Đồ án tốt nghiệp
Thực trạng của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt
Nam
.
MỤC LỤC
Chương I. Những cơ sở lý luận chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1. Khái niệm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
2. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
3. Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
4. Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
5. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
6. Pháp luật chi phối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Chương II. Thực trạng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
I. Quá trình hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp
2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
3. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn
II. Tác động của các chính sách vĩ mô đến sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1. Tác động của chính sách thương mại
2. Tác động cảu chính sách tài chính tiền tệ
3. Tác động của chính sách đất đai
4. Tác động của chính sách công nghệ, giáo dục đào tạo
5. Tác động của chính sách hợp tác quốc tế về các doanh nghiệp vừa và nhỏ
III. Thực trạng và những tồn tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
1. Vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2. Tình hình thiết bị công nghệ
3. Trình độ nhân lực, lao động và quản lý
4. Tình hình và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về sản phẩm, thị
trường
CHƯƠNG I
khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong,
kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có
thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận.
Trong đó:
Số lao động: có thể lao động trung bỡnh trong danh sỏch, lao động thường xuyên,
lao động thực tế;
Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị
tài sản cũn lại;
Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu
hướng sử dụng chỉ số này).
Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Cũn
một số tiờu chớ khỏc thỡ tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước.
Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương
đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Trỡnh độ phát triển kinh tế của một nước: trỡnh độ phỏt triển càng cao thỡ trị số
cỏc tiờu chớ càng tăng lên. Ví dụ như một doanh nghiệp có 400 lao động ở Việt Nam
không được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng lại được tính là SME ở CHLB Đức. Ở
một số nước có trỡnh độ phát triển kinh tế thấp thỡ cỏc chỉ số về lao động, vốn để phân
loại doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thấp hơn so với các nước phát triển.
Tớnh chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao
động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện... Do
đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các SME giữa
các ngành với nhau. Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến
ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau. Ngoài ra có thể dùng khỏi niệm hệ số
ngành (I
b
) để so sánh đối chứng giữa các ngành khác nhau.
Vựng lónh thổ: do trỡnh độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô doanh
nghiệp cũng khác nhau. Do đó cần tính đến cả hệ số vùng (I
a
F(S
ba
) = I
b
* I
a
*S
a
/ I
d
Trong đó:
F(S
ba
): quy mụ một doanh nghiệp thuộc một ngành và trờn một lónh thổ cụ thể.
I
b
,I
a
,I
d
: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp;
S
a
: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.
Cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ cú vai trũ quan trọng trong nền kinh tế một quốc gia,
khu vực và toàn cầu. Cỏc ưu thế và nhược điểm của loại hỡnh doanh nghiệp này sẽ được
trỡnh bày dưới đây nhằm đem lại một cái nhỡn sõu vào bản chất của loại hỡnh này, cho
phộp ta định ra hướng đi rừ ràng trong việc xác định hướng phát triển cho loại hỡnh này.
3.Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ cú những lợi thế rừ ràng, đó là khả năng thoả món nhu
nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với chiến lược phát triển, đầu tư
đúng đắn,sử dụng hợp lý cỏc nguồn lực của mỡnh, cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt
được hiệu quả kinh tế - xó hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng
tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp có nhiều hạn chế.
- Khụng cú hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm. Số lượng lao động
trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá
mức rừ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó. Nếu xảy
ra xung đột, mâu thuẫn thỡ dễ dàn xếp.
4. Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cỏc hạn chế của loại hỡnh doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các hạn chế khách
quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của SMEs nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là
quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tỡnh trạng thiếu vốn trầm
trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung
cấp sản phẩm.
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các
công nghệ đũi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm
và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí quyết và
trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên
cứu và phát triển,... nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu
về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh.
- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trườngcác doanh nghiệp vừa và nhỏ
thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường.
