc này đều bị nhân dân ta kiên quyết chống lại để bảo vệ nền văn hiến của mình.
Cùng với Nho giáo còn có Phật giáo và Đạo giáo cũng được truyền vào nước ta. Sự
tương tác của tam giáo này trên cơ sở những tư tưởng 'triết học của dân tộc Việt Nam,
xuất phát từ thực tiễn quật cường của đất nước, đã từng bước tạo nên tư tưởng triết học
Việt Nam. "Cái quý giá” trong di sản ấy là trình độ nhận thức vững chắc về tự nhiên và
xã hội, về cuộc sống đấu tranh chống thiên tai địch hoạ và mỗi tâm lý có bản sắc riêng
thể hiện trong phong tục, nếp sống và sự ứng xử giữa mọi người. Chủ nghĩa yêu nước,
tinh thần chiến đấu dũng cảm để bảo vệ Tổ quốc và lật đổ ách thống trị của ngoại bang
nhất giải phóng dân tộc như một ngọn lửa cháy trong di sản ấy"
(6)
.
Thời kỳ xây dựng quốc gia độc lập thịnh vượng (thế kỷ X đến thế kỷ XV) là thời kỳ mà
dân tộc ta đã giành được độc lập, tự chủ bằng xương máu của mình. Những thắng lợi vĩ
đại của công cuộc dựng nước và giữ nước ấy được phản ánh sinh động và rực rỡ trong
đời sống ý thức của dân tộc, trong đó tư tưởng triết học về dân, về con người, về dân
tộc… hay nói chung hơn, những tư tưởng triết học về xã hội, về thực tiễn giữ vai trò là
trung tâm của nó và xuyên suốt về sau.
Triết học Việt Nam tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển gắn liền với hoạt động
thực tiễn dựng nước và giữ nước của dân tộc và đỉnh cao của sự phát triển ấy được toả
sáng rực rỡ trong tư tưởng triết học của Chủ tịch Hồ Chí Minh. "Chính những tư tưởng
triết học của Hồ Chí Minh là kim chỉ nam chỉ đạo hệ thống những luận điểm cách mạng
nổi tiếng của Người. Nó quyết định tính đúng đắn của đường lối chiến lược, sách lược
của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vạch ra, là một trong những
nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam"
(7)
.
Như vậy, xét về nguồn gốc ra đời, triết học Việt Nam hoàn toàn có cơ sở nhận thức và
xã hội của nó. Việc tiếp tục tìm hiểu khái quát để làm rõ những nội dung phong phú,
sâu sắc, trong tính chỉnh thể của nó, thiết nghĩ, đó là trách nhiệm cấp bách của các nhà
lý luận.

cùng của khoảng độ, thì sự thay đổi về lượng không còn thuần tuý là sự thay đối về
lượng nữa, mà đồng thời gây ra sự thay đổi về chất”, triết học gọi thế là chuyển hoá từ
những thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất gọi tắt là quy luật lượng-chất. Nói
thế không biết có quá không.
Có người bảo, sức sống của một dân tộc và của một nền văn hoá được thể hiện rõ nhất
là qua những cuộc chiến tranh. Người Việt Nam ta về mặt này cứ gọi là ... yên trí lớn.
Nhưng có lẽ còn cần phải nói thêm về một thể hiện khác, đó là sự cọ sát với những nền
văn hoá lạ. Trong văn hoá của ta có rất nhiều hình bóng của văn hoá Ấn Độ, Trung
Quốc, Pháp... nhưng dẫu sao họ vẫn chỉ là khách kể cả khi khách thân gia chủ đến mức
xuống bếp trông hộ nồi xôi! Khách dẫu có sang đến đâu, "nhập gia" cứ phải là "tuỳ
tục". Cho nên thơ Đường trang trọng hia mũ đến mấy, về tay "Bà chúa thơ Nôm" lập
tức mang dáng vẻ rất "hề gậy": "Một đèo, một đèo, lại một đèo. Khen ai khéo tác cảnh
treo leo" Rõ là Ba Đội. "Đến nước Lào thì phải ăn mắm ngóe".
Triết lý trong tục ngữ, ca dao rất thông minh trong biết đủ biết dừng, đôi khi dừng rất
hóm. Một trong những nguyên tắc của thẩm mỹ là biết dừng. Có thể gọi đó là một triết
lý trong nghệ thuật hay là nghệ thuật... trong triết lý. Lột ra bằng hết thì còn hay hớm gì.
Cho nên nói: "Người xinh cái nết cũng xinh. Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn”.
Là một lối nói thật hay, thật đủ. Cuộc đời vốn như vậy, khép mở, riêng chung… Cái
“tỉnh tình tinh” là cái gì? Xin đừng biến nó thành một đề tài nghiên cứu khoa học. Nó là
cái gì mà anh có thể nói chỉ riêng anh thôi, cảm nhận theo cách của anh, khác với lối
cảm nhận ở người khác. Tại sao, lại bảo nó giòn, cũng thế. Không ai biến được nó
thành một món nhắm rượu. Cho nên nó cứ là một ẩn số, nhờ thế mà nó làm linh mãi
trên dòng đời của bao nhiêu thế hệ. Hiện thực không bị "vắt kiệt” thành một "bộ xương
khô" mà giữ lại một đầm đìa đời sống. Nó vừa là tài liệu, vừa là nguyên lý, nó vừa
Ldthieu sưu tầm 9
khuyến cáo, vừa khoan dung, hàm chứa các cách nghĩ cách cảm khác nhau, đôi khi đối
lập nhau. Hiểu nó và vận dụng nó là tuỳ cảnh huống của mỗi thời, mỗi nơi, mỗi người.
Bảo là "một giọt máu đào hơn ao nước lã” , "máu chảy đến đâu nuôi bầu đến đấy" thì
đã đành, nhưng "bán anh em xa mua láng giềng gần" hay "người dưng có ngãi ta đãi
người dưng, anh em không ngãi ta đừng anh em" thì cũng rất thuyết phục. Rằng "một

