Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
Công thương Hoàn Kiếm.
2.1. Xu hướng cho vay tiêu dùng ở Việt Nam:
2.1.1. Môi trường cạnh tranh và cấu trúc ngành ngân hàng tại Việt Nam
Tác động mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân
hàng đưa đến cạnh tranh mạnh mẽ hơn, không chỉ giữa các tổ chức tín dụng
(TCTD) trong nước và các TCTD nước ngoài mà ngay giữa các TCTD với nhau.
Các TCTD nước ngoài về cơ bản sẽ theo đuổi chiến lược cạnh tranh về chất lượng
dịch vụ và dịch vụ ngân hàng mới thay vì cạnh tranh bằng giá với các TCTD Việt
Nam. Chính sự thay đổi này đã dẫn đến cấu trúc của ngành ngân hàng đã thay đổi
trong năm vừa qua:
- Thị phần (huy động vốn và cho vay) của các NHTMNN mặc dù vẫn giữ thị
phần chi phối khoảng 70% trong hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2006, song
thị phần của khối NHTMNN đã giảm gần 10% so với năm 2000 và chủ yếu bị
giành bởi khối NHTMCP.
- Trong khi đó, nhóm các ngân hàng nước ngoài chiếm tỷ trọng hơn 12% thị
phần tín dụng.
( Nguồn : Ngân hàng nhà nước)
Vậy tại sao lại vậy? Đó có phải thể hiện xu hướng trong cấu trúc ngành ngân
hàng trong thời gian tới? Để trả lời ta đi vào phân tích:
Thứ nhất, hiện nay các NHTMNN là nhóm ngân hàng chiếm
thị phần huy động vốn và cho vay lớn nhất trong hệ thống NHVN là do yếu tố lịch
sử và vừa qua nhóm ngân hàng này đã có được sự cải thiện về năng lực tài chính
( tăng vốn điều lệ, nâng cao chất lượng tài sản có), hiện đại hóa công nghệ và mở
rộng mạng lưới kênh phân phối. Nhìn chung, các NHTMNN có những lợi thế cạnh
tranh quan trọng như khả năng cung cấp dịch vụ với mức chênh lệch lãi suất thấp,
có mạng lưới phát triển rộng khắp, chưa phải tuân thủ các qui định về an toàn vốn
và được Chính phủ bảo đảm hoàn toàn về khả năng thanh toán.Vì vậy, mặc dù giữ
vai trò chi phối trong hệ thống ngân hàng nhưng chính những yếu kém về quản trị
điều hành, chất lượng tài sản, hiệu quả kinh doanh, quản lý chi phí và mức độ an
toàn đã khiến các ngân hàng thương mại trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn
sách phân biệt đối xử (ưu đãi) các NHTMNN và buộc tất cả các loại hình TCTD
phải hoạt động trên cơ sở thương mại và trên một sân chơi bình đẳng. Nói tóm lại,
gia nhập WTO mới chỉ là điều kiện cần và chính sách cải cách bên trong mà trọng
tâm là qui chế tạo sân chơi bình đẳng và cơ cấu lại hệ thống NHTMNN là điều
kiện đủ để xây dựng một hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, bình đẳng và
mang tính cạnh tranh cao hơn.
Vậy cấu trúc ngành ngân hàng được dự báo như thế nào? Để trả lời câu hỏi
này ta xem một nhóm các chuyên gia nước ngoài thực hiện năm 2005 để dự báo về
cấu trúc ngành ngân hàng đến năm 2020 thông qua bảng sau
Bảng 2.1: Dự báo về cấu trúc ngành ngân hàng đến năm 2020.
Thị phần
Kịch bản 1: Cải
cách hạn chế các
NHTMNN
Kịch bản 2: Cải
cách toàn diện các
NHTMNN
Kịch bản 3: Tư nhân hóa
nhanh chóng và toàn diện
các NHTMNN
NHTMNN 59% 35% 0%
NHTMCP 27% 45% 50%
NH nước ngoài 14% 20% 50%
100% 100% 100%
(Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 1 – tháng 1- năm 2007 ( trang 23))
Cũng theo kết quả điều tra của nhóm tư vấn trên đến năm 2010 thì thị phần của các
NHTMNN dự kiến 40-50%, NHTMCP khoảng 30% và phần còn lại thuộc về các
ngân hàng nước ngoài và liên doanh. (Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 1 – tháng 1-
năm 2007 ( trang 23)).