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, SMEs gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng
quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt
Nhật Bản 55.2 38.8
(Albert Bery: Các hoạt động kinh doanh vừa và nhỏ dưới tác động của tự do hoá
thương mại và tỷ giá: kinh nghiệm của Canada và Mỹ Latinh, 1996)
b. Cung cấp cho xó hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng, số
lượng và chủng loại
Các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút một lượng lớn lao động và tài
nguyên của xó hội để sản xuất ra hàng hoá. Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các
công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và
chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn. Bên cạnh đó họ cũng
tiến vào nhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vỡ doanh thu từ đó quá nhỏ.
c. Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh
Một số những người có tài trong quản trị kinh doanh không muốn làm việc trong
các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng để tiện đường vùng vẫy. Các doanh nghiệp có
quy mô vừa và nhỏ rất thích hợp đối với họ trong việc thử sức của mỡnh. Bờn cạnh đó các
công ty tư nhân lớn nói chung đều xuất phát từ các công ty nhỏ đi lên. Tập đoàn Microsoft
của tỷ phú Bill Gates cũng do ông ta xây dựng dần lên. Ông ta vào lúc 20 tuổi vẫn cũn là
một người chưa có nhiều tài sản, bỏ học đại học để mở doanh nghiệp riêng của mỡnh.
Chưa đầy 30 năm sau đó trở thành người giàu nhất thế giới, là một điển hỡnh của người
làm giàu dựa vào năng lực của mỡnh.
Cỏc cụng ty nhỏ là cũn là nơi huấn luyện nguồn nhân lực cho các công ty lớn. Các
nhân viên sẽ học được những kỹ năng ban đầu về quản lý rất cần thiết, được công ty lớn
đánh giá cao như là:
Điều hành kinh doanh Quan hệ với khỏch hàng
Kiểm soỏt và quản lý nhõn viờn Quy định xuất nhập khẩu
Quản lý thời gian Công nghệ thông tin hiện đại
Điều hành văn phũng Các quy định về thuế
Hậu cần Hệ thống cung cấp và phõn phối
Bỏn hàng và tiếp thị Luật lệ cụng ty
Xỳc tiến sản phẩm và dịch vụ Bỏn hàng
Định giá và lợi nhuận Quan hệ với quan chức chớnh phủ
sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đói thớch hợp của chớnh quyền địa phương.
h. Giữ gỡn và phỏt huy cỏc ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dõn tộc
Trong quỏ trỡnh hiện đại hoá, công nghiệp hoá các ngành nghề truyền thống đang
đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt, giữa chế tạo sản phẩm thủ công với sản xuất dây
chuyền hàng loạt. Một ví dụ như: thợ đóng giày có thể đóng những đôi giày rất bền dùng
được hàng năm không hỏng . Nhưng trong thời hiện đại phải đối mặt với các xí nghiệp sản
xuất giày có sản phẩm không bền lắm, đổi mới theo mùa và giá rẻ hơn so với giày thủ
công. Một thợ thủ công hay vài người thỡ khụng thể đương đầu được với các doanh
nghiệp lớn đó. Muốn tồn tại được các thợ thủ công phải hợp nhau lại thành lập doanh
nghiệp, sau đó quảng cáo xa rộng để tỡm đến các khách hàng tiềm năng của các sản phẩm
thủ công. Trong xó hội luụn tồn tại nhu cầu đối với các sản phẩm truyền thống, vấn đề là
phải làm cho những khách hàng đó biết đến sản phẩm của mỡnh.
Loại hỡnh doanh nghiệp vừa và nhỏ cú thể núi là rất thích hợp cho sản xuất thủ
công. Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo.
Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghề này. Và đó cũng
là một điều cần phải xẩy ra trong thời đại công nghiệp.