nhiên lẫn con người: "Lá rụng về cội”, "Cóc chết ba năm quay đầu về núi” là mối liên
hệ với cội nguồn trong đời sống nhân tính: "Anh em như chân tay. Vợ chồng như áo cởi
ngay vứt liền", là một ứng xử của người chồng trước một cuộc cãi lộn chị dâu em
chồng...
Chúng ta sẽ lần lượt đi từng ô, trong cả một vườn hoa mênh mông, cả về chủng loại
hoa, lẫn độ lớn của khu vườn vô giá này.
Ldthieu sưu tầm 10
Tiến tới một triết học về hợp tác vì sự giải phóng con người
Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult
Vượt thời gian là một khả năng tuyệt vời của nhận thức. Khả năng vượt thời gian cho
phép người ta có thể truy đuổi, suy ngẫm về tương lai, hay ít nhất là chuẩn bị tiền đề
tâm lý để đi đến với nó. Và ngay cả những người hôm nay đã tìm ra công nghệ để đi
đến tương lai, nếu trong quá trình tiến đến tương lai tiếp theo, tương lai cấp hai, vẫn
khư khư giữ lấy bản đồ án của tương lai thứ nhất thì cũng sẽ trở thành kẻ bảo thủ trong
giai đoạn thứ hai này. Cơ sở của công nghệ đi đến tương lai là tư duy không ngừng, lựa
chọn không ngừng và loại bỏ không ngừng.
Nhưng tôi không nghĩ rằng phương thức đi đến tương lai chỉ được hình thành trong
tương lai. Phương thức đi đến tương lai phụ thuộc vào trí tưởng tượng và năng lực nhận
thức của con người hôm nay. Vì thế, văn hoá là nền tảng của mọi kế hoạch phát triển.
Văn hoá là quy trình của ứng xử, là tiêu chuẩn của ứng xử. Trong đó, nhận thức cũng là
một trong các loại ứng xử. Trong cuộc sống người ta chỉ thể hiện hành vi của mình
thông qua hành vi. Thông điệp của tôi trong quyển sách thật ra rất giản dị: Văn hoá
chính là con người, nghiên cứu văn hoá là nghiên cứu tiêu chuẩn của con người. Các
tiêu chuẩn của cuộc sống hôm nay được hình thành trong quá khứ nhưng con người
phải xây dựng cả các giá trị cho tương lai. Vì vậy, chúng ta xây dựng cuộc sống hôm
nay như thế nào để cho ngày mai con cháu của chúng ta có thành tựu để tổng kết.
Lịch sử phát triển của nhân loại nói chung và của các quốc gia nói riêng không có tính
liên tục về mặt văn hoá. Chúng ta đã từng có một hệ tư tưởng đầy sức sống trong điều
kiện chiến tranh, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh vừa qua. Đó là triết học của các
mặt đối kháng. Nhưng trong thời bình người ta không thể tạo ra chiến tranh để có triết

tối thiểu, để họ có những năng lực sáng tạo tự do hơn.
Một trong những thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ XX là sự giải phóng về mặt chính trị
của các dân tộc. Cho đến nay đại bộ phận các quốc gia đã giành được độc lập dân tộc.
Nhưng đại bộ phận những quốc gia độc lập mới này đang vấp phải một vấn đề còn nan
giải hơn gấp bội: họ luẩn quẩn trong đói nghèo và không tìm được con đường phát
triển.
Vấn đề là ở chỗ giải phóng dân tộc không đồng nghĩa với giải phóng về mặt chính trị.
Một quốc gia được giải phóng về mặt chính trị chỉ khi nào nhân dân của nó được giải
phóng về mặt chính trị. Nếu nhân dân không được giải phóng thì quốc gia được giải
phóng hay không giải phóng là vô ích. Khi đó, những quốc gia được giải phóng khỏi
chủ nghĩa thực dân lại rơi vào sự cầm tù của những định kiến chính trị. Và sự phát triển
chỉ có thể có chừng nào nhân dân được giải phóng. Mọi sự phát triển đều bắt nguồn từ
sự giải phóng nhân dân, giải phóng nguồn năng lực của con người. Còn hơn thế nữa,
chúng ta có thể nói rằng phát triển, đó là sự giải phóng các năng lực của con người.
Đó là con đường duy nhất để các dân tộc tiến lên.
Mấy suy nghĩ về việc xác định bản chất của thế giới quan
Nguyễn Huy Hoàng
Tạp chí Triết học
Ngày nay, dưới sự tác động của các quá trình dân chủ hoá, nhân đạo hoá, tin học hoá
và toàn cầu hoá, việc xác định tình trạng hiện thời của đời sống xã hội và vạch ra con
đường phát triển của nó trong tương lai không chỉ là công việc riêng của các nhà lãnh
đạo, các chính trị gia, mà còn cuốn hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp đại
chúng. Trong khung cảnh như thế, việc xác định, xây đựng và phổ biến một thế giới
quan khoa học và cách mạng sẽ mang lại một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chỉ với một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status