Như vậy, cường độ cạnh tranh trong ngành Ngân hàng thời gian tới sẽ ngày
lệ hộ gia đình có thu nhập trên 3 triệu đồng một tháng ở khu vực thành thị tại 36
thành phố lớn trong cả nước đã tăng từ 36% năm 2002 sẽ tăng > 50% vào năm
2007. Đồng thời mức chi tiêu của các hộ gia đình cũng tăng theo, nếu như cách đây
khoảng 3 năm, tỷ lệ hộ gia đình có mức chi tiêu hàng tháng trên 1 triệu đồng là
15,9% thì hiện nay đã tăng lên 40%. Như vậy, có thể thấy tiềm năng về lĩnh vực
cho vay tiêu dùng là rất rộng lớn, đang mở ra cho hoạt động của các ngân hàng
thương mại. Thời gian tới các ngân hàng cần đẩy mạnh lĩnh vực tín dụng tiêu dùng
để thực hiện chiến lược đa dạng hoá hoạt động ngân hàng, phân tán rủi ro, kích
thích nền sản suất trong nước phát triển và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần
xoá đói giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội. Trước mắt, cần tập trung đầu tư vào
một số lĩnh vực:
Một là, cho vay mua, xây dựng và sửa chữa lớn nhà ở: Do đặc điểm của người á
đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, việc mua đất, xây hoặc sửa chữa nhà là
công việc trọng đại trong đời người. Do vậy, để chuẩn bị làm các việc trên họ cần
một khoảng thời gian nhất định có thể hàng chục năm để tích luỹ nguồn tài chính
và các điều kiện khác, trường hợp nếu họ còn thiếu nguồn tài chính thì chủ yếu là
vay của người thân hoặc bạn bè rất ít vay tiền từ ngân hàng. Vần đề này xuất phát
từ thói quen ngại vay mượn của người Việt Nam, song cũng một phần do thị
trường tài chính chưa phát triển đã làm hạn chế mục đích vay tiền của nhân dân.
Trong 5 năm trở lại đây, các dịch vụ tiện ích của ngân hàng đã phát triển với tốc độ
khá cao, đã tạo điều kiện cho người dân rễ ràng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn
từ ngân hàng để hoạt động sản suất kinh doanh cũng như nhu cầu cải thiện cuộc
sống. Các ngân hàng đang hướng tới cung cấp dịch bán lẻ để đáp ứng nhu cầu của
cá nhân và các hộ gia đình. Trong đó việc cho vay với mục đích mua, xây dựng
hoặc sửa chữa lớn nhà ở đã có rất nhiều ngân hàng triển khai thực hiện như ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (AgriBank), ngân hàng phát
triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB), ngân hàng thương mại cổ phần á
Châu (ACB), ngân hàng Nhà Hà Nội (HabuBank), ngân hàng Nhà TP HCM
(HHB), ngân hàng Sài Gòn Thương tín (SacomBank), ngân hàng kỹ thương
(TechcomBank)…và một số ngân hàng thương mại lớn đang chuẩn bị bước vào
thương mại Việt Nam cần phải tận dụng triệt để các cơ hội, các điều kiện thuận lợi
để phát triển dịch vụ thẻ, đồng thời đẩy nhanh việc đổi mới công nghệ và nâng cao
chất lượng dịch vụ.
Ba là, cho vay tiêu dùng thông thường: Mặc dù nhu cầu tiêu dùng của người dân
là rất lớn như mua phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại, mua tiện nghi sinh hoạt để
cải thiện cuộc sống … nhưng thời gian qua mới chỉ có một vài ngân hàng thực hiện
cho vay phục vụ các nhu cầu này của người dân, song chỉ tập chung ở các thành
phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà Nẵng…và cũng chỉ
chủ yếu là cho vay đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước với mức vay
tương đối thấp so với nhu cầu (mặc dù vừa qua một số ngân hàng đã nâng mức vay
lên đến 30 triệu đồng không phải thế chấp tài sản, nhng số lượng người được cho
vay với mức này là rất ít) và thời hạn thường ngắn chủ yếu là từ 1 đến 3 năm, các
trường hợp được vay với thời hạn từ 5 năm trở lên không nhiều. Thực tế trong
những năm qua cho thấy, khi các ngân hàng thương mại tiến hành triển khai cho
vay tiêu dùng, số lượng khách hàng có nhu cầu đến ngân hàng để liên hệ vay đã
vượt mức dự đoán của các ngân hàng, hầu hết các ngân hàng đều quá tải. Song số
lượng khách hàng đó mới chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, các
đối tượng khách hàng khác hầu như chưa tiếp cận được với vốn ngân hàng, nhưng
đã vượt khả năng đáp ứng của ngân hàng. Qua đó cho thấy, tiềm năng để phát triển
loại hình tín dụng này là cực kỳ lớn, đang cần các ngân hàng có chiến lược và
chính sách cụ thể để đáp ứng với nhu cầu của nhân dân.
Như vậy, cạnh tranh mở rộng cho vay tiêu dùng là một vũ khí để các ngân hàng
thương mại trong thời gian tới nên sử dụng để chiếm lĩnh thị trường trước sự thâm
nhập ồ ạt của các TCTD theo lộ trình cam kết thực hiện khi vào WTO đồng thời để
phân tán rủi ro trong kinh doanh. Vì thế cho vay tiêu dùng là một xu hướng mà rất
nhiều NHTM sẽ theo đuổi trong thời gian tới.
2.2. Những quy định về cho vay tiêu dùng:
2.2.1. Điều kiện vay vốn:
a) Cho vay có bảo đảm:
- Những quy định chung:
o Công ty liên doanh với nước ngoài có vốn Nhà nước,