Cụ thể hơn ta hóy hỡnh dung một cảnh như sau: một số thợ đóng giày hợp nhau lại
thành một doanh nghiệp. Trong thành phố địa phương của họ chỉ có một số nhỏ khách
hàng ưa thích loại giày đóng thủ công và sẵn sàng trả giá (dù là cao) để đi loại giầy này
cầu nhỏ. Doanh nghiệp đó đáp ứng được nhu cầu đó. Sau đó doanh nghiệp tiến hành
một chiến dịch quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên Internet. Sau
một thời gian các khách hàng có nhu cầu tương tự ở tại các thành phố khác trong cả nước
liên lạc đặt mua. Tiếp sau nữa là các khách hàng nước ngoài ưa thích kiểu dáng giày quảng
cáo trên Internet cũng liên lạc đặt mua. Bên cạnh đó các nghệ nhân cũng sử dụng thêm một
số công nghệ mới để hỗ trợ thêm cho việc chế tạo giày như là dùng máy tính để tạo hỡnh
sản phẩm trước,... Trong quá trỡnh phỏt triển đó họ tiếp cận và làm quen với các kỹ thuật
và công nghệ mới. Tuy khách hàng địa phương của họ không nhiều nhưng khách hàng trên
toàn cầu chiếm một lượng đủ để họ tồn tại được trước thách thức của những đôi giày hiện
đại giá rẻ rất mốt được sản xuất hàng loạt kia.
6. Phỏp luật chi phối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
qua việc đăng ký kinh doanh tự giỏc, hơn là
thông qua phê chuẩn và cấp phép của chính
phủ.
Luật Phỏ sản Doanh
nghiệp (1993)
Luật quy định cơ sở để đánh giá các doanh
nghiệp bị phá sản, các thủ tục yêu cầu và
tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Luật Thuế giá trị gia
tăng
Luật Thuế doanh
thu
Luật này xác định mức thuế giá trị gia tăng,
là mức thuế tính trên giá trị hàng hoá và
dịch vụ trong quỏ trỡnh sản xuất, lưu thông
và tiêu dùng.
Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp (1999)
Luật Thuế lợi tức Các đối tượng chịu thuế thu nhập của doanh
nghiệp được quy định bởi luật này là thu
nhập của tổ chức và cá nhân có hoạt động
sản xuất và kinh doanh. Tỷ lệ thuế thu nhập
của doanh nghiệp theo quy định của Luật là
32 % ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt.
Bộ luật Lao động
(1999), Nghị định
77/2000/NĐ-CP có
hiệu lực từ ngày 1-1-
2001
Bộ luật Lao động điều chỉnh các mối quan
sở, các xưởng sản xuất nhỏ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, các nghề thủ
công truyền thống. Các mặt hàng giai đoạn nay phần lớn vẫn ở dạng nguyên sơ nhưng
cũng đáp ứng được nhu cầu củ nhân dân trong hoàn cảnh rất đặc biệt của thời kỳ đô hộ,
thậm chí nhiều hàng còn được gửi đi triển lãm ở một số nước phương Tây thời bấy giờ.
Trong giai đoạn từ cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công và cả nước bước vào
giai đoạn kháng chiến chống pháp. Các DNVVN lúc này tồn tại cả ở vùng ta và vùng địch,
đáng chú ý là các DNVVN ở vùng căn cứ đã đóng góp vai trò đáng kể, vừa phục vụ nhu
cầu thời chiến của nhân dân, vừa đáp ứng nhu cầu hậu cần cho kháng chiến lâu dài.
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy, cả miền bắc bắt tay vào xây dựng lại đất
nước trên con đường xây dựng CNXH. Các DNVVN ra đời rất nhanh và nhiều trong giai
đoạn này, lúc này chịu sự chi phối của đường lối chính trị hình thức hợp tác xã, tổ hợp tác
kinh doanh được khuyến khích phát triển, còn các DNVVN dưới hình thức sở hữu tư nhân
thì bị loại trừ, trong khi đó loại hình DNVVN tư nhân ở miền Nam lúc đó lại rất phát triển.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 và đến trước đại hội VIII. Điểm đáng lưu ý
trong các DNVVN ở giai đoạn này là ở Miền nam, kinh tế tư nhân là hình thức bị kỳ thị
và các DNVVN dưới hình thức sở hữu tư nhân buộc phải quốc hữu hoá, DNVVN của tư
nhân bị cải tạo, xoá bỏ, không khuyến khích phát triển. Nếu muốn tồn tại thì phải tồn tại
dưới dạng khác như dưới hình thức hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, công tư hợp danh.
Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt nam năm 1986 thực sự là một bước ngoặt, Đại
hội VI đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thừa nhận
sự tồn tại lâu dài của các hình thức sử hữu khác nhau, thay đổi quan điểm với kinh tế tư
nhân, từ kỳ thị chuyển sang coi trọng. Chủ trương này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng
loạt cơ sở sản xuất tư nhân, cá thể, hộ gia đình kinh doanh ngành công nghiệp, dịch vụ,
thương mại ra đời và phát triển.
Bên cạnh đó, từ năm 1986 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp
quy, quy định chế độ chính sách đối với hộ gia đình, hộ cá thể, doanh nghiệp tư nhân, hợp
tác xã, doanh nghiệp Nhà nước. Đáng chú ý là Nghị quyết 16 của Bộ chính trị Đảng cộng
sản Việt Nam (1988); Nghị định 27, 28, 29 /HĐBT (1988) về kinh tế cá thể, kinh tế hợp
tác và hộ gia đình; Nghị định 66/HĐBT về nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định, Công
văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/98 về định hướng chiến lược và chính sách phát triển
năng quản lý Nhà nước về xúc tiến phát triển DNVVN; thành lập “Hội đồng khuyến khích
phát triển DNVVN” làm nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách
khuyến khích phát triển DNVVN; thành lập “Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật DNVVN” thuộc
các cơ quan, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhằm thực hiện các
chương trình trợ giúp một cách thiết thực và có hiệu quả; khuyến khích, tạo điều kiện để
các DNVVN tham gia các hiệp hội doanh nghiệp đã có và thành lập các hiệp hội, câu lạc
bộ doanh nghiệp, nhằm triển khai các hoạt động kể cả thu hút các nguồn lực từ nước ngoài
để trợ giúp một cách thiết thực, trực tiếp cho DNVVN , các dịch vụ về thông tin, tiếp thị
mở rộng thị trường, đào tạo, công nghệ... nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
DNVVN.
Trong thời kỳ từ đổi mới đến hiện nay, số lượng doanh nghiệp của các thành phần
kinh tế có sự biến động rất lớn. Trong khi số lượng DNVVN trong khu vực Nhà nước
giảm liên tục, thì số lượng DNVVN trong khu vực tư nhân trong công nghiệp (doanh
nghiệp và công ty) tăng nhanh, số lượng lao động trên tổng số, đóng góp cho GDP và tỷ
trọng trong tổng đầu tư xã hội cũng tăng nhanh (Xem bảng 5). Quan niệm về kinh tế tư
nhân cũng có nhiều đổi mới, không còn cái nhìn kỳ thị như trong giai đoạn bao cấp, với tư
tưởng giáo điều và tả khuynh, coi kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế tiêu cực, là tàn
dư của chế độ cũ, là bóc lột, ăn bám…, Đến nay, kinh tế tư nhân thực sự đã được coi là
“một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt nam”.
Các DNVVN ở Việt nam, mà đại diện tiêu biểu là khu vực kinh tế tư nhân và hộ cá
thể, đã trải qua 2 bước ngoặt tính từ giai đoạn đổi mới. Bước ngoặt thứ nhất có thể xem
như cởi trói cho doanh nghiệp là vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 khi nhà nước ban
hành Luật Đầu tư nước ngoài(1989), Luật khuyến khích đầu tư trong nước(1994), Luật
doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty(1990), tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời của nhiều loại
hình doanh nghiệp. Theo VCCI thì trong giai đoạn 1991-1999, mỗi năm nền kinh tế Việt
nam tăng thêm 3.388 doanh nghiệp.
Có thể xem xét tình hình tổng hợp của khu vực kinh tế tư nhân (đại diện cho các
DNVVN) qua một số các chỉ tiêu chính như số lượng các doanh nghiệp tư nhân, số lượng
và tỷ lệ lao động so với xã hội, mức đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GPP), đầu tư
phát triển mức độ đóng góp vào đầu tư phát triển cả nước trong vài năm gần đây theo
- Cỏc ngành khỏc DN 60.314 79.998 99.618 120.317 191.507
2.2 Hộ cỏ thể DN 3.510.835 3.271.120 3.381.035 3.557.922 3.802.057
- Cụng nghiệp DN 1.524.708 1.403.205 1.350.152 1.464.013 1.622.381
- Thương nghiệp dịch vụ DN 1.531.638 1.388.701 1.455.351 1.501.636 1.584.391
- Cỏc ngành khỏc DN 454.489 479.214 575.532 592.273 595.285
3. Tổng sản phẩm trong
nước (GDP)
- Tổng số toàn quốc
tỉ
đồng
272.036 313.623 361.017 399.943 444.140
Trong đó doanh nghiệp của
tư nhân và cá thể
tỉ
đồng
77.481 87.475 98.625 106.029 119.337
Tỷ lệ trong tổng GDP toàn
quốc
% 28,48 27,89 27,32 26,51 26,87
3.1 Doanh nghiệp
tỉ
đồng
19.602 21.920 25.304 27.975 31.733
- Cụng nghiệp
tỉ
đồng
4.609 5.278 6.367 7.179 8.626
- Thương nghiệp dịch vụ
tỉ
đồng
tỉ
đồng
31.542 35.894
Tỷ lệ trọng tổng số toàn xó % 24,05 24,31
hội
4.1 Doanh nghiệp của tư
nhân
tỉ
đồng
5.628 6.627
% Trong tổng số toàn xó hội % 4.29 4.49
4.2. Cỏ thể
tỉ
đồng
25.914 29.267
Tỷ lệ trong tổng số toàn xó
hội
% 19,76 19,82
Nguồn: Tổng cục Thống kờ
Bước ngoặt thứ hai bắt đầu kể từ khi Luật doanh nghiệp được ban hành
vào1/1/2000. Trong vòng một năm kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực có 14.417
doanh nghiệp mới được thành lập với tổng vốn đăng ký đến hơn 24.000 tỷ (tương đương
với 1,65 tỷ USD, trong đó 17.000 là vốn đăng ký mới và 7000 là vốn đăng ký bổ sung của
các doanh nghiệp đang hoạt động, tức là tăng hơn ba lần nếu xét về số lượng doanh nghiệp
và hộ kinh doanh, và tăng hơn năm lần nếu xét về số vốn so với năm 1999. Năm 2001, có
thêm hơn 21.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp, tăng 1,46 lần
so với năm 2000, tổng số vốn huy động được của các doanh nghiệp đạt khoảng 35.000,
tăng gấp 1,78 lần so với cùng kỳ năm 2000. Có thể thấy tình hình năm 2001 như sau:
Bảng : Tổng hợp số doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân dến
năm 2001
1. DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp
Từ sau năm 1986, do các chính sách khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh trong
lĩnh vực công nghiệp ra đời, các DNVVN lúc này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
như công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, kinh tế hộ gia đình, kinh tế
quốc doanh. Số lượng DNVVN cũng tăng dần.
Về cơ cấu phân bố theo vùng: Các DNVVN chủ yếu tập trung ỏ Miền Nam Việt
nam (81%), Số DNVVN tập trung ở miền Bắc chỉ chiếm 12,6% tổng số các DNVVN trong
công nghiệp.
Về ngành nghề kinh doanh: Các DNVVN trong công nghiệp tồn tại ở 4 nhóm
ngành chính sau là
+ Nhóm ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống: ngành này trong thời gian qua đã
có những thay đổi mạnh mẽ, các giá trị công nghiệp và văn hóa đã hình thành, những mặt
hàng của ngành này đã trở thành một trong các mặt hàng có thế mạnh của Việt nam. Tuy
nhiên do góc độ truyền thống và văn hóa, sự hội nhập của nhóm ngành này hạn chế bởi
tính chất manh mún, quy mô nhỏ, khác biệt văn hóa, cho nên thị trường xuất khẩu rất khó
khăn đòi hỏi phải tìm được những phân đoạn thị trường ngách.
+ Nhóm ngành khai thác và sản xuất sản phẩm thô: như khoáng sản, hải sản, lâm
sản. Trong những năm qua, sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung, DNVVN nói
riêng vẫn dựa rất lớn vào nhóm ngành này-đây là thực trạng cần được đánh giá và điều
chỉnh để hình thành chiến lược cơ cấu ngành bảo đảm hiệu quả cao của quá trình hội nhập.
Việc tham gia hội nhập bằng tài nguyên khai thác một mặt đạt hiệu quả kinh tế - xã hội
thấp, mặt khác còn làm cho nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên không tái tạo bị suy kiệt,
ảnh hởng nghiêm trọng cân bằng sinh thái.
+ Nhóm ngành chế biến, lắp ráp: mặc dù mang lại ý nghĩa xã hội trong việc tạo ra
nhiều chỗ làm việc song giá trị thụ hưởng chủ yếu mới chỉ dừng lại ở giá trị gia công (phải
mua nhiều yếu tố đầu vào từ bên ngoài). Từ đó, tác dụng tích lũy, thúc đẩy nền kinh tế hạn
chế. Đặc biệt sẽ chịu nhiều rủi ro của các biến động tiền tệ của khu vực và quốc tế.
+ Nhóm ngành chế tạo sản phẩm kỹ thuật cao: (máy móc, điện tử, hóa chất, thiết
bị đo lường, động cơ...) có thể coi là mới bắt đầu. Hiện tại nhóm ngành này còn phụ thuộc
nhiều vào đầu tư tài chính, công nghệ kỹ thuật và trình độ quản lý của nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn nước
ngoài
47.948,0 5% 2.397,4
Tổng 150.684,6 31% 46.712,04
Nguồn: Giải pháp phát triển các DNVVN tại Việt nam-GS-TS Nguyễn Đình Hương
chủ biên-NXB chính trị quốc gia.
Trong 8 tháng đầu năm nay(năm 2002), tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp
của khu vực ngoài quốc doanh đạt 19,2% so cùng kỳ năm trước (tốc độ tăng trởng công
nghiệp chung đạt 14,5%) so với mức chung14%, khu vực nhà nước là 11,7%, khu vực
nước ngoài tăng 13,1%. Có thể thấy tình hình đóng góp của các DNVVN qua tình hình
đóng góp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 8 tháng đầu năm 2002 như sau:
Bảng : Đóng góp của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vào mức tăng sản lượng công
nghiệp 8 tháng đầu năm 2002
Thực hiện (Tỷ đồng)
Thỏng
8/2002 so
với thỏng
8/2001
8 tháng đầu
năm 2002
so với cùng
kỳ 2001
(%)
7 tháng đầu
năm 2002
ước tính
tháng 8/2002
Cộng dồn 8
tháng đầu
năm 2002
cạnh tranh với cả doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế.Thêm vào đó là khả năng tiếp cận thị
trường chưa cao, chất lượng sản phẩm hạn chế .
Chính phủ cũng không ngừng có những bước tiến tích cực trong việc tiếp thu
những kinh nghiệm quý báu từ bên ngoài nói chung và từ các quốc gia đang phát triển nói
riêng. Hoạt động hợp tác cùng phát triển, chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt nam và các nước
không ngừng được tăng cường và củng cố. Việt nam hiện đã có nhiều quan hệ với các
nước về phát triển lĩnh vực DNVVN, đáng kể trong số đó là Italia, Đức, Nhật…Ngày
22/5/2000, tại Hà nội đã diễn ra “Hội thảo DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp - kinh
nghiệm của Italia và Việt nam” do Bộ Công nghiệp, Văn phòng đại diện của UNIDO và
Đại sứ quán Italia tổ chức, qua đó phía Italia cũng chia sẽ với Việt nam những kinh
nghiệm quý báu của mình trong việc phát triển DNVVN. Ngày 6/12/2000 cũng tại Hà Nội,
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp với Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức
(ZDH) của Cộng hòa Liên bang Đức tổ chức hội thảo" Hợp tác giữa Chính phủ và
doanh nghiệp nhằm hỗ trợ phát triển DNVVN"
Bên cạnh đó có dự án hỗ trợ kỹ thuật cho các DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp
sản xuất đá ốp lát đã triển khai ngày 4/12/2000 do Trung tâm xúc tiến hợp tác quốc tế
(ICPC), Liên minh các hợp tác xã Việt nam, Liên minh Châu Âu và Liên đoàn thủ công
nghiệp và dịch vụ Italia (Confartigianato) cùng phối hợp thực hiện. Dự án có nguồn vốn
140.000 EURO trong đó phía EU tài trợ 80%, mục tiêu của dự án này là nhằm tạo ra một
liên hiệp xuất khẩu cho các DNVVN trong lĩnh vực đá ốp lát của Việt nam.Qua dự án này,
các DNVVN sẽ nắm bắt được những thông tin cần thiết về hoạt động xuất nhập khẩu, kỹ
năng sản xuất và cung cách làm ăn của các nước EU, mở ra hướng mới cho xuất khẩu của
Việt nam sang EU.
2. DNVVN trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.
Ngành thương mại dịch vụ, với những lợi thế riêng của nó như vốn đầu tư ít, khả
năng thu hồi vốn nhanh, mức lợi nhuận hấp dẫn, thị trường đa dạng...đã và đang thu hút
được một số lượng không nhỏ các DNVVN.
Về vốn: Với đặc trưng là thị trường cung ứng vốn chủ yếu là thị trường tài chính
phi chính thức, các chủ doanh nghiệp sử dụng vốn tự có, hoặc vay mượn của ban bè, người
thân...nên các DNVVN gặp khó khăn rất nhiều trong vấn đề vốn. Các DNVVN trong dịch
90% tiêu thụ nội địa và 10% xuất khẩu.
Các DNVVN ở khu vực nông thôn với đại diện phổ biến là các doanh nghiệp hộ
gia đình và các doanh nghiệp tư nhân
Về vốn: Vốn bình quân rất thấp cả về tương đối và tuyệt đối so với các DNVVN
nói chung.Theo báo cáo của Viện bảo hộ lao động và các vấn đề xã hội - NXB Khoa học
và Kỹ thuật , Hà nội , 1998 thì :Với doanh nghiệp hộ gia đình vốn bình quân là 921 USD,
với doanh nghiệp tư nhân thì là 2.153 USD, vốn thấp không chỉ hiểu là như cầu về vốn ở
các DNVVN khu vực nông thôn thấp mà còn hiểu ở sự thiếu hỗ trợ tín dụng.
Về thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Thị trường chủ yếu được phân làm hai loại là
thị trường địa phương và thị trường ở các thành phố lớn.
Một điểm sáng trong quá trình phát triển các DNVVN ở nông thôn, nhằm bắt tay
vào tìm tiếng nói chung cho các DNVVN khu vực này, ngày 16/8/2002 tại Hà nội, Đại hội
thành lập “ Hiệp hội các DNVVN khu vực nông thôn Việt nam” do VCCI tổ chức đã khai
mạc với sự tham gia của hơn 100 DNVVN khu vực nông thôn. “Hiệp hội các DNVVN khu
vực nông thôn” ra đời nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát triển ngành nghề nông
thôn, hỗ trợ bảo vệ lẫn nhau, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, thông
tin kinh tế, thị trường, xúc tiến thương mại, đầu tư, thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại
trong nước và quốc tế, giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống, đầu tư thiết bị hiện
đại, đổi mới công nghệ nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, góp phần xoá đói giảm
nghèo, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Hiệp hội cũng đã thông qua
nhiệm kỳ 2002-2007, tập trung vào một số lĩnh vực phổ biến như thông tin kinh tế, trao
đổi góp ý về các cơ chế, chính sách, đào tạo và tư vấn, tổ chức phát triển DNVVN ở các
địa phương, tạo nhịp cầu giao thương phát triển.
II. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
CÁC DNVVN
Một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự tồn tại và phát triển của
các DNVVN là vấn đề cơ chế chính sách, môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của
các DNVVN. Dưới đây là những nét chính khái quát về ảnh hưởng của một số chính sách
vĩ mô đến hoạt động và phát triển của DNVVN Việt nam.
1. Tác động của chính sách thương